Dự Báo Thu Thuế Giá Trị Gia Tăng Tại Tổng Cục Thuế - Luận Văn Thạc Sĩ

Tài liệu nghiên cứu Dự báo thu thuế giá trị gia tăng tại tổng cục thuế bộ tài chính, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên sâu về kinh tế.

Trường đại học

Học viện Hành chính Quốc gia

Chuyên ngành

Tài chính - Ngân hàng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2019

122
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Dự Báo Thu Thuế GTGT Tại Tổng Cục Thuế

Thuế GTGT đóng vai trò quan trọng trong hệ thống thuế của Việt Nam, là nguồn thu ổn định cho ngân sách nhà nước và công cụ điều tiết kinh tế vĩ mô. Thuế giá trị gia tăng là loại thuế gián thu đánh vào phần giá trị tăng thêm qua mỗi khâu từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng. Những chính sách về thuế GTGT có tác động lớn đến đời sống xã hội và tăng trưởng kinh tế. Đến cuối năm 2016, tổng số thu từ thuế GTGT chiếm tỷ trong xấp xỉ 20% trong tổng thu NSNN. Trong bối cảnh kinh tế khó khăn, việc dự báo chính xác nguồn thu này trở nên vô cùng quan trọng để hoạch định chính sách và quản lý ngân sách nhà nước hiệu quả. Việc nghiên cứu và ứng dụng các mô hình dự báo thu thuế GTGT chuyên sâu là cần thiết để nâng cao chất lượng công tác này.

1.1. Vai Trò Của Thuế GTGT Trong Ngân Sách Nhà Nước

Thuế GTGT là nguồn thu chủ yếu của Ngân sách nhà nước. Tính đến cuối năm 2016, tổng số thu từ thuế GTGT chiếm tỷ trong xấp xỉ 20% trong tổng thu NSNN. Trong điều kiện kinh tế khó khăn hiện nay, cạnh tranh giữa các quốc gia trên thế giới bằng chính sách thuế diễn ra ngày càng gay gắt, thu ngân sách nhà nƣớc còn nhiều khó khăn, yêu cầu phải sử dụng các công cụ hiện đại về phân tích, dự báo thu để hoạch định chính sách thuế GTGT cũng nhƣ dự báo số thu thuế giá trị gia tăng.

1.2. Tầm Quan Trọng Của Dự Báo Thuế GTGT Chính Xác

Dự báo chính xác thuế GTGT giúp Chính phủ chủ động trong việc lập kế hoạch chi tiêu, điều chỉnh chính sách kinh tế vĩ mô và đảm bảo cân đối ngân sách nhà nước. Yêu cầu đặt ra hiện nay là cần có các công cụ, mô hình dự báo thu NSNN nói chung và thuế GTGT nói riêng để nâng cao chất lƣợng hoạch định chính sách cũng nhƣ công tác dự báo, lập dự toán thu ngân sách, đặc biệt trong bối cảnh phải thực hiện Luật NSNN năm 2015, từ năm 2017 Việt Nam sẽ bắt đầu triển khai lập kế hoạch tài chính trung hạn 3 năm và xây dựng kế hoạch tài chính 5 năm.

II. Thách Thức Trong Dự Báo Thu Thuế GTGT Tại TCT

Mặc dù có vai trò quan trọng, công tác dự báo thu thuế GTGT tại Tổng cục Thuế vẫn đối mặt với nhiều thách thức. Các phương pháp dự báo truyền thống chưa đáp ứng được yêu cầu trong bối cảnh kinh tế hội nhập và thay đổi nhanh chóng. Việc thiếu các mô hình dự báo chuyên sâu, dữ liệu đầy đủ và nguồn nhân lực chất lượng cao cũng là những rào cản lớn. Ngoài ra, sự phức tạp của hệ thống chính sách thuế và biến động của kinh tế vĩ mô cũng gây khó khăn cho việc đưa ra các dự báo chính xác. Cần có những giải pháp đồng bộ để nâng cao năng lực dự báo thu thuế GTGT của Tổng cục Thuế.

