Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG VÀ DỰ BÁO THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG 1. Cơ sở lý luận chung về thuế giá trị gia tăng 1. Khái niệm: Thuế giá trị gia tăng là loại thuế gián thu đánh trên phần giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ qua các khâu từ sản xuất, lƣu thông đến tiêu dùng. Vào năm 1954, Pháp là nƣớc đầu tiên trên thế giới ban hành Luật Thuế giá trị gia tăng -Taxe sur la Valeur Ajou tée (viết tắc là TVA), tiếng Anh gọi là Value Added Tax (viết tắt là VAT).
Ngày nay, thuế giá trị gia tăng đã đƣợc nghiên cứu và áp dụng rộng rãi tại hơn 150 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới nhƣ: khối Liên minh Châu Âu (EU), châu Phi, châu Mỹ La Tinh và một số quốc gia Châu Á trong đó có Việt Nam. Tại Việt Nam, Luật thuế GTGT đƣợc xây dựng và thông qua tại kỳ họp lần thứ 11 Quốc hội khoá 9 và có hiệu lực thi hành bắt đầu từ ngày 1/1/1999 và đã dần đƣợc hoàn thiện qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung nhiều lần vào các năm 2003, 2008, 2013, 2014, 2016 theo hƣớng ngày càng minh bạch, đơn giản, và công bằng, qua quá trình triển khai thực hiện, Luật thuế GTGT đã có những đóng góp tích cực cho ngân sách nhà nƣớc cũng nhƣ phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam. Theo quy định của Luật thuế giá trị gia tăng thì thuế giá trị gia tăng là một loại thuế gián thu đánh trên giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng. Ðây là một loại thuế đánh vào mỗi giai đoạn từ khâu sản xuất, lƣu thông sản phẩm hàng hoá, từ khi còn là nguyên liệu thô sơ cho đến sản phẩm hoàn thành và cuối cùng là khâu tiêu dùng sản phẩm hàng hóa, dịch vụ và do ngƣời tiêu dùng chịu khi mua hàng hoá, sử dụng dịch vụ.
Vai trò của thuế giá trị gia tăng Cũng nhƣ các sắc thuế khác, Thuế giá trị gia tăng thực hiện hai chức năng cơ bản của thuế là huy động nguồn lực cho ngân sách quốc gia và điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Tuy nhiên, trong tổng số các khoản thu, sắc thuế hiện hành của Việt Nam, thuế GTGT có vai trò đặc biệt, là sắc thuế chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng thu ngân sách quốc gia và là loại thuế có tác động sâu rộng nhất đối với nền kinh tế. Đối với thu ngân sách nhà nước Thuế giá trị gia tăng thuộc loại thuế gián thu và đƣợc áp dụng rộng rãi đối với mọi tổ chức, cá nhân có tiêu dùng sản phẩm hàng hoá hoặc đƣợc cung ứng dịch vụ, nên tạo đƣợc nguồn thu lớn và tƣơng đối ổn định cho ngân sách nhà nƣớc. Nếu không kể số thuế thu từ dầu thô thì thuế GTGT hiện là sắc thuế chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng thu NSNN và đang có xu hƣớng tăng cả về quy mô và tỷ trọng thu trong tổng thu NSNN (giai đoạn 2006-2010 chiếm 22,6% tổng thu NSNN, giai đoạn 2011-2015 tăng lên 25,6%, giai đoạn 2016- 2018 chiếm 24,3% tổng thu NSNN).
Hiện tại, số thu từ thuế GTGT là khoản thu có điều tiết về NS trung ƣơng theo tỷ lệ nhất định đối với một số địa phƣơng có số thu lớn, do đó, đây là nguồn thu quan trọng giúp đảm bảo cân đối NS trung ƣơng, góp phần đáp ứng các nhiệm vụ chi của Chính phủ. Đối với việc điều tiết vĩ mô nền kinh tế Thuế GTGT là công cụ rất quan trọng để Nhà nƣớc thực hiện chức năng quản lý vĩ mô đối với nền kinh tế. Nền kinh tế nƣớc ta đang trong quá trình vận hành theo cơ chế thị trƣờng có sự quản lý của nhà nƣớc, do đó thuế giá trị gia tăng có vai trò rất quan trọng nhƣ sau: - Thuế giá trị gia tăng đã góp phần ổn định giá cả, mở rộng lƣu thông hàng hoá, đẩy mạnh xuất khẩu. Năm 1998 trở về trƣớc, Luật thuế doanh thu quy định doanh thu phát sinh là cơ sở để thực hiện chế độ thu nộp 8 thuế.
