MỞ ĐẦU Mưa dông là hiện tượng thời tiết nguy hiểm thường xuyên xảy ra tại khu vực Nam Bộ nói chung và Thