CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1, Khái niêm về Tai biến mach máu não (TBMMN): 1. Định nghĩa : Theo Tổ chức Y tố thế giới dịnh nghĩa trong Bảng phân loại quốc tế các bộnh tạt ICD - 10 (1993) "TBMMN là dấu hiệu phát triổn nhanh trên lâm sàng của rối loại khu trú chức năng cùa não kéo dài trồn 24 giờ và thường do nguyên nhân huyết quản". Như vậy trỏn lâm sàng dây là các biổu hiên bệnh lý bao gồm phần lớn các trường hợp chày máy trong não, chày máu dưới nhón, nhổi máu não. "Chảy máu não: xây ra khi máu thoát khỏi mạch chảy vào nhu mô não - nguyên nhân phổ biến là HA lăng , xơ vữa mạch và dị dạng mạch máu não.
Các biểu hiện chung của TBMMN : Đạc tính chung của TBMMN là khởi dầu dột ngột. Bộnh cảnh ngay lúc đầu là năng, đặc biẹt ờ người cao tuổi. Ngoài ra còn có các dấu hiệu tổn thương thẩn kinh là: Hôn mê, liọt nứa người, các biến chứng khác kèm theo. Sự xuất hiôn dột ngột liệt nừa người (kòm theo hôn mô hay không) là một dấu hiệu khá đặc biôt cho phép người tháy thuốc nghĩ dêh đây là một TBMMN.
Liột nửa người có thổ găp ngay từ đầu, nhưng cũng có nhiồu trường hợp triệu chứng xuất hiên từ từ lúc dầu chỉ yếu mỏi cơ một bôn, nói hơi ngọng, mổm hơi méo, dẩn dẩn mới liệt nửa người rõ rệt. Liệt nửa người có thổ là đơn dộc hoăc có kèm theo các dấu hiôu khác. 5 Ngoài những triệu chứng dã nêu trôn còn có thể có những rối loạn vồ thần kinh thực vật như nhịp thờ không dồu, khò khè, nhiôl độ hạ sau đó lại tang, chân lay lạnh vã mổ hôi, mạch nhanh, HA dao dộng, nhịp tim không dồu. Việc chẩn đoán TBMMN ngoài các triệu chứng lâm sàng kể trôn còn cần các xét nghiệm dặc hiôu như: cắt lớp vi tính (C.Scan), chọc dò dịch não tuỷ, chụp động mạch não, siôu âm ( Doppler ), cộng hưởng từ.
Diễn biến cùa bệnh thường phức tạp, khó lường trước nhưng nhìn chung là xấu. Đột quỵ do TBMMN có thổ gây lừ vong trong những ngày đầu. Những trường hợp không bị tử vong thì thường cũng dổ lại những di chứng ở các mức độ khác nhau : Có người có di chứng nẠng, có người hổi phục được, nhưng ít nhiồu cũng bị ảnh hưởng dốn sinh hoạt, công tác, nhất là mạt hoạt động trí não. Đáng chú ý là nguy cơ tái phát bao giờ cũng có, gây một cơn đột quỵ mới và lán sau thường nạng hơn lẩn trước.
Ngày nay cùng với sự phát triổn cùa khoa học nói chung và y họp nói riông TBMMN ngày càng dược nghiên cứu hiổu biốt rõ ràng hơn nhất là trong viộc chẩn doán sớm lìm nguyỗn nhân. Gẩn dây hơn dổ có biện pháp phòng bệnh hiệu quà, dịch lỗ học TBMMN dã và dang dược nghiôn cứu ờ nhiổu nơi trôn thố giới góp phần làm giảm tỷ lô hiện mắc cũng như mới mắc TBMMN trong công dổng. Dịch tễ học TIỈMMN: TheoTỔ chức Y lố thế giới (1979) cứ 100.000 người dân trong một năm có từ 127 dốn 174 người bị TBMMN. Tỷ lộ này ở Nhạt Bản là 430 bn/100.
