Thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến sự thích ứng của sinh viên Đại học Kiểm sát Hà Nội

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến sự thích ứng của sinh viên trường đại học kiểm sát hà nội, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện

Trường đại học

Học viện Khoa học xã hội

Chuyên ngành

Xã hội học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2022

206
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. MỞ ĐẦU

1.1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1.1. Tình hình nghiên cứu ngoài nước

1.1.2. Về sự thích ứng của con người nói chung

1.1.3. Thích ứng với hoạt động học tập

1.1.4. Tình hình nghiên cứu trong nước

1.1.5. Về sự thích ứng nói chung

1.1.6. Sự thích ứng với môi trường học tập

1.1.7. Tiểu kết chương 1

2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

2.1. Thích ứng

2.2. Các yếu tố thích ứng

2.3. Khả năng thích ứng

2.4. Môi trường đại học

2.5. Hoạt động học tập

2.6. Thích ứng với hoạt động học tập của sinh viên

2.7. Tiếp cận lý thuyết của nghiên cứu

2.7.1. Lý thuyết thích ứng

2.7.2. Lý thuyết xã hội hoá

2.7.3. Lý thuyết mạng lưới xã hội

2.8. Giới thiệu về địa bàn nghiên cứu (Đại học Kiểm sát Hà Nội)

2.8.1. Môi trường học tập tại trường Đại học Kiểm sát Hà Nội

2.9. Tiểu kết chương 2

3. THỰC TRẠNG THÍCH ỨNG CỦA SINH VIÊN ĐẠI HỌC KIỂM SÁT HÀ NỘI

3.1. Sự thích ứng của sinh viên với hoạt động học tập

3.1.1. Thích ứng với phương pháp học đại học

3.1.2. Thích ứng với phương pháp học nhóm

3.2. Sự thích ứng với mạng lưới xã hội của sinh viên

3.2.1. Quan hệ với bạn bè

3.2.2. Quan hệ với giảng viên, cán bộ phòng ban

3.2.3. Quan hệ với các tổ chức, đoàn thể

3.2.4. Quan hệ của sinh viên qua mạng xã hội

3.3. Sự thích ứng của sinh viên với môi trường sống

3.3.1. Sự thích ứng với điều kiện sinh hoạt

3.3.2. Sự thích ứng với việc chi tiêu, ăn uống

3.4. Sự thích ứng của sinh viên với khuôn mẫu ứng xử

3.4.1. Thích ứng với chuẩn mực

3.5. Mức độ thích ứng của sinh viên

3.6. Tiểu kết chương 3

4. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI SỰ THÍCH ỨNG CỦA SINH VIÊN ĐẠI HỌC KIỂM SÁT HÀ NỘI

4.1. Từ phía sinh viên

4.1.1. Sức khoẻ thể chất, tinh thần của sinh viên

4.1.2. Động cơ, mục đích học tập và nhận thức của sinh viên

4.1.3. Kinh nghiệm và thời gian học tập

4.1.4. Yếu tố khu vực, vùng miền

4.2. Từ phía nhà trường

4.2.1. Văn hoá nhà trường

4.2.2. Tính chất ngành học

4.2.3. Yếu tố phương pháp dạy học của giảng viên

4.2.4. Yếu tố điều kiện cơ sở vật chất

4.3. Từ phía gia đình

4.3.1. Vai trò giáo dục

4.3.2. Điều kiện kinh tế

4.4. Mạng lưới xã hội

4.4.1. Mối quan hệ với bạn bè

4.4.2. Mối quan hệ với các tổ chức - đoàn thể

4.4.3. Mối quan hệ với người thân, họ hàng

4.4.4. Mối quan hệ với mạng xã hội

4.5. Tiểu kết chương 4

5. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Thực trạng thích ứng của sinh viên Đại học Kiểm sát Hà Nội

Sự thích ứng sinh viên tại Đại học Kiểm sát Hà Nội là một vấn đề quan trọng trong bối cảnh giáo dục hiện đại. Sinh viên phải đối mặt với nhiều thách thức trong việc chuyển tiếp từ môi trường học phổ thông sang môi trường đại học. Theo nghiên cứu, nhiều sinh viên gặp khó khăn trong việc thích ứng với điều kiện học tập mới, bao gồm phương pháp học tập và cách thức tương tác với giảng viên. Một khảo sát cho thấy, 60% sinh viên cảm thấy áp lực trong việc làm quen với phương pháp học tập mới. Điều này cho thấy sự cần thiết phải có các chương trình hỗ trợ sinh viên nhằm giúp họ vượt qua những khó khăn này. Ngoài ra, sự khó khăn của sinh viên cũng liên quan đến việc xây dựng mối quan hệ xã hội trong môi trường học tập. Nhiều sinh viên cho biết họ cảm thấy cô đơn và khó khăn trong việc kết nối với bạn bè và giảng viên.