Do đó Nhà nƣớc đánh thuế trên toàn bộ doanh thu phát sinh của sản phẩm qua mỗi lần chuyển dịch từ khâu sản xuất, lƣu thông đến tiêu dùng. Nếu các sản phẩm, hàng hoá chịu thuế càng qua nhiều khâu thì số thuế Nhà nƣớc thu cũng tăng thêm qua các khâu nên việc áp dụng thuế doanh thu dẫn đến tình trạng thuế thu trùng lặp đối với phần doanh thu đã chịu thuế ở công đoạn trƣớc. Ðiều đó mang tính bất hợp lý, tác động tiêu cực đến sản xuất và lƣu thông hàng hoá. Với tính đặc điểm của thuế giá trị gia tăng là Nhà nƣớc chỉ thu thuế đối với phần giá trị tăng thêm của các sản phẩm ở từng khâu sản xuất, lƣu thông mà không thu thuế đối với toàn bộ doanh thu phát sinh nhƣ thuế doanh thu.
Trong điều kiện nền kinh tế ổn định có sự tăng trƣởng bình thƣờng, việc áp dụng thuế giá trị gia tăng thay cho thuế doanh thu sẽ không ảnh hƣởng gì đến giá cả các sản phẩm tiêu dùng, mà trái lại giá cả càng hợp lý hơn, chính xác hơn vì tránh đƣợc việc đánh thuế chồng lên thuế, do đó, thuế GTGT có tác dụng khuyến khích sản xuất cũng nhƣ tiêu dùng trong nền kinh tế thị trƣờng. Ðối với hoạt động xuất nhập khẩu, số thuế giá trị gia tăng đầu vào của hàng hóa xuất khẩu đƣợc khấu trừ, hoàn thuế có tác dụng giảm chi phí, hạ giá thành sản phẩm, nâng cao năng lực cạnh tranh cho hàng xuất khẩu, khuyến khích, thúc đẩy xuất khẩu. Theo nghiên cứu và thống kê của ngân hàng thế giới (W ) và Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) thì phần lớn các nƣớc trong đó có cả Việt Nam sau khi áp dụng thuế giá trị gia tăng, giá cả các loại hàng hoá, dịch vụ đều không thay đổi hay chỉ thay đổi một tỷ lệ không đáng kể và mức sản xuất của các doanh nghiệp, mức tiêu dùng của dân chúng không sút giảm, hay chỉ suất giảm một tỷ lệ nhỏ trong thời gian đầu, kể cả các trƣờng hợp điều chỉnh tăng thuế suất thuế giá trị gia tăng đối với một số mặt hàng theo định kỳ. Nhƣ vậy ta có thể thấy rằng thuế giá trị gia tăng không phải là một nhân tố gây ra lạm phát, gây 9 khó khăn trở ngại cho việc phát triển sản xuất, lƣu thông hàng hoá mà trái lại, việc áp dụng thuế giá trị gia tăng đã góp phần ổn định giá cả, mở rộng lƣu thông hàng hoá, góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển và đẩy mạnh xuất khẩu.