2.1. Hạn Chế Của Phương Pháp Dự Báo Thuế Truyền Thống

Việc áp dụng các phƣơng pháp phân tích dự báo truyền thống không đáp ứng đƣợc yêu cầu của công tác quản lý kinh tế tài chính của đất nƣớc trong giai đoạn hội nhập và thực hiện tiến trình cải cách, đổi mới. Tại Việt Nam chủ yếu vẫn sử dụng phƣơng pháp phân tích dự báo truyền thống, phân tích dự báo thu thông qua các mô hình mới chỉ ở mức nghiên cứu, thử nghiệm.

2.2. Thiếu Dữ Liệu Và Mô Hình Dự Báo Thuế GTGT Chuyên Sâu

Chƣa có một nghiên cứu chuyên sâu nào về các mô hình dự báo thu riêng đối với thuế GTGT. Những kết quả nghiên cứu cũng mới chỉ đƣợc áp dụng thử nghiệm để kiểm nghiệm kết quả thu đã thực hiện trong quá khứ, chƣa đƣợc nghiên cứu, đánh giá toàn diện để triển khai ứng dụng rộng rãi trong công tác hoạch định chính sách cũng nhƣ dự báo, lập dự toán thu NSNN.

2.3. Ảnh Hưởng Của Kinh Tế Vĩ Mô Đến Dự Báo Thuế

Biến động của các yếu tố kinh tế vĩ mô như tăng trưởng GDP, lạm phát, tỷ giá hối đoái có thể ảnh hưởng lớn đến nguồn thu thuế GTGT, gây khó khăn cho công tác dự báo. Đặc biệt trong bối cảnh kinh tế khó khăn hiện nay, cạnh tranh giữa các quốc gia trên thế giới bằng chính sách thuế diễn ra ngày càng gay gắt, thu ngân sách nhà nƣớc còn nhiều khó khăn, yêu cầu phải sử dụng các công cụ hiện đại về phân tích, dự báo thu để hoạch định chính sách thuế GTGT cũng nhƣ dự báo số thu thuế giá trị gia tăng.

III. Phương Pháp Dự Báo Thuế GTGT Tiên Tiến Cho TCT

Để nâng cao chất lượng dự báo thu thuế GTGT, Tổng cục Thuế cần áp dụng các phương pháp dự báo tiên tiến, dựa trên các mô hình kinh tế lượng và khai thác dữ liệu lớn. Các mô hình này có thể giúp phân tích sâu hơn các yếu tố ảnh hưởng đến thuế GTGT, từ đó đưa ra các dự báo chính xác hơn. Việc kết hợp các phương pháp định lượng và định tính, cùng với việc sử dụng các công cụ phân tích hiện đại, sẽ giúp Tổng cục Thuế nâng cao năng lực dự báo thu thuế GTGT và đáp ứng yêu cầu quản lý ngân sách nhà nước trong tình hình mới.

3.1. Ứng Dụng Mô Hình Kinh Tế Lượng Trong Dự Báo Thuế

Các mô hình kinh tế lượng cho phép phân tích mối quan hệ giữa thuế GTGT và các yếu tố kinh tế vĩ mô, từ đó xây dựng các phương trình dự báo chính xác hơn. Tại Việt Nam, hiện nay, việc nghiên cứu ứng dụng các mô hình dự báo thu ngân sách nói chung mới đƣợc nghiên cứu ở mức tổng quát vĩ mô nhƣ: “Mô hình kinh tế lƣợng thử nghiệm dự báo về thuế tiêu thụ đặc biệt” - đề tài cấp Bộ do Vụ Chính sách thuế thực hiện năm 2003 hay “Thử nghiệm áp dụng mô hình kinh tế lƣợng trong phân tích, dự báo thu ngân sách nhà nƣớc” - Đề tài cấp Bộ của Vụ chính sách thuế - năm 2005.

3.2. Khai Thác Dữ Liệu Lớn Để Dự Báo Thuế GTGT

Việc khai thác và phân tích dữ liệu lớn về thuế GTGT, kinh tế vĩ mô và các yếu tố liên quan có thể giúp phát hiện các xu hướng và mô hình ẩn, từ đó cải thiện độ chính xác của dự báo thu thuế. Tổng cục Thuế đã thông qua tại Quyết định số 530/QĐ-TCT ngày 2/5/2012. (iv) Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ Tài chính năm 2013, “Hoàn thiện quy trình, phƣơng pháp xây dựng dự 3 toán thu NSNN”, ùi Văn Nam, Tổng cục trƣởng Tổng cục Thuế, đơn vị thực hiện: Vụ Dự toán thu thuế, 2014.