1.1. Sự thích ứng với hoạt động học tập

Sự thích ứng với hoạt động học tập của sinh viên là một yếu tố quyết định đến thành công trong học tập. Nghiên cứu cho thấy, sinh viên cần phải làm quen với các phương pháp học tập mới, bao gồm học nhóm và tự học. Việc này không chỉ giúp sinh viên nâng cao kiến thức mà còn phát triển kỹ năng giao tiếp và làm việc nhóm. Một số sinh viên đã chia sẻ rằng họ cảm thấy khó khăn trong việc tìm kiếm tài liệu học tập và áp dụng kiến thức vào thực tiễn. Điều này cho thấy sự cần thiết của việc tổ chức các buổi hỗ trợ học tập và các hoạt động ngoại khóa để sinh viên có thể thực hành và áp dụng kiến thức một cách hiệu quả.

1.2. Sự thích ứng với môi trường sống

Môi trường sống cũng đóng vai trò quan trọng trong sự thích ứng của sinh viên. Nhiều sinh viên phải đối mặt với những thay đổi lớn trong điều kiện sinh hoạt, từ việc chi tiêu đến ăn uống. Một khảo sát cho thấy, 70% sinh viên cảm thấy khó khăn trong việc quản lý tài chính cá nhân. Điều này có thể dẫn đến những áp lực tâm lý và ảnh hưởng đến hiệu quả học tập. Để giải quyết vấn đề này, các trường cần cung cấp thông tin và hướng dẫn về quản lý tài chính cho sinh viên. Hơn nữa, việc tạo ra một môi trường sống thân thiện và hỗ trợ cũng rất cần thiết để sinh viên có thể dễ dàng thích ứng và phát triển.

II. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự thích ứng của sinh viên

Nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự thích ứng của sinh viên tại Đại học Kiểm sát Hà Nội. Đầu tiên, sức khỏe thể chất và tinh thần của sinh viên là yếu tố quan trọng. Sinh viên có sức khỏe tốt thường có khả năng thích ứng nhanh hơn với môi trường học tập. Thứ hai, động cơ và mục đích học tập cũng ảnh hưởng lớn đến khả năng thích ứng. Sinh viên có động lực học tập cao thường tìm kiếm các cơ hội để phát triển bản thân và dễ dàng vượt qua khó khăn. Cuối cùng, yếu tố từ phía gia đình cũng không thể bỏ qua. Sự hỗ trợ từ gia đình có thể giúp sinh viên cảm thấy tự tin hơn trong việc thích ứng với môi trường mới.

2.1. Yếu tố từ phía sinh viên

Yếu tố từ phía sinh viên bao gồm sức khỏe, động cơ học tập và kinh nghiệm trước đó. Sinh viên có sức khỏe tốt thường dễ dàng hơn trong việc thích ứng với môi trường học tập. Động cơ học tập cũng đóng vai trò quan trọng. Sinh viên có mục tiêu rõ ràng và động lực cao thường tìm kiếm các cơ hội học tập và phát triển bản thân. Kinh nghiệm học tập trước đó cũng ảnh hưởng đến khả năng thích ứng. Những sinh viên đã có kinh nghiệm học tập tốt thường dễ dàng hơn trong việc làm quen với phương pháp học tập mới.

2.2. Yếu tố từ phía nhà trường

Yếu tố từ phía nhà trường bao gồm văn hóa nhà trường, phương pháp giảng dạy và điều kiện cơ sở vật chất. Một môi trường học tập tích cực và hỗ trợ sẽ giúp sinh viên dễ dàng thích ứng hơn. Phương pháp giảng dạy của giảng viên cũng ảnh hưởng đến sự thích ứng của sinh viên. Nếu giảng viên sử dụng các phương pháp giảng dạy hiện đại và khuyến khích sinh viên tham gia, sinh viên sẽ cảm thấy thoải mái hơn trong việc học tập. Điều kiện cơ sở vật chất cũng rất quan trọng. Một môi trường học tập đầy đủ trang thiết bị sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho sinh viên trong quá trình học tập.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. TỒNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Sinh viên và sự thích ứng là một trong những chủ đề thu hút được nhiều sự quan tâm nghiên cứu của khoa học xã hội. Tuy nhiên, ở Chương này, nghiên cứu sinh xin giới hạn một số nghiên cứu có liên quan trực tiếp tới chủ đề của luận án để kế thừa những kinh nghiệm của các tác giả đi trước, và từ đó xác định rõ hướng nghiên cứu tiếp theo. Tình hình nghiên cứu ngoài nước 1.