- Thuế GTGT khuyến khích đầu tư, thúc đẩy phát triển sản xuất kinh doanh. Việc thực hiện luật thuế GTGT tạo điều kiện cho giá thành các công trình đầu tƣ xây dựng cơ bản, giảm so với trƣớc đây, toàn bộ thuế GTGT của công trình xây dựng cơ bản đƣợc hạch toán riêng không tính vào giá thành công trình nhƣ thuế doanh thu, vì vậy chi phí khấu hao tài sản cũng giảm thấp hơn. Các doanh nghiệp mua sắm tài sản cố định có thuế GTGT đều đƣợc khấu trừ hoặc hoàn thuế. Thực hiện thuế GTGT còn thúc đẩy sản xuất kinh doanh, lƣu thông hàng hóa phát triển do thuế GTGT chỉ thu thêm giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ qua các khâu sản xuất, lƣu thông đến khâu tiêu dùng cuối cùng với 2 phƣơng pháp tính thuế: phƣơng pháp khấu trừ và phƣơng pháp trực tiếp trong đó áp dụng chủ yếu là phƣơng pháp khấu trừ thuế đã khắc phục đƣợc nhƣợc điểm của thuế doanh thu là thuế chồng lên thuế, đã thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa sản xuất nhƣ: lắp ráp xe máy, ô tô , điện tử.
- Thuế GTGT góp phần minh bạch hóa trong các giao dịch kinh tế, thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh, thúc đẩy nền kinh tế triển lành mạnh. Do tính chất của thuế GTGT là chỉ đánh trên phần giá trị tăng thêm của các khâu sản xuất kinh doanh, thuế đánh ở khâu sau đƣợc phép khấu trừ phần đã nộp ở khâu trƣớc, nên đã nâng cao đƣợc tính tự giác trong việc thực hiện mua bán hàng hoá có hoá đơn chứng từ. Việc tính thuế đầu ra đƣợc khấu trừ số thuế đầu vào là biện pháp kinh tế góp phần thúc đẩy cả ngƣời mua và ngƣời bán cùng thực hiện tốt hơn chế độ hoá đơn, chứng từ. Việc kiểm tra thuế giá trị gia tăng cũng có mặt thuận lợi vì đã buộc ngƣời mua, ngƣời bán phải nộp và lƣu giữ chứng từ, hoá đơn đầy đủ nên việc thu thuế tƣơng đối sát với hoạt động kinh doanh từ đó tập trung đƣợc nguồn thu thuế giá trị gia tăng vào ngân 10 sách nhà nƣớc ngay từ khâu sản xuất và thu thuế ở khâu sau còn kiểm tra đƣợc việc tính thuế, nộp thuế ở khâu trƣớc nên hạn chế thất thu về thuế.
Nguyên tắc đánh thuế của thuế giá trị gia tăng: Nguyên tắc đánh thuế GTGT là đánh trên khoản giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lƣu thông đến tiêu dùng và đƣợc nộp vào ngân sách Nhà nƣớc theo mức độ tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ. Một trong những nguyên tắc cơ bản của thuế giá trị gia tăng là sản phẩm, hàng hoá dù qua nhiều khâu hay ít khâu từ sản xuất đến tiêu dùng, đều chịu thuế nhƣ nhau. Ngƣời bán hàng (hoặc cung cấp dịch vụ) chỉ phải nộp thuế trên phần giá trị tăng thêm. Thuế giá trị gia tăng là loại thuế duy nhất thu theo phân đoạn chia nhỏ, trong quá trình sản xuất, lƣu thông hàng hoá (hoặc dịch vụ) từ khâu đầu tiên đến ngƣời tiêu dùng cuối cùng.
Ðến cuối chu kỳ sản xuất, kinh doanh hoặc cung cấp dịch vụ, tổng số thuế thu đƣợc ở các công đoạn sẽ khớp với số thuế tính trên giá bán hàng hoá hoặc giá dịch vụ cho ngƣời tiêu dùng cuối cùng. Thuế giá trị gia tăng không chịu ảnh hƣởng bởi kết qủa sản xuất, kinh doanh của đối tƣợng nộp thuế, không phải là yếu tố của chi phí mà chỉ đơn thuần là một khoản đƣợc cộng thêm vào giá bán của đối tƣợng cung cấp hàng hóa, dịch vụ. Thuế giá trị gia tăng do ngƣời tiêu dùng chịu nhƣng không phải do ngƣời tiêu dùng trực tiếp nộp mà là do ngƣời bán sản phẩm (hoặc dịch vụ) nộp thay vào NSNN, do trong giá bán hàng hoá (hoặc trong giá dịch vụ) đã bao gồm cả thuế giá trị gia tăng.