3.3. Kết Hợp Phương Pháp Định Lượng Và Định Tính

Sự kết hợp giữa các phương pháp định lượng (mô hình kinh tế lượng, khai thác dữ liệu) và định tính (ý kiến chuyên gia, phân tích chính sách) sẽ giúp đưa ra các dự báo toàn diện và chính xác hơn. Phƣơng pháp luận chủ yếu đƣợc sử dụng là phƣơng pháp duy vật biện chứng và phƣơng pháp duy vật lịch sử đƣợc thực hiện xuyên suốt trong quá trình nghiên cứu lí luận và thực tiễn liên quan đến đề tài nghiên cứu. Phƣơng pháp cụ thể đƣợc sử dụng chủ yếu là phƣơng pháp suy diễn thống kê kết hợp với một số mô hình kinh tế để có thể ứng dụng trong phân tích, dự báo thu thuế GTGT.

IV. Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dự Báo Thuế GTGT Tại TCT

Để nâng cao chất lượng dự báo thu thuế GTGT tại Tổng cục Thuế, cần có các giải pháp đồng bộ về đổi mới phương pháp dự báo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, hệ thống hóa cơ sở dữ liệu và hoàn thiện chính sách thuế. Việc đầu tư vào công nghệ thông tin, đào tạo chuyên gia và xây dựng cơ sở dữ liệu đầy đủ là rất quan trọng. Ngoài ra, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các đơn vị liên quan để đảm bảo tính chính xác và kịp thời của các dự báo.

4.1. Đổi Mới Phương Pháp Dự Báo Thuế GTGT

Cần chuyển từ các phương pháp dự báo truyền thống sang các phương pháp tiên tiến, dựa trên các mô hình kinh tế lượng và khai thác dữ liệu lớn. Nhóm giải pháp về đổi mới phƣơng pháp dự báo thu thuế GTGT bằng các mô hình dự báo tiên tiến.

4.2. Nâng Cao Chất Lượng Nguồn Nhân Lực Dự Báo Thuế

Cần đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ chuyên gia có trình độ cao về kinh tế lượng, thống kê và phân tích dữ liệu để thực hiện công tác dự báo. Nhóm giải pháp về nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực làm công tác dự báo thu thuế.

4.3. Hệ Thống Hóa Cơ Sở Dữ Liệu Về Thuế GTGT

Cần xây dựng cơ sở dữ liệu đầy đủ, chính xác và kịp thời về thuế GTGT, kinh tế vĩ mô và các yếu tố liên quan để phục vụ cho công tác dự báo. Nhóm giải pháp về Hệ thống hóa cơ sở dữ liệu về thuế GTGT phục vụ cho phân tích, dự báo thu thuế GTGT.

V. Ứng Dụng Thực Tiễn Và Kết Quả Dự Báo Thuế GTGT

Việc ứng dụng các mô hình dự báo thu thuế GTGT tiên tiến sẽ giúp Tổng cục Thuế đưa ra các dự báo chính xác hơn, từ đó nâng cao hiệu quả quản lý ngân sách nhà nước. Các dự báo này có thể được sử dụng để lập kế hoạch chi tiêu, điều chỉnh chính sách kinh tế vĩ mô và đánh giá hiệu quả hoạt động của ngành thuế. Ngoài ra, việc so sánh các dự báo với kết quả thực tế sẽ giúp đánh giá độ chính xác của các mô hình và cải thiện chúng trong tương lai.

5.1. Sử Dụng Dự Báo Thuế Để Lập Kế Hoạch Chi Tiêu

Các dự báo chính xác về thuế GTGT giúp Chính phủ lập kế hoạch chi tiêu hợp lý, đảm bảo cân đối ngân sách nhà nước và đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Đối với công tác xây dựng dự toán thu thuế: Kết quả mô hình dự báo số thu NS đƣợc sử dụng làm căn cứ để thực hiện xây dựng dự toán, thảo luận và giao dự toán thu NS hàng năm cho các địa phƣơng.

5.2. Đánh Giá Hiệu Quả Hoạt Động Của Ngành Thuế

Việc so sánh các dự báo với kết quả thực tế giúp đánh giá hiệu quả hoạt động của ngành thuế và xác định các lĩnh vực cần cải thiện. Đối với công tác quản lý: Kết quả của mô hình dự báo thu đƣợc sử dụng trong đánh giá mức độ tuân thủ của ngƣời nộp thuế và chất lƣợng công tác quản lý thu đối với thuế GTGT.