Về sự thích ứng của con người nói chung Herbert Spencer nhà lý thuyết xã hội học Anh là người đầu tiên nghiên cứu về vấn đề thích ứng. Một nguyên lý cơ bản nhất của xã hội học là nguyên lý tiến hóa. Theo Spencer, xã hội loài người phát triển tuân theo quy luật tiến hóa từ xã hội có cơ cấu nhỏ, đơn giản, chuyên môn hóa thấp, không ổn định, dễ phân rã đến xã hội có cơ cấu lớn, phức tạp, chuyên môn hóa cao, liên kết bền vững và ổn định. Yếu tố quan trọng quyết định đến sự tồn tại và phát triển của con người chính là thích ứng với môi trường xã hội.

Theo ông, con người sống trong xã hội, giống như các loài vật trong môi trường tự nhiên, đấu tranh để tồn tại và chỉ những người thích hợp nhất với môi trường mới sống sót. Môi trường ở đây ta có thể hiểu theo hai môi trường: đó là môi trường sinh học và môi trường xã hội. Và sự thích ứng với môi trường nào cũng quan trọng, nhưng sự thích ứng với môi trường thứ hai hay còn gọi là môi trường xã hội là trọng tâm nghiên cứu của chuyên ngành xã hội học. Jean Piaget đưa ra sự thích ứng chính là sự cân bằng và được thực hiện bởi hai cơ chế đó là sự “đồng hóa” và “điều biến”.

Quan điểm của ông cho rằng, sự thích ứng sinh học là sự cân bằng giữa đồng hóa môi trường và cơ thể với môi trường, còn sự thích ứng tâm lý – xã hội được ông giải thích là sự thích ứng với một thực tế riêng biệt khi nó đã đạt tới sự đồng hóa thực tế đó 12 Luan van vào những hoàn cảnh mới do thực tế đặt ra [98]. Sự thích ứng đòi hỏi sự tác động qua lại giữa chủ thể và khách thể (giữa con người và môi trường), sao cho chủ thể có thể nhập vào khách thể mà vẫn tính đến những đặc điểm của mình. Theo cách đó, có thể hiểu: thích ứng là quá trình cá nhân vừa tiếp nhận những yếu tố từ môi trường, xã hội xung quanh, vừa điều chỉnh bản thân sao cho phù hợp với môi trường đó. Về các nghiên cứu về sự thích ứng với môi trường xã hội, có thể thấy các nghiên cứu tiêu biểu theo các hướng như sau: 1.

Thích ứng với môi trường văn hoá Môi trường văn hoá là một mảng lớn nghiên cứu về sự thích được rất nhiều các nhà khoa học quan tâm. Điều này hoàn toàn phù hợp với nhu cầu thực tiễn xã hội sau chiến tranh thế giới thứ hai là sự di cư của con người. Bên cạnh những tác động sự di cư đem lại khi con người di chuyển từ môi trường này tới môi trường khác là hàng loạt các vấn đề xã hội nảy sinh xuất phát từ nguyên nhân là sự thích ứng với nền văn hóa mới. Năm 1954, Kalervo Oberg, nhà nhân chủng học người Mỹ đưa ra khái niệm về “sốc văn hoá” (Cultural shock).