Ở Liên Xô (cũ) là 150 dốn 300 bn/100. Theo số liêu gần đây cùa Pháp thì tại Pháp mỗi ngày có 300 người bị TBMMN. Chi phí cho diều trị và phục hổi chức năng chiếm một con số dáng kổ, lổng chi phí chung cho TBMMN của Hoa Kỳ là 17 tỷ dô la và ở Pháp chiếm 3 - 5% tổng chi phí y tế cả nước mỗi năm [ 28 ]. Cũng tại Hoa Kỳ từ năm 1972 dốn 1990 tỷ lô tử vong do TBMMN hàng năm giảm *.
khoảng 5% song song với giảm tỷ lô từ vong của các bônh lim mạch. Vồ việc này có 6 ý kiến cho ràng sở dĩ có kết quả như vây là nhờ công tác phòng các yếu tố nguy cơ, dạc biẹt kiổni soát HA dã dược triổn khai một cách có hệ thống. Tuy nhiôn, từ những năm 1994 - 1995 tỷ lộ này lại có khuynh hướng tăng lôn I 34 |. Ở các nước dang phát triển người ta thấy tỷ lê TBMMN cũng dang gia tăng trong 2 thập kỳ qua.
Năm 1980 tỷ lô mới mác TBMMN tại Tlìái Lan là 12,7/100.000 dân nhưng dốn năm 1984 tỷ lộ này ở Thái lan dã lôn 18,7/100. Bồn cạnh dó tỷ lộ lử vong do TBMMN ở Thái Lan cũng gia lăng lừ 3,7/100.000 dan (1950) lôn lới 6,7/100. Tại Viôl Nam, hiên chưa có con số thống kô loàn diôn mang tính cộng đổng vồ TBMMN, nhưng thực tế cho thấy loại bônh lý này dang có chiều hướng gia tăng cướp di sinh mạng của nhiổu người hoặc dổ lại di chứng cho bênh nhân, gánh năng cho gia dinh và xã hội [ 5 ,7, 13, 18 ]. Năm 1994 - Lô Văn Thành và cộng sự I 19 ] nghiên cứu vổ TBMMN ở 3 tỉnh phía Nam cho kêì quà vổ các tỷ lô TBMMN đổu cao gần giống y văn thế giới.
Cụ thổ tỷ lộ mới mác TBMMN trung bình nam là 1,52/100.000 dân, tỷ lộ hiên mắc là 4,16/100.000dân và tỷ lô tử vong do TBMMN là 36,05%o. Theo lác giả Nguyỗn Văn Đang và cộng sự [ 4 1 - Nghiôn cứu dịch lỗ học TBMMN lại một số tỉnh Miổn Bắc và Miền Trung - 1995 cho biết: Tỷ lô hiôn mác là 98,44/100.000 dân, tỷ lô mới mắc là 36/100.000 dan và tỷ lô từ vong là 27/100. Nhìn chung các kết quả cho thay tỷ lộ TBMMN còn khá cao và có xu hướng gia tăng .2, Mót số yến tố nguy cơ của TBMMN, Cho dốn nay người ta phân thành 4 nhóm yếu tô' nguy cơ chính gây ra TBMMN là: * Yếu tố sinh học di truyền: Tuổi, giới, chùng tộc. * Yếu lố sinh lý: HA, Cholesterol máu, dường máu.
ẲÀ 7 * Yếu lố môi trường: Nhiẹt độ môi trường, độ ẩm, thay đổi thời tiết, stress, nhiỗm khuẩn. * Các thói quen không có lợi cho sức khoè: Hút thuốc lá, nghiên rượu bia. [ 22 ] Mặc dù vây rất nhiồu nhà khoa học dã chứng minh dược THA là yếu tố nguy cơ hàng đầu cho lất cả các loại TBMMN tuy nhiốn có rất ít những chứng cớ vồ yếu tố môi trường và nguy cơ gây TBMMN. Có một số yốu tố rất khó hoặc không có khả năng tác dộng (tuổi, giới) một sô' yếu lố môi trường và dỗ tác động (nhiẹt độ, nơi gió lùa, nhiỗm khuẩn .), một số thói quen có thổ thay dổi dược (thuốc lá, rượu.), một số vừa do môi trường và có thổ thay dổi dược (THA.
Yếu tó' tuổi : Nhìn chung tỷ lồ TBMMN lăng nhanh song song với tuổi Ihọ Irung bình ngày càng cao. ở lứa tuổi lừ 55 dốn 64 tỳ lộ dó là 3/100.000 dân, ở lứa tuổi từ 75 tỷ lộ đó là 8/100. Trong tháng dầu bị TBMMN tuổi càng cao tỷ vong càng nhiều, từ 65 dỗh 74 tuổi tỷ lệ từ vong là 51% ở nam và 53% ở nữ - đối với người trên 75 tuổi tỷ lê lừ vong là 77% ở nam và 70% nữ (Acheson), trong những tháng sau tiên lượng cũng còn dò dạt. Vồ lâu dài, trong loàn dân số chung thấy tỷ lê tử vong là 65% ở Rochestes và 85% ở Middolesscx.
