Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ SỰ GẮN KẾT TRONG GIA ĐÌNH CÔNG NHÂN 1. HƯỚNG NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN GẮN KẾT VỢ CHỒNG CÔNG NHÂN Cơ sở gắn kết gia đình trong xã hội là kết quả của sự tác động tương hỗ giữa các thành viên gia đình với nhau trên cơ sở phân công lao động. Đặt trong bối cảnh chung của cấu trúc xã hội tổng thể, gia đình được nhà xã hội học E. Durkheim coi là một đơn vị xã hội quan trọng nhất tạo nên "đoàn kết xã hội".
Durkheim là người đặt nền móng cho quan điểm chức năng luận trong xã hội học, đồng thời nhấn mạnh đến chức năng của gia đình trong sự vận hành của hệ thống xã hội. Trong tác phẩm "Nạn tự tử", ông đã phân tích gia đình trong điều kiện của những sai lệch chuẩn mực xã hội mà gọi chung là hiện tượng "thiếu quy tắc", sự khủng hoảng của gia đình chính là việc không duy trì được chức năng của gia đình [89, tr. Mối quan hệ vợ chồng được nhiều tác giả nước ngoài nghiên cứu. Có hai trường phái hay hai quan điểm đối lập nhau khi nghiên cứu về mối quan hệ vợ chồng hay mối quan hệ các thành viên trong gia đình.
Đó là những người theo quan điểm cấu trúc - chức năng gia đình rất thịnh hành ở Mỹ và các nước phương Tây những năm 1950 - 1960 (đại diện là Talcott Parsons, W.) nhấn mạnh đến các vai trò giới và phân tách vai trò giữa vợ và chồng. Những nước công nghiệp hóa, mô hình gia đình và quan hệ vợ chồng theo quan điểm lý thuyết cấu trúc - chức năng từ lâu đã không còn được chấp nhận kể từ khi phụ nữ đi làm. Và mối quan hệ vợ chồng cũng trải qua những biến đổi sâu sắc từ giữa những năm 1960. Sự thay đổi mối quan hệ quyền lực giữa người vợ và người chồng trong gia đình, sự không cân bằng về phân công công việc trong gia đình là những nguyên nhân ảnh hưởng đến mối quan hệ vợ chồng.
Sự chênh lệch về đóng góp kinh tế, thu nhập trong 16 nhiều trường hợp làm nẩy sinh các hành vi bạo lực vợ chồng. Mối quan hệ hôn nhân cũng trở nên kém bền vững, hiện tượng ly hôn, ly thân ngày càng gia tăng [126, tr. Trong khoảng hai thập kỷ gần đây, thực trạng mối quan hệ vợ chồng đã được nghiên cứu từ góc nhìn xã hội học. Một số tác giả như Lê Ngọc Văn (2011), Nguyễn Hữu Minh, Trần Thị Vân Anh (2008), Vũ Mạnh Lợi (2000), Mai Huy Bích (1993), Vũ Tuấn Huy (2003), Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và các cơ quan khác (2008), v.
đã phân tích thực trạng các khía cạnh khác nhau của gắn kết vợ chồng như: vai trò của người vợ và người chồng trong quản lý gia đình, trong kinh tế gia đình, phân công lao động giữa vợ và chồng trong gia đình, quyền lực giữa vợ và chồng trong gia đình, tiếp cận và kiểm soát các nguồn lực gia đình của vợ chồng, mâu thuẫn, xung đột và bạo lực vợ chồng, vấn đề ly thân và ly hôn, v. Các kết quả phân tích cho thấy, công nghiệp hóa và hội nhập kinh tế quốc tế đang tác động rất mạnh mẽ đến gia đình Việt Nam nói chung và gắn kết vợ chồng nói riêng. Sự biến đổi vai trò của người vợ và người chồng trong gia đình đang diễn ra hết sức phức tạp. Cuộc đấu tranh giữa những giá trị truyền thống và giá trị hiện đại trong quan hệ vợ chồng làm nảy sinh nhiều mâu thuẫn và xung đột vợ chồng do những quan niệm khác nhau về vai trò của mỗi giới trong gia đình [126, tr.