Theo ông, con người thường gặp phải Sốc văn hoá khi định cư hoặc di chuyển đến một vùng đất mới, một quốc gia mới, một môi trường xã hội mới. Lúc này, con người sẽ rơi vào trạng thái choáng ngợp, bồn chồn, lo lắng, bối rối…bởi họ phải tiếp thu với nhiều thông tin, tập tục mới, rào cản về mặt ngôn ngữ, khoảng cách thế hệ, kỹ năng, cảm giác nhớ nhà…Tất cả sẽ tạo nên những cảm xúc tiêu cực, khó khăn trong định hướng giá trị và mâu thuẫn nội tâm và cuộc sống mỗi cá nhân. [100] Sốc văn hoá sau đó được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu như P.Botrner…Mỗi người một phương pháp nghiên cứu và tiếp cận khác nhau về sốc văn hoá, nhưng họ đều đưa ra kết luận chung về sốc văn hoá là: sự bất an thường xuyên về chất lượng thực phẩm, nước uống, điều kiện vệ sinh, sợ tiếp xúc người khác, mất 13 Luan van ngủ, thiếu tự tin cho đến rối loạn tâm thể, thậm chí tự tử,…. Họ đều quan tâm nghiên cứu đến những khó khăn đối với sự thích ứng với nền văn hoá mới của những người nhập cư.Triandic, sốc văn hoá được gắn với đường cong của chữ U và quá trình thích ứng này theo 5 giai đoạn: 1) Trăng mật: say mê, khâm phục, nhiệt huyết của ngườ nhập cư và thái độ lịch sự, thân thiện bề ngoài của người bản địa 2) Khủng hoảng: khác biệt về ngôn ngữ, tư tưởng và giá trị, xuất hiện cảm giác không tương thích, hẫng hụt, bất an, không thân thiện 3) Khủng hoảng cao độ - sốc văn hoá: phát triển đến đỉnh điểm với những biểu hiện bệnh lý nghiêm trọng và trạng thái bất lực 4) Phục hồi: những nỗ lực của bản thân, cá nhân văn hoá bản địa 5) Thích ứng: cá nhân xâm nhập vào nền văn hoá mới và nhận được từ nó sự hài lòng mặc dù đôi khi vẫn cảm thấy bất an và căng thẳng.Carey nghiên cứu quá trình thích ứng của sinh viên nước ngoài với 150 phiếu phỏng vấn sinh viên người Châu Phi học tập ở Anh và nhận thấy ở sinh viên có nhiều cảm xúc hụt hẫng, ông phát hiện ra rằng sự không thích ứng với môi trường văn hoá mới làm cho sinh viên gặp nhiều khó khăn trong học tập và sinh hoạt.

Singh nghiên cứu về sự thích ứng của sinh viên Ấn Độ học tập tại Anh cho thấy có sự thích ứng khác nhau giữa các nhóm sinh viên. Sự thích ứng này phụ thuộc vào các yếu tố: địa vị xã hội, lứa tuổi, phẩm chất tâm lý cá nhân, loại trường và thời hạn cư trú của họ. [104] Năm 1970, nhà nghiên cứu người Mỹ Berry nghiên cứu về thích ứng văn hoá trong quá trình hội nhập từ góc độ tâm lý học. Tác giả đã chia ra làm bốn xu hướng thích ứng văn hoá: xu hướng đồng nhất hoá; xu hướng kết hợp; xu hướng bảo thủ giữ gìn và xu hướng tự do; [90] 14 Luan van 1.

Thích ứng với nghề nghiệp M.Volanmen đã nghiên cứu sự thích ứng nghề nghiệp của thanh niên Phần Lan trong học nghề, thay đổi nghề, thất nghiệp, làm việc tạm thời. Theo ông, đây là giai đoạn thể hiện sự thích ứng nghề của thanh niên. Kết quả nghiên cứu của ông cho thấy giữa việc học nghề và lao động nghề của thanh niên tồn tại một thời kỳ chuyển tiếp và khoảng thời kỳ này có thể kéo dài 5 – 7 năm, được đặc trưng bởi hàng loạt sự kiện thất nghiệp, những công việc tạm thời, thậm chí cả sự thay đổi nghề nghiệp. Volanmen xem đây là giai đoạn thích ứng nghề của thanh niên và tâm thế của họ đối với việc làm phụ thuộc vào việc ở giai đoạn này có diễn ra sự thích ứng nghề hay không.

Golomstooc đã định nghĩa rằng: “Sự thích nghi nghề nghiệp được thể hiện ở chỗ con người lĩnh hội và thực hiện lao động nghề nghiệp có hiệu quả. Đồng thời thể hiện tính chất thỏa mãn với công việc của mình”. Tác giả này cũng cho rằng: sự thích ứng là tổng hòa những đặc điểm cá thể bền vững, có nguồn gốc tự nhiên của nhân cách, đảm bảo cho lao động của con người được thổi phồng một cách quá mức, còn cơ sở xã hội thì hầu như không có ý nghĩa gì cả. Tác giả đã xem thích ứng là một quá trình nhận thức và điều này dựa trên nguyên tắc của lý thuyết hoạt động, sự phù hợp giữa 15 đặc điểm tâm sinh lý của con người với yêu cầu nghề nghiệp được hình thành, và đó chính là thể hiện sự thích ứng nghề nghiệp [2] Một nghiên cứu khác theo hướng này là nghiên cứu của Holland, ông tìm hiểu mối tương quan giữa tính cách và nghề nghiệp.

Ông cho rằng, sự tương thích về tính cách với nghề nghiệp sẽ giúp thanh niên thích ứng với nghề nhanh và hiệu quả hơn, giảm bớt những khó khăn mà họ gặp phải trong công việc. Một số nhà nghiên cứu Xô viết như Ph. Xmirrnop nghiên cứu khía cạnh sinh học, xã hội của quá trình thích ứng; [dẫn theo 18] 15 Luan van 1. Thích ứng với hoạt động học tập Chủ đề nghiên cứu với các hoạt động học tập được các tác giả nước ngoài tập trung nghiên cứu khá nhiều.

Bernard nghiên cứu về sự thích ứng với môi trường học tập. Ông cho rằng, để thích ứng với môi trường học tập thì cả người dạy lẫn người học phải có sự phối hợp chặt chẽ và ăn ý từ cả hai phía. [96] Các nhà nghiên cứu chỉ ra ảnh hưởng của động cơ, thái độ trước khi vào học của sinh viên đối với sự thích ứng học tập. Tất cả các sinh viên được chia thành ba nhóm: tích cực, bình thường và yếu ứng với ba loại động cơ, thái độ học tập.

Và số liệu đưa ra ở mỗi nhóm là khác nhau về chỉ số kết quả thích ứng học tập. Từ đó, họ đưa ra những giải pháp thúc đẩy nhanh quá trình thích ứng của sinh viên.K (1963), nghiên cứu sinh viên di cư Ấn Độ học tập tại Anh và thích ứng cũng là một trong ba vấn đề mà sinh viên gặp khó khăn. Tác giả kết luận “ Nghiên cứu cho thấy sẽ là sai lầm nếu cho rằng sinh viên Ấn Độ là nhóm ít phân hoá. Sự thích ứng của họ với các lĩnh vực khác nhau của cuộc sống như xã hội, cá nhân và học tập phụ thuộc vào nhiều yếu tố mà trước hết là địa vị xã hội, lứa tuổi, phẩm chất cá nhân, cấp học, loại trường và thời hạn cư trú”.[104] Năm 1968, một số tác giả người Nga như N.

Pavlov đã nêu ra các tiêu chuẩn sinh lý của sự thích ứng nghề nghiệp, nghiên cứu về cơ sở sinh lý của sự thích ứng ở học sinh với chế độ học tập và rèn luyện trong nhà trường. Trong nghiên cứu này, họ đã chỉ ra những phản ứng sinh lý và những biến đổi của các hệ số tương quan. Các tác giả trình bày khá sâu cơ sở sinh lí của sự thích ứng ở học sinh đối với chế độ học tập và rèn luyện trong nhà trường, những phản ứng sinh lí, những biến đổi của các hệ, các cơ quan, đặc biệt là hệ tuần hoàn và hệ thuần kinh được các tác giả quan tâm và chỉ ra những biến đổi rất cụ thể.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận án tiến sĩ mang tiêu đề "Thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến sự thích ứng của sinh viên Đại học Kiểm sát Hà Nội" của tác giả Phùng Thanh Thảo, dưới sự hướng dẫn của GS. Đặng Nguyên Anh, đã phân tích sâu sắc về tình hình và các yếu tố tác động đến khả năng thích ứng của sinh viên tại trường. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp cái nhìn tổng quan về những thách thức mà sinh viên phải đối mặt, mà còn chỉ ra các yếu tố như môi trường học tập, sự hỗ trợ từ gia đình và bạn bè, cũng như các chính sách của nhà trường có thể ảnh hưởng đến quá trình này. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin hữu ích để hiểu rõ hơn về sự thích ứng của sinh viên trong bối cảnh giáo dục hiện đại.

Nếu bạn quan tâm đến các khía cạnh pháp lý liên quan đến sinh viên và giáo dục, bạn có thể tham khảo thêm bài viết "Nghiên cứu luận văn thạc sĩ: Yếu tố thúc đẩy học tiếng Anh pháp luật tại Đại học Luật Hà Nội", nơi khám phá các yếu tố ảnh hưởng đến việc học tiếng Anh pháp luật của sinh viên. Bên cạnh đó, bài viết "Luận văn thạc sĩ về xử lý kỷ luật viên chức trong các trường đại học ở Việt Nam" cũng sẽ cung cấp cái nhìn về các quy định và thực tiễn liên quan đến kỷ luật trong môi trường giáo dục. Cuối cùng, bài viết "Thái độ của sinh viên Đại học Luật Hà Nội đối với việc tự học tiếng Anh pháp luật" sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về thái độ và động lực học tập của sinh viên trong lĩnh vực này. Những tài liệu này sẽ mở rộng kiến thức của bạn về các vấn đề liên quan đến sinh viên và giáo dục pháp luật.