CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC VDKTKN HÓA HỌC THÔNG QUA DẠY HỌC CHỦ ĐỀ STEM 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề: 1. Giáo dục STEM trên Thế giới Giáo dục STEM (Khoa học, Công nghệ, Kỹ thuật và Toán học) đã trở thành một chủ đề quan trọng trong các hệ thống giáo dục trên toàn thế giới. Việc đào tạo các học sinh về các kỹ năng STEM giúp họ phát triển khả năng tư duy logic và vận dụng kiến thức trong cuộc sống hàng ngày, đồng thời tạo ra những nhà khoa học và kỹ sư tài năng cho tương lai.
Một thống kê ở Mỹ cho thấy từ năm 2004 đến năm 2014 các việc làm liên quan đến khoa học và kỹ thuật tăng 26%. Con số gấp hai lần so với tốc độ tăng trưởng trung bình của các ngành nghề khác. Từ năm 1950 đến 2007, tốc độ tăng trưởng trong lĩnh vực công việc STEM vượt qua tốc độ tăng trưởng trung bình của các ngành khác lên đến 4 lần. Cựu tổng thống Obama từng khẳng định về tầm quan trọng và định hướng của nước Mỹ trong việc phát triển giáo dục STEM.
“Một trong những vấn đề trọng tâm của tôi khi làm Tổng thống Mỹ là xây dựng phương pháp phát triển khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học. Trong đó có sự chung tay góp sức của toàn dân. Chúng ta cần ưu tiên đào tạo đội ngũ giáo viên và giảng viên có chất lượng trong các lĩnh vực này. Đồng thời cần bảo đảm rằng toàn thể nhân dân cả nước cùng hợp lực.
Thúc đẩy các ngành này phát triển xứng đáng với tầm quan trọng của chúng” [29] Lý Hiển Long đã nhấn mạnh rằng để Singapore phát triển kinh tế và trở thành một xã hội hiện đại, công nghệ tiên tiến, cần phải đẩy mạnh phát triển tài năng và nhân tài trong lĩnh vực Khoa học, Công nghệ, Kĩ thuật và Toán học.[21] Trong quá khứ, Israel cũng đã đóng góp không nhỏ vào lĩnh vực giáo dục STEM. Các chương trình STEM ở Israel bắt đầu được phát triển từ thập niên 1970. Năm 2010, chính phủ Israel đã phát triển một chương trình STEM mới cho trẻ em từ 6 đến 18 tuổi với mục tiêu giúp họ học tập các kỹ năng STEM trong môi 7 trường tương tác và giúp họ phát triển tư duy sáng tạo và khả năng giải quyết vấn đề. New Zealand là một quốc gia khác nổi tiếng về giáo dục STEM.
Họ có một chương trình STEM tập trung vào việc phát triển khả năng phản biện của học sinh và đam mê học tập. Họ cũng chú trọng vào việc giáo dục STEM để đào tạo các công dân toàn cầu cho thế kỉ 21. Có thể nhận thấy, mọi quốc gia trên thế giới đều đặc biệt quan tâm đến việc phát triển giáo dục STEM. Với sự hỗ trợ của giáo dục STEM, học sinh có thể phát triển vượt bậc về kiến thức và kỹ năng, từ đó chuẩn bị cho bản thân trở thành những công dân thích hợp cho xã hội thế kỳ 21.
Giáo dục STEM ở Việt Nam Giáo dục STEM đã trở thành một chủ đề nóng bỏng và được quan tâm rất nhiều trong giáo dục tại Việt Nam trong những năm gần đây. Với những khả năng phát triển kinh tế mạnh mẽ, Việt Nam đang nỗ lực để cải thiện chất lượng giáo dục và phát triển nhân lực cho đất nước. Trong bối cảnh đó, giáo dục STEM đang được đầu tư và phát triển mạnh mẽ. Trong bài viết này, chúng ta sẽ điểm qua lịch sử nghiên cứu vấn đề giáo dục STEM ở Việt Nam và những đóng góp của Bộ Giáo dục và đào tạo trong việc nâng cao chất lượng giáo dục STEM tại Việt Nam.
Từ những năm 2000, Việt Nam đã đặt mục tiêu phát triển thành một quốc gia công nghiệp và hiện đại. Trong tầm nhìn đó, giáo dục STEM đã được coi là một phần quan trọng của chiến lược phát triển của đất nước. Tuy nhiên, trong giai đoạn đầu, Việt Nam chưa có sự đầu tư đầy đủ vào giáo dục STEM. Điều này dẫn đến những hạn chế trong chương trình giảng dạy và kiến thức của các sinh viên, giáo viên.
Từ năm 2011, Bộ Giáo dục và đào tạo Việt Nam đã đưa giáo dục STEM vào chương trình giảng dạy ở trường THPT. Việc này nhằm mục đích nâng cao trình độ và giáo dục toàn diện cho các học sinh, cũng như đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động. Ngoài ra, cũng từ năm 2011, Bộ Giáo dục và đào tạo đã đưa ra một số chính sách hỗ trợ cho các trường đào tạo STEM nhằm khuyến khích các trường đào tạo đầu tư và phát triển giáo dục STEM. 8 Trong chương trình giáo dục THPT, Việt Nam đã đưa STEM vào các môn học như toán, vật lý, hóa học và sinh học.
Điều này giúp học sinh được tiếp cận với các kĩ năng và kiến thức quan trọng để trở thành công dân toàn cầu cho thế kỉ 21. Năng lực và năng lực vận dụng kiến thức kĩ năng 1. Khái niệm năng lực Năng lực là một khía cạnh tâm lý phức tạp, đại diện cho sự kết hợp của kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, thái độ, và trách nhiệm. Ngày nay, có nhiều quan điểm khác nhau về năng lực, tuy nhiên chúng đều tập trung vào khả năng thành thạo và thực hiện công việc của mỗi cá nhân.