5.3. Điều Chỉnh Chính Sách Thuế GTGT Phù Hợp

Các dự báo về thuế GTGT có thể được sử dụng để đánh giá tác động của các chính sách thuế và điều chỉnh chúng cho phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội. Đối với công tác hoạch định chính sách: Sử dụng mô hình dự báo thuế GTGT phục vụ cho công tác hoạch định chính sách thuế GTGT đáp ứng yêu cầu điều tiết vĩ mô nền kinh tế và phát triển KTXH trong giai đoạn hội nhập và phát triển.

VI. Kết Luận Và Tương Lai Của Dự Báo Thuế GTGT Tại TCT

Công tác dự báo thu thuế GTGT đóng vai trò then chốt trong quản lý ngân sách nhà nước và hoạch định chính sách kinh tế. Việc áp dụng các phương pháp dự báo tiên tiến, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và hệ thống hóa cơ sở dữ liệu là những yếu tố quan trọng để nâng cao năng lực dự báo thu thuế GTGT của Tổng cục Thuế. Trong tương lai, với sự phát triển của công nghệ và sự hợp tác chặt chẽ giữa các đơn vị liên quan, công tác dự báo thu thuế GTGT sẽ ngày càng chính xác và hiệu quả hơn, góp phần vào sự phát triển bền vững của đất nước.

6.1. Tầm Quan Trọng Của Dự Báo Thuế Trong Quản Lý Ngân Sách

Dự báo chính xác thuế GTGT giúp Chính phủ quản lý ngân sách nhà nước hiệu quả, đảm bảo cân đối thu chi và đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Thuế GTGT đƣợc áp dụng tại Việt Nam bắt đầu từ năm 1999 thay thế cho thuế doanh thu đã tồn tại trong một thời gian dài. Kể từ khi áp dụng đến nay, thuế GTGT đã phát huy tốt vai trò là một trong các sắc thuế chính của hệ thống thuế hiện đại của Việt Nam.

6.2. Xu Hướng Phát Triển Của Dự Báo Thuế GTGT

Trong tương lai, công tác dự báo thu thuế GTGT sẽ ngày càng dựa trên các mô hình kinh tế lượng phức tạp, khai thác dữ liệu lớn và sử dụng trí tuệ nhân tạo. Xu hƣớng đổi mới, cải cách, hiện đại hóa công tác phân tích, dự báo thu thuế GTGT trên thế giới.

6.3. Hợp Tác Để Nâng Cao Chất Lượng Dự Báo Thuế

Sự hợp tác chặt chẽ giữa các đơn vị liên quan, các chuyên gia trong và ngoài nước là rất quan trọng để nâng cao chất lượng dự báo thu thuế GTGT. Hiện nay, trong cơ quan ộ Tài chính đã có Viện chiến lƣợc chính sách tài chính, Viện Khoa học Tài chính (thuộc Học viện Tài chính) và Vụ Chính sách thuế nghiên cứu và xây dựng một số mô hình phân tích, dự báo thu bằng mô hình kinh tế lƣợng sử dụng trong công tác dự báo thu và hoạch định chính sách thu khi tham gia hội nhập…

06/06/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG VÀ DỰ BÁO THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG 1. Cơ sở lý luận chung về thuế giá trị gia tăng 1. Khái niệm: Thuế giá trị gia tăng là loại thuế gián thu đánh trên phần giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ qua các khâu từ sản xuất, lƣu thông đến tiêu dùng. Vào năm 1954, Pháp là nƣớc đầu tiên trên thế giới ban hành Luật Thuế giá trị gia tăng -Taxe sur la Valeur Ajou tée (viết tắc là TVA), tiếng Anh gọi là Value Added Tax (viết tắt là VAT).