Bởi vậy, sự gắn kết vợ chồng đang đứng trước nhiều thuận lợi cũng như những khó khăn, thách thức cần nghiên cứu, bổ sung. Gắn kết vợ chồng trong phân công lao động được nhiều tác giả, nhiều công trình nghiên cứu như: Lê Tiêu La và Nguyễn Đình Tấn trong Phân công và hợp tác lao động theo giới trong phát triển hộ gia đình và cộng đồng ngư dân ven biển Việt Nam hiện nay - Thực trạng và xu hướng biến đổi, đã đề cập đến sự phân công lao động dựa theo giới tính, vấn đề bình đẳng giới trong gia đình là nâng cao năng lực, vai trò, vị thế cho cả hai giới mà không làm đảo lộn vai trò của mỗi giới [94]. Đồng thời, Nguyễn Đình Tấn trong “Sự thay đổi vai trò của người chồng, người cha trong gia đình từ truyền thống đến hiện 17 đại”, sự phân công lao động được thay đổi vai trò của người chồng, người cha trong gia đình từ truyền thống đến hiện đại, đã đặt một vấn đề rất mới về người đàn ông trong xã hội bình đẳng giới, khẳng định sự thay đổi từ thời đại gia trưởng sang thời đại bình đẳng giới khi mà quyền lợi chính đáng của người phụ nữ trong gia đình và xã hội đang được Nhà nước và xã hội bảo vệ. Lê Ngọc Văn cho rằng, thời kỳ công nghiệp hóa và đô thị hóa đã phá vỡ mô hình phân công lao động, dòng chảy di cư lao động tới các KCN trở thành phổ biến [125].
Đối với gia đình công nhân KCN, việc phân công công việc liệu có ngang bằng nhau, vì thời gian đi làm và ở nhà là như nhau, cần được làm rõ hơn. Trong cuốn “Xu hướng gia đình ngày nay (Một vài đặc điểm từ nghiên cứu thực nghiệm tại Hải Dương)”, tác giả Vũ Mạnh Lợi đã phân tích mối quan hệ vợ chồng trong gia đình thông qua sự phân công lao động và xu hướng của mô hình phân công lao động này. Từ kết quả nghiên cứu cho thấy truyền thống những hoạt động trong gia đình có sự phân công theo giới. Khi phân tích gắn kết vợ chồng trong gia đình thông qua sự phân công lao động và xu hướng của mô hình phân công lao động bằng các hoạt động trong gia đình như: giữ tiền, rửa bát, giặt giũ, chăm sóc con nhỏ thường do người vợ đảm nhận.
Trong những quan hệ xã hội với bên ngoài gia đình như: tiếp khách, đại diện cho gia đình tham gia vào các hoạt động cộng đồng thường do người chồng thực hiện. Tương ứng với sự phân công vai trò đó là sự phân công về quyền của người vợ với người chồng trong việc ra quyết định [52]. Như vậy gắt kết giữa vợ và chồng trong gia đình không chỉ thể hiện trong việc thực hiện các vai trò mà còn biểu hiện ở quyền của người vợ và người chồng trong các lĩnh vực hoạt động khác nhau. Sự hình thành và biến đổi gia đình gắn với phân công lao động trong gia đình, nghề nghiệp và thu nhập, sức khoẻ và tình dục, giá trị con cái trong gia đình cùng với mối quan hệ giữa các thế hệ trong gia đình ngày càng được khẳng định[60].
