xi ABSTRACT Purpose – This study examined cognitive and personal characteristics, including perceived service value (PSV), absorptive capacity (AC), purpose in life (PL), and grit (GR), and their effects on student engagement (SE) and on the linkage between student engagement and quality of college life (QL). Design/methodology/approach – The data were collated from 1,435 students at five universities in Vietnam. CFA method was employed to test the estimation models, and SEM was adopted to check the study hypotheses. Findings – Among the hypotheses under consideration, six were accepted, and three rejected, including: PSV, AC, and GR positively affect SE; AC has a mixed moderating effect; PL generates a pure moderating effect on the relationship between PSV and SE; PL has no influence on SE; and QL is impacted by SE, but not by PSV and PL.
Further, the results demonstrated the difference in the association between AC and SE between two groups of full- and part-time students. The difference in QL was not detected between male and female students, but did exist between those in Ho Chi Minh City and Hanoi. Originality/Practical implications – The findings contributed to the existing literature on SE and QL. Managerial implications were proposed as regards Vietnam‟s higher education amid the stages of competition and integration.
Keywords: Student Engagement, Perceived Service Value, Absorptive Capacity, Purpose in Life, Grit, Quality of College Life 1 Chƣơng 1. Bối cảnh nghiên cứu Giáo dục đại học có vai trò quan trọng trong việc đào tạo và cung cấp nguồn nhân lực chất lƣợng cao, làm nền tảng hình thành, phát triển năng lực đổi mới sáng tạo nhằm phục vụ phát triển đất nƣớc và đóng góp vào tri thức nhân loại2. Trong nhiều thập kỷ qua, các tổ chức giáo dục đại học đã trải qua một quá trình mở rộng và chuyển đổi; đồng thời, phải đối mặt với một loạt thách thức, cả trong nƣớc và quốc tế (Chen, 2016; Dao & Thorpe, 2015; Koszembar-Wiklik, 2016). Bối cảnh và xu hƣớng của cách mạng công nghệ sẽ tiếp tục làm thay đổi giáo dục đại học sâu sắc.
Trƣờng đại học không còn là nơi độc quyền cung cấp tri thức nữa, mà giờ đây phải thực hiện vai trò của mình cao hơn, đó là truyền cảm hứng để ngƣời học có đƣợc thái độ học tập tốt, cũng nhƣ rèn luyện cho họ có khả năng tự đào tạo và tinh thần học tập suốt đời. Ở chiều ngƣợc lại, ngƣời học có rất nhiều sự lựa chọn cả về địa chỉ và phƣơng thức để trang bị kiến thức cho mình. Những thay đổi nhƣ vậy đã ảnh hƣởng đến cách các cơ sở giáo dục đại học vận hành và chúng đƣợc xem là động lực cho việc tiếp thị giáo dục đại học. Do đó, việc nâng cao chất lƣợng dịch vụ đào tạo, thu hút ngƣời học và các hoạt động marketing khác nhằm “chăm sóc” sinh viên nhƣ khách hàng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết.
Ở khía cạnh thực tiễn, theo số liệu công bố của Tổng cục Thống kê năm 2018 về dân số và lao động Việt Nam, số ngƣời ở độ tuổi lao động đang làm việc trong nền kinh tế chiếm tỷ lệ 57,3% trên tổng số dân. Tuy nhiên, số ngƣời đã qua đào tạo chỉ chiếm tỷ lệ 23,7% (trong đó trình độ đại học trở lên chiếm 9,6%), điều này cho thấy lực lƣợng lao động đƣợc đào tạo có chuyên môn còn khá “khiêm tốn” so với nhu cầu của thị trƣờng lao động. Theo Nguyễn Đình Bắc (2018), thực tế đã chỉ ra, tuy Việt Nam hiện đang ở trong thời kỳ cơ cấu “dân số vàng” nhƣng nguồn nhân lực của nƣớc ta, nhất là nguồn nhân lực chất lƣợng cao, đang thiếu hụt về số lƣợng, hạn chế về chất lƣợng và bất cập về cơ cấu. Vì sao có một số lƣợng lớn nhân 2 Vai trò của Giáo dục đại học, Tạp chí Forbes Việt Nam (trang 15-16, số 64, tháng 9/2018) 2 lực trong độ tuổi lao động lại không có chuyên môn để cung ứng cho thị trƣờng lao động? Vì họ không có điều kiện để đƣợc đào tạo? Hay là vì các cơ sở giáo dục đại học - địa chỉ cung cấp chính nguồn nhân lực có chuyên môn cao - không thu hút/tạo dựng/duy trì/nâng cao sự gắn kết của ngƣời học/khách hàng, làm cho họ không hứng thú cuộc sống ở đại học? Rõ ràng giáo dục đại học đóng vai trò cực kỳ quan trọng, bởi nơi đây trang bị cho sinh viên kiến thức, kỹ năng liên quan đến nghề nghiệp cũng nhƣ môi trƣờng rèn luyện và phát triển bản thân.
Và tấm bằng đại học đƣợc xem là một bảo chứng mở ra cơ hội nghề nghiệp và sự thăng tiến trong tƣơng lai của lực lƣợng trẻ. Tuy vẫn còn đang tranh luận liệu đại học có phải là con đƣờng duy nhất cho sự thành công trong tƣơng lai hay không nhƣng không thể phủ nhận rằng đại đa số học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông chọn con đƣờng học đại học là đích đến tiếp theo để học tập, theo đuổi đam mê nghề nghiệp và kỳ vọng về một tƣơng lai tốt đẹp. Dù vậy, theo số liệu từ Bộ Giáo dục và Đào tạo, trong giai đoạn từ năm 2013-2017, trung bình qua 4 năm học chỉ khoảng 66% số sinh viên tốt nghiệp so với số lƣợng tuyển mới. Nhƣ vậy, có khoảng 34% sinh viên không thể tốt nghiệp ra trƣờng; có thể điểm qua một vài trƣờng hợp cụ thể nhƣ Trƣờng Đại học Nông lâm TP.HCM năm học 2015-2016 đã ra quyết định dừng học 9463 sinh viên các hệ, bậc đào tạo do quy phạm quy chế học vụ lần 3; hay Trƣờng Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn (ĐHQG TP.HCM) vào tháng 3 năm 2016 đã buộc thôi học 214 4 sinh viên do không đạt đủ số tín chỉ tối thiểu, điểm trung bình kiểm tra không đạt theo quy định; hoặc Trƣờng Đại học Sƣ phạm kỹ thuật TP.HCM vừa buộc thôi học 4385 sinh viên vì vi phạm quy chế, quy định.
Ý nghĩa quan trọng của những con số này rất cần đƣợc các nhà quản lý giáo dục lƣu ý, bởi có nhiều nguyên nhân khác nhau dẫn đến sinh viên thất bại trong việc sở hữu tấm bằng đại học, mà một trong số đó là thuộc về chủ quan của sinh viên (nhƣ thiếu tham gia tích cực vào quá trình học tập dẫn đến tâm lý chán nản, kết quả kém) hay thuộc về trách nhiệm của nhà 3 Báo news.vn, ngày 25/6/2016, “ĐH Nông Lâm TP.HCM buộc thôi học gần 1.vn, ngày 07/11/2017, “Sinh viên đại học liên tục rơi rụng” 5 Báo nld.vn, ngày 09/10/2018, “Vì sao hàng trăm sinh viên ĐH Sư phạm Kỹ thuật TP.HCM bị đuổi học?” 3 trƣờng (chƣa thật sự cung cấp cho các em một môi trƣờng giáo dục truyền cảm hứng). Việc sinh viên “rơi rụng” hay phải kéo dài quá trình đào tạo không chỉ dẫn đến gánh nặng tâm lý lâu dài cũng nhƣ đánh mất cơ hội nghề nghiệp trong tƣơng lai cho bản thân họ, mà còn ảnh hƣởng đến chất lƣợng lao động nói chung của nền kinh tế của Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa nhƣ hiện nay. Mặt khác, xét ở góc độ từ trƣờng đại học, việc sinh viên học tập thiếu tích cực hay thôi học không đơn thuần dừng lại ở khía cạnh tài chính, mà quan trọng hơn còn chứa đựng nhiều nguy cơ/hệ lụy khi trƣờng đại học chƣa thật sự vận hành nhƣ một ngành dịch vụ. Bởi lẽ, thời gian qua những thay đổi lớn trong chính sách, quản trị, cấu trúc và tình trạng giáo dục đại học đã đƣợc thực hiện khắp nơi trên thế giới.
Thay đổi môi trƣờng và sự cạnh tranh gia tăng trong giáo dục đại học là phổ biến đối với hầu hết các nƣớc; những thay đổi này có ảnh hƣởng đến cách các cơ sở giáo dục đại học vận hành ngày nay và chúng đƣợc xem là động lực cho việc tiếp thị giáo dục đại học (Maringe 2006; Nicolescu, 2009). Bên cạnh đó, Oplatka và Hemsley-Brown (2012) cũng cho rằng nghiên cứu tiếp thị mối quan hệ [nghiên cứu nhằm nâng cao sự gắn kết của khách hàng đối với tổ chức dịch vụ] phù hợp hơn cho tổ chức dịch vụ nói chung và trƣờng học nói riêng, đang có nhu cầu ngày càng lớn. Ở khía cạnh lý thuyết, hầu hết các tài liệu học thuật về hoạt động marketing trong giáo dục đại học tập trung vào quá trình lựa chọn và các yếu tố tác động đến việc chọn trƣờng học (Agrey & Lampadan, 2014; Cookson, 1995; Fang & Wang, 2014; Foskett & Hemsley-Brown, 2002; Gorard, 1999; Henriques và cộng sự, 2018; Kusumawati và cộng sự, 2019; Powers & Cookson, 1999), hay ảnh hƣởng của quyết định thuộc về bố mẹ (Arshad và cộng sự, 2016; Ball, 1994; Gewirtz và cộng sự, 1995; Kumar, 2016; Lauder & Hughes, 1999; Wahid và cộng sự, 2018; Watson và cộng sự, 2016); trong khi những phản ứng của trƣờng đối với nguồn lực mang tính thị trƣờng ít nhận đƣợc sự chú ý hơn trong lý thuyết quản lý giáo dục (Oplatka & Hemsley-Brown, 2012). Ngoài ra, những nghiên cứu khẳng định vai trò của truyền thông xã hội đối với hoạt động marketing giáo dục đại học cũng đƣợc tìm thấy nhiều trong bối cảnh bùng nổ công nghệ nhƣ hiện nay (Agostino & Arnaboldi, 4 2017; Galan và cộng sự, 2015; Peruta & Shields, 2018; Richardson và cộng sự, 2018; Taecharungroj, 2017).
Trong khi đó, nghiên cứu sự gắn kết của sinh viên ở trƣờng nhằm gia tăng sự hài lòng và hạnh phúc của ngƣời học [chất lƣợng cuộc sống đại học] chƣa đƣợc tác giả tìm thấy nhiều. Thật vậy, trƣớc đây các nhà nghiên cứu chủ yếu xem xét sự gắn kết của học sinh ở các cấp bậc tiểu học, trung học cơ sở và phổ thông để chứng minh sự tác động của nó đối với kết quả học tập (Fredricks và cộng sự, 2005; Fredricks và cộng sự, 2004; Mo & Singh, 2008; Suárez-Orozco và cộng sự, 2009; Van Ryzin và cộng sự, 2009); hay góp phần giải thích tại sao học sinh bỏ học (Appleton và cộng sự, 2008; Archambault và cộng sự, 2009; Fall & Roberts, 2012; Finn, 1989; Finn & Owings, 2006). Trong khi đó, Kahu (2013) cho rằng sự gắn kết là khái niệm đa bậc, bản chất chính xác của khái niệm này vẫn còn đang tranh luận, chủ yếu là thiếu sự phân biệt giữa tiền tố/hậu tố và đƣợc phát triển theo nhiều hƣớng nghiên cứu khác nhau nhƣ: hành vi, tâm lý học, xã hội, và toàn diện. Nhƣ vậy, việc gắn kết của ngƣời học ở trƣờng là một chủ đề nghiên cứu hấp dẫn; nó dễ dàng ứng biến với những thay đổi của giảng viên, nhà trƣờng, và là mục tiêu vô cùng quan trọng đối với sự can thiệp cũng nhƣ nỗ lực cải thiện của nhà trƣờng trong vấn đề học tập đối với ngƣời học (Appleton và cộng sự, 2008; Council, 2003); từ đó, góp phần gia tăng sự hài lòng và hạnh phúc của ngƣời học, nói cách khác, giúp nâng cao chất lƣợng cuộc sống của họ ở trƣờng học.