Ngày nay, thuế giá trị gia tăng đã đƣợc nghiên cứu và áp dụng rộng rãi tại hơn 150 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới nhƣ: khối Liên minh Châu Âu (EU), châu Phi, châu Mỹ La Tinh và một số quốc gia Châu Á trong đó có Việt Nam. Tại Việt Nam, Luật thuế GTGT đƣợc xây dựng và thông qua tại kỳ họp lần thứ 11 Quốc hội khoá 9 và có hiệu lực thi hành bắt đầu từ ngày 1/1/1999 và đã dần đƣợc hoàn thiện qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung nhiều lần vào các năm 2003, 2008, 2013, 2014, 2016 theo hƣớng ngày càng minh bạch, đơn giản, và công bằng, qua quá trình triển khai thực hiện, Luật thuế GTGT đã có những đóng góp tích cực cho ngân sách nhà nƣớc cũng nhƣ phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam. Theo quy định của Luật thuế giá trị gia tăng thì thuế giá trị gia tăng là một loại thuế gián thu đánh trên giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng. Ðây là một loại thuế đánh vào mỗi giai đoạn từ khâu sản xuất, lƣu thông sản phẩm hàng hoá, từ khi còn là nguyên liệu thô sơ cho đến sản phẩm hoàn thành và cuối cùng là khâu tiêu dùng sản phẩm hàng hóa, dịch vụ và do ngƣời tiêu dùng chịu khi mua hàng hoá, sử dụng dịch vụ.

Vai trò của thuế giá trị gia tăng Cũng nhƣ các sắc thuế khác, Thuế giá trị gia tăng thực hiện hai chức năng cơ bản của thuế là huy động nguồn lực cho ngân sách quốc gia và điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Tuy nhiên, trong tổng số các khoản thu, sắc thuế hiện hành của Việt Nam, thuế GTGT có vai trò đặc biệt, là sắc thuế chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng thu ngân sách quốc gia và là loại thuế có tác động sâu rộng nhất đối với nền kinh tế. Đối với thu ngân sách nhà nước Thuế giá trị gia tăng thuộc loại thuế gián thu và đƣợc áp dụng rộng rãi đối với mọi tổ chức, cá nhân có tiêu dùng sản phẩm hàng hoá hoặc đƣợc cung ứng dịch vụ, nên tạo đƣợc nguồn thu lớn và tƣơng đối ổn định cho ngân sách nhà nƣớc. Nếu không kể số thuế thu từ dầu thô thì thuế GTGT hiện là sắc thuế chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng thu NSNN và đang có xu hƣớng tăng cả về quy mô và tỷ trọng thu trong tổng thu NSNN (giai đoạn 2006-2010 chiếm 22,6% tổng thu NSNN, giai đoạn 2011-2015 tăng lên 25,6%, giai đoạn 2016- 2018 chiếm 24,3% tổng thu NSNN).

Hiện tại, số thu từ thuế GTGT là khoản thu có điều tiết về NS trung ƣơng theo tỷ lệ nhất định đối với một số địa phƣơng có số thu lớn, do đó, đây là nguồn thu quan trọng giúp đảm bảo cân đối NS trung ƣơng, góp phần đáp ứng các nhiệm vụ chi của Chính phủ. Đối với việc điều tiết vĩ mô nền kinh tế Thuế GTGT là công cụ rất quan trọng để Nhà nƣớc thực hiện chức năng quản lý vĩ mô đối với nền kinh tế. Nền kinh tế nƣớc ta đang trong quá trình vận hành theo cơ chế thị trƣờng có sự quản lý của nhà nƣớc, do đó thuế giá trị gia tăng có vai trò rất quan trọng nhƣ sau: - Thuế giá trị gia tăng đã góp phần ổn định giá cả, mở rộng lƣu thông hàng hoá, đẩy mạnh xuất khẩu. Năm 1998 trở về trƣớc, Luật thuế doanh thu quy định doanh thu phát sinh là cơ sở để thực hiện chế độ thu nộp 8 thuế.

Do đó Nhà nƣớc đánh thuế trên toàn bộ doanh thu phát sinh của sản phẩm qua mỗi lần chuyển dịch từ khâu sản xuất, lƣu thông đến tiêu dùng. Nếu các sản phẩm, hàng hoá chịu thuế càng qua nhiều khâu thì số thuế Nhà nƣớc thu cũng tăng thêm qua các khâu nên việc áp dụng thuế doanh thu dẫn đến tình trạng thuế thu trùng lặp đối với phần doanh thu đã chịu thuế ở công đoạn trƣớc. Ðiều đó mang tính bất hợp lý, tác động tiêu cực đến sản xuất và lƣu thông hàng hoá. Với tính đặc điểm của thuế giá trị gia tăng là Nhà nƣớc chỉ thu thuế đối với phần giá trị tăng thêm của các sản phẩm ở từng khâu sản xuất, lƣu thông mà không thu thuế đối với toàn bộ doanh thu phát sinh nhƣ thuế doanh thu.