Vai trò phụ nữ trong gắn kết gia đình là sự tiếp nối truyền 18 thống tốt đẹp của phụ nữ Việt Nam, thời gian qua nữ công nhân đã nỗ lực trong lao động sản xuất, phát triển kinh tế gia đình. Nhờ đó, vai trò, vị thế của người phụ nữ trong gia đình ngày càng được khẳng định là nhân tố cơ bản tác động đến sự biến đổi gia đình và vai trò người phụ nữ trong gia đình. Khi nói đến phụ nữ Việt Nam với dân số, văn hoá và sự phát triển bền vững là nói đến vai trò, vị trí của gia đình và người phụ nữ trong mối quan hệ và tác động lẫn nhau với vấn đề dân số, văn hoá, cũng như sự phát triển bền vững của môi trường, hướng tìm ra con đường tốt nhất cho tương lai phát triển của nhân dân, của gia đình và người phụ nữ Việt Nam [107]. Tuy nhiên, vị thế, vai trò của nữ công nhân hiện nay chưa được khẳng định và phát huy trong gia đình, do thời gian và công việc, thu nhập và đời sống còn nhiều khó khăn.
Sự gắn kết vợ chồng dựa trên đóng góp kinh tế được đề cập dưới nhiều khía cạnh khác nhau của mối quan hệ vợ chồng như: vai trò của người vợ và người chồng trong quản lý gia đình, trong kinh tế gia đình, trong phân công lao động giữa vợ và chồng, quyền lực giữa vợ và chồng trong gia đình, tiếp cận và kiểm soát các nguồn lực gia đình của vợ chồng, mâu thuẫn, xung đột và bạo lực vợ chồng, vấn đề ly thân và ly hôn, v. Các kết quả phân tích cho thấy, công nghiệp hóa và hội nhập kinh tế quốc tế đang tác động rất mạnh mẽ đến gắn kết gia đình nói chung và gắn kết vợ chồng nói riêng. Sự biến đổi vai trò của người vợ và người chồng trong gia đình đang diễn ra hết sức phức tạp. Cuộc đấu tranh giữa những giá trị truyền thống và giá trị hiện đại trong quan hệ vợ chồng làm nảy sinh nhiều mâu thuẫn và xung đột vợ chồng do những quan niệm khác nhau về vai trò của mỗi giới trong gia đình [60].
Do đó, gắn kết vợ chồng công nhân qua đóng góp kinh tế đang đứng trước nhiều thuận lợi cũng như nhiều khó khăn, thách thức do tiền lương và thu nhập thấp. Các nghiên cứu về gia đình của một số nước ở châu Á đã cho ta nhìn nhận sâu sắc hơn về các gia đình trong khu vực như: nghiên cứu “Biến đổi xã hội và gia đình ở Đài Loan” của Arland Thornton và Hui Shenglin 1994 đã 19 phân tích cái được và mất đáng quan tâm trong quan hệ giữa các thế hệ trong gia đình Trung Quốc ở Đài Loan; Cuốn sách: Tình yêu gia đình hạnh phúc, đã nêu một số quan niệm về tình yêu, gia đình, hạnh phúc. Vấn đề quan hệ đạo đức giữa vợ và chồng, nguyên tắc bình đẳng về phương diện xã hội, đạo đức, tinh thần giữa vợ và chồng, những quan niệm tự do trong tình yêu, hôn nhân và gắn kết gia đình. Vấn đề ly dị, mặc dù không còn gắn kết vợ chồng, nhưng vẫn còn gắn kết và trách nhiệm với con cái [131].
Cuốn sách: Gia đình Nhật Bản”, của Trần Mạnh Cát dịch viết năm 2004, cũng đưa ra những vấn đề liên quan đến hôn nhân, quá trình hình thành gia đình ở Nhật Bản; gia đình và mối quan hệ trong gia đình; một số chức năng cơ bản của gia đình, mối quan hệ giữa gia đình và xã hội. Gia đình và mối quan hệ trong gia đình, ở đây chỉ dừng lại phân tích mối quan hệ vợ - chồng, gắn kết vợ chồng. Đây là mối quan hệ cơ bản nhất trong bất kể loại hình gia đình nào dù đó là gia đình hạt nhân hay gia đình mở rộng [15, tr.