Theo từ điển tâm lí học của Vũ Dũng (2000), năng lực được định nghĩa là tập hợp các tính chất hay phẩm chất của tâm lý cá nhân, có vai trò điều khiển bên trong và tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện một hoạt động cụ thể một cách tốt nhất. Cũng theo Vũ Dũng, năng lực là khả năng thực hiện các hành động, giải quyết nhiệm vụ và đạt được thành công trong các tình huống thay đổi, bao gồm cả lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội và cá nhân. Năng lực được xây dựng trên cơ sở hiểu biết, kỹ năng, kinh nghiệm và sự sẵn sàng hành động. Theo nguồn [4], năng lực được hiểu là sự kết hợp linh hoạt và có tổ chức giữa kiến thức, kỹ năng, thái độ, tình cảm, giá trị và động cơ cá nhân, nhằm đáp ứng hiệu quả các yêu cầu phức tạp trong một ngữ cảnh cụ thể.
Năng lực thể hiện sự vận dụng tổng hợp nhiều yếu tố, bao gồm phẩm chất của người lao động, kiến thức và kỹ năng, thông qua các hoạt động cá nhân để thực hiện một công việc cụ thể. Năng lực cũng bao gồm các yếu tố cơ bản mà mọi người lao động và công dân đều cần có, đó là năng lực chung và năng lực cốt lõi. Đặc điểm và cấu trúc của năng lực Theo nguồn [4], cấu trúc tổng quát của năng lực hành động được miêu tả là sự kết hợp của bốn thành phần năng lực: năng lực chuyên môn, năng lực phương pháp, năng lực xã hội và năng lực cá nhân. 9 - Năng lực chuyên môn (Professional competency): Đây là khả năng thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn và đạt được kết quả chuyên môn một cách độc lập.
Năng lực này bao gồm việc sử dụng phương pháp và kiến thức chuyên môn một cách chính xác. - Năng lực phương pháp (Methodical competency): Đây là khả năng có kế hoạch và định hướng mục tiêu trong việc giải quyết các nhiệm vụ và vấn đề. Năng lực này liên quan đến việc áp dụng các phương pháp hiệu quả trong công việc. - Năng lực xã hội (Social competency): Đây là khả năng đạt được mục tiêu trong các tình huống giao tiếp và tương tác xã hội, cũng như trong việc phối hợp tốt với các thành viên khác trong đội nhóm.
- Năng lực cá nhân (Individual competency): Đây là khả năng nhận biết và hiểu rõ cơ hội và giới hạn của bản thân, phát triển năng khiếu, xây dựng và thực hiện kế hoạch phát triển cá nhân. Năng lực này bao gồm cả những quan điểm, chuẩn giá trị đạo đức và động cơ chi phối thái độ và hành vi của cá nhân. Mô hình bốn thành phần năng lực trên phù hợp với bốn trụ cột giáo dục theo UNESCO 10 Hình 1. Mô hình tương ứng năng lực thành phần với trụ cột giáo dục của Unesco.
Theo tài liệu [1], [21], năng lực cần hình thành và phát triển cho HS phổ thông gồm: - Năng lực cốt lõi: Đây là những năng lực cơ bản và không thể thiếu để có thể sống, học tập và làm việc hiệu quả. - Năng lực đặc biệt: Đây là những năng lực đặc biệt mà mỗi người có thể có nhờ vào tố chất và khả năng riêng của mình, bao gồm trí tuệ, nghệ thuật, thể thao, kỹ năng sống, và nhiều hơn nữa. Theo Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể, năng lực cốt lõi bao gồm năng lực chung và năng lực chuyên môn. - Năng lực chung: Đây là những năng lực mà được phát triển và hình thành thông qua các môn học và hoạt động giáo dục, bao gồm năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo.
- Năng lực chuyên môn: Đây là những năng lực chủ yếu được hình thành và phát triển thông qua các môn học và hoạt động giáo dục cụ thể như năng lực ngôn ngữ, năng lực tính toán, năng lực khám phá tự nhiên và xã hội, năng lực công nghệ, năng lực tin học, năng lực thẩm mỹ, năng lực thể chất. Năng lực đặc thù của môn Hóa học Theo [21] ngoài các năng lực chung, môn hóa học còn hình thành và phát triển ở học sinh năng lực hóa học gồm những thành phần sau: * Năng lực nhận thức hóa học Nhận thức được các kiến thức cơ sở cấu tạo về chất; các quá trình hóa học; các dạng năng lượng và bảo toàn năng lượng; một số chất hóa học cơ bản và chuyển hoá hoá học; một số ứng dụng của hóa học trong đời sống và sản xuất. * Năng lực tìm hiểu thế giới tự nhiên dưới góc độ hóa học Quan sát, thu thập thông tin; phân tích, xử lí số liệu; giải thích; dự đoán được kết quả nghiên cứu một số sự vật, hiện tượng trong tự nhiên và đời sống. Sử dụng được các chứng cứ khoa học để kiểm tra dự đoán, lí giải các chứng cứ, rút ra kết luận.
* Năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học Vận dụng được kiến thức, kĩ năng môn hóa học vào một số tình huống cụ thể trong thực tiễn; Mô tả, dự đoán, giải thích hiện tượng, GQVĐ một cách khoa học; Ứng xử thích hợp trong các tình huống có liên quan đến vấn đề sức khỏe của bản thân, gia đình và cộng đồng; Ứng xử với tự nhiên phù hợp với yêu cầu phát triển bền vững xã hội và bảo vệ môi trường.