Trong điều kiện nền kinh tế ổn định có sự tăng trƣởng bình thƣờng, việc áp dụng thuế giá trị gia tăng thay cho thuế doanh thu sẽ không ảnh hƣởng gì đến giá cả các sản phẩm tiêu dùng, mà trái lại giá cả càng hợp lý hơn, chính xác hơn vì tránh đƣợc việc đánh thuế chồng lên thuế, do đó, thuế GTGT có tác dụng khuyến khích sản xuất cũng nhƣ tiêu dùng trong nền kinh tế thị trƣờng. Ðối với hoạt động xuất nhập khẩu, số thuế giá trị gia tăng đầu vào của hàng hóa xuất khẩu đƣợc khấu trừ, hoàn thuế có tác dụng giảm chi phí, hạ giá thành sản phẩm, nâng cao năng lực cạnh tranh cho hàng xuất khẩu, khuyến khích, thúc đẩy xuất khẩu. Theo nghiên cứu và thống kê của ngân hàng thế giới (W ) và Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) thì phần lớn các nƣớc trong đó có cả Việt Nam sau khi áp dụng thuế giá trị gia tăng, giá cả các loại hàng hoá, dịch vụ đều không thay đổi hay chỉ thay đổi một tỷ lệ không đáng kể và mức sản xuất của các doanh nghiệp, mức tiêu dùng của dân chúng không sút giảm, hay chỉ suất giảm một tỷ lệ nhỏ trong thời gian đầu, kể cả các trƣờng hợp điều chỉnh tăng thuế suất thuế giá trị gia tăng đối với một số mặt hàng theo định kỳ. Nhƣ vậy ta có thể thấy rằng thuế giá trị gia tăng không phải là một nhân tố gây ra lạm phát, gây 9 khó khăn trở ngại cho việc phát triển sản xuất, lƣu thông hàng hoá mà trái lại, việc áp dụng thuế giá trị gia tăng đã góp phần ổn định giá cả, mở rộng lƣu thông hàng hoá, góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển và đẩy mạnh xuất khẩu.

- Thuế GTGT khuyến khích đầu tư, thúc đẩy phát triển sản xuất kinh doanh. Việc thực hiện luật thuế GTGT tạo điều kiện cho giá thành các công trình đầu tƣ xây dựng cơ bản, giảm so với trƣớc đây, toàn bộ thuế GTGT của công trình xây dựng cơ bản đƣợc hạch toán riêng không tính vào giá thành công trình nhƣ thuế doanh thu, vì vậy chi phí khấu hao tài sản cũng giảm thấp hơn. Các doanh nghiệp mua sắm tài sản cố định có thuế GTGT đều đƣợc khấu trừ hoặc hoàn thuế. Thực hiện thuế GTGT còn thúc đẩy sản xuất kinh doanh, lƣu thông hàng hóa phát triển do thuế GTGT chỉ thu thêm giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ qua các khâu sản xuất, lƣu thông đến khâu tiêu dùng cuối cùng với 2 phƣơng pháp tính thuế: phƣơng pháp khấu trừ và phƣơng pháp trực tiếp trong đó áp dụng chủ yếu là phƣơng pháp khấu trừ thuế đã khắc phục đƣợc nhƣợc điểm của thuế doanh thu là thuế chồng lên thuế, đã thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa sản xuất nhƣ: lắp ráp xe máy, ô tô , điện tử.

- Thuế GTGT góp phần minh bạch hóa trong các giao dịch kinh tế, thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh, thúc đẩy nền kinh tế triển lành mạnh. Do tính chất của thuế GTGT là chỉ đánh trên phần giá trị tăng thêm của các khâu sản xuất kinh doanh, thuế đánh ở khâu sau đƣợc phép khấu trừ phần đã nộp ở khâu trƣớc, nên đã nâng cao đƣợc tính tự giác trong việc thực hiện mua bán hàng hoá có hoá đơn chứng từ. Việc tính thuế đầu ra đƣợc khấu trừ số thuế đầu vào là biện pháp kinh tế góp phần thúc đẩy cả ngƣời mua và ngƣời bán cùng thực hiện tốt hơn chế độ hoá đơn, chứng từ. Việc kiểm tra thuế giá trị gia tăng cũng có mặt thuận lợi vì đã buộc ngƣời mua, ngƣời bán phải nộp và lƣu giữ chứng từ, hoá đơn đầy đủ nên việc thu thuế tƣơng đối sát với hoạt động kinh doanh từ đó tập trung đƣợc nguồn thu thuế giá trị gia tăng vào ngân 10 sách nhà nƣớc ngay từ khâu sản xuất và thu thuế ở khâu sau còn kiểm tra đƣợc việc tính thuế, nộp thuế ở khâu trƣớc nên hạn chế thất thu về thuế.