Những nghiên cứu gán dây cho thấy tỳ lẹ tử vong ở lứa tuổi 65 - 74 là 87% và ờ lứa tuổi > 75 là 92% (13]. TBMMN làm dảo lộn hoàn toàn cuộc sống cùa người bệnh, vổ mặt kinh tế chi phí cho TBMMN không phải là nhỏ, có những phí lổn Irực liốp lương đối dỗ tính toán bao gổm: Các chi phí vổ nằm bênh viôn và phục hổi chức năng, chăm sóc tại nhà, khám bệnh dịnh kỳ và theo yôu cầu. Có những phí tổn gián tiếp khó tính hơn vì thường dựa vào sự ước lượng những mâì mát mà người bênh phải chịu do không lao dộng dược như trước - Tham khảo công trình năm 1975 ở Massachusetts, ước tính một người bị TBMMN nằm điổu trị phải tốn khoảng 2. Sự chi phí cho thời gian sau khi ra khỏi bệnh viôn trong suốt cuộc dời còn lại là 20.049 dô la trong đó 71% cho cơ sở y tế, 17% cho phục hổi chức năng , 8% cho việc phục vụ tại nhà, vẠn 8 chuyổn và 4% cho trang ihiôì bị y tế tại nhà và phục vụ cho sinh hoạt hàng ngày của người mất khả nùng hoạt động [13].
Yếu tó THA: Là yốu tố nguy cư có thổ diổu chình quan trọng nhất ở người trôn 60 tuổi. Tỷ lệ mác bênh THA Icing dần theo tuổi, theo K.Johnson có 31,8% nữ và 23,3% nam ở nhóm tuổi 55 - 64 bị THA - Tỷ lệ tưưng ứng đối với nhóm tuổi 65 - 74 là 49,9% và 30,3%, với nhóm tuổi 75 - 79 là 35,6% và 41,6% [ 8 ]. Theo kết quả diồu tra dịch tỗ học bônh THA tại Hà Nội năm 1999 - Tỷ lô THA ờ nhóm tuổi 55 - 64 là 38,2% nhóm tuổi 65 - 74 là 47% và trôn 75 tuổi là 65,5% ( 10 ). “ THA được xác định khi HA tâm thu > 140 mmHg , HA tâm trương > 90 mmHg hoặc dang sử dụng thuốc chống THA”.
Mục liôu cùa viôc xác dịnh và diổu trị THA là làm giám nguy cơ bênh tim mạch, các biến chứng và từ vong. Đổ dạt dược mục tiôu trôn cẩn có sự phân loại huyốl áp dổ giúp xác định những cá nhân / những bỌnh nhân có nguy cơ cao đổ có kế hoạch theo dõi và didu trị. 1A BẢNG : PHÂN LOẠI HA Ở NGƯỜI LỚN ( £ 18 Tưổl) [ 31 ] Phân loại HA tâm tiiu ÍIA lam trung (mmHg) (mmllg) Tối ưu < 120 <80 ỉỉình thường <130 <85 Bình thường cao 130-139 85 -89 THA độ 1 140-159 90 - 99 THA độ 2 160-179 100-109 THA dộ 3 >180 > 110 HA luôn thay dổi tuỳ thuộc vài) nhiéu yốu tố nhu người trên 60 tuổi có HA cao hơn người trẻ, ngoài ra HA còn thay dổi theo thời gian trong ngày, theo sự thay đổi thời tiết, theo hoạt dộng cùa CƯ thổ, do thay dổi trạng thái tâm lý. Sau thời gian nghỉ ngưi, ổn dinh I IA lại trờ về mức bình thường -[11].
Với trình dộ phát triển cùa kinh tố, xã hội, khoa học kỹ thuật đẠc biệt là y học hiện nay dã có rất nhỉổu biẹn pháp hữu hiôu dổ diều trị THA nhưng THA vẫn là nguyôn nhân chù yếu gây TBMMN - Có những nguyôn nhân chính sau: * Do quan niệm: I I Trong nhan dAn cũng như trong không ít cán bộ y tế còn lưu hành quan niộm cho rằng THA là hiên tượng tự nhiôn khi có tuổi.