Nguyên tắc đánh thuế của thuế giá trị gia tăng: Nguyên tắc đánh thuế GTGT là đánh trên khoản giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lƣu thông đến tiêu dùng và đƣợc nộp vào ngân sách Nhà nƣớc theo mức độ tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ. Một trong những nguyên tắc cơ bản của thuế giá trị gia tăng là sản phẩm, hàng hoá dù qua nhiều khâu hay ít khâu từ sản xuất đến tiêu dùng, đều chịu thuế nhƣ nhau. Ngƣời bán hàng (hoặc cung cấp dịch vụ) chỉ phải nộp thuế trên phần giá trị tăng thêm. Thuế giá trị gia tăng là loại thuế duy nhất thu theo phân đoạn chia nhỏ, trong quá trình sản xuất, lƣu thông hàng hoá (hoặc dịch vụ) từ khâu đầu tiên đến ngƣời tiêu dùng cuối cùng.

Ðến cuối chu kỳ sản xuất, kinh doanh hoặc cung cấp dịch vụ, tổng số thuế thu đƣợc ở các công đoạn sẽ khớp với số thuế tính trên giá bán hàng hoá hoặc giá dịch vụ cho ngƣời tiêu dùng cuối cùng. Thuế giá trị gia tăng không chịu ảnh hƣởng bởi kết qủa sản xuất, kinh doanh của đối tƣợng nộp thuế, không phải là yếu tố của chi phí mà chỉ đơn thuần là một khoản đƣợc cộng thêm vào giá bán của đối tƣợng cung cấp hàng hóa, dịch vụ. Thuế giá trị gia tăng do ngƣời tiêu dùng chịu nhƣng không phải do ngƣời tiêu dùng trực tiếp nộp mà là do ngƣời bán sản phẩm (hoặc dịch vụ) nộp thay vào NSNN, do trong giá bán hàng hoá (hoặc trong giá dịch vụ) đã bao gồm cả thuế giá trị gia tăng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Dự Báo Thu Thuế Giá Trị Gia Tăng Tại Tổng Cục Thuế" cung cấp cái nhìn sâu sắc về xu hướng thu thuế giá trị gia tăng tại Việt Nam, phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến doanh thu thuế và dự báo các kịch bản trong tương lai. Bài viết không chỉ giúp người đọc hiểu rõ hơn về chính sách thuế mà còn chỉ ra những lợi ích mà việc dự báo này mang lại cho các doanh nghiệp và cơ quan quản lý. Đặc biệt, tài liệu này có thể hỗ trợ các nhà đầu tư và doanh nghiệp trong việc lập kế hoạch tài chính và chiến lược kinh doanh hiệu quả hơn.

Nếu bạn muốn mở rộng kiến thức về các vấn đề liên quan đến pháp luật và quản lý, hãy tham khảo thêm các tài liệu như Luận văn thạc sĩ luật học pháp luật về ưu đãi đầu tư ở việt nam và thực tiễn thực hiện tại tỉnh thanh hoá, nơi bạn có thể tìm hiểu về các chính sách ưu đãi đầu tư và tác động của chúng đến nền kinh tế. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ luật học pháp luật ưu đãi người có công với cách mạng và thực tiễn áp dụng tại tỉnh sơn la cũng sẽ cung cấp cái nhìn về các chính sách ưu đãi và thực tiễn áp dụng trong lĩnh vực này. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ thống kê kinh tế phân tích tăng trưởng kinh tế tỉnh quảng ngãi sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về sự phát triển kinh tế và các yếu tố ảnh hưởng đến tăng trưởng trong khu vực. Những tài liệu này sẽ là nguồn thông tin quý giá để bạn có thể nắm bắt và áp dụng vào thực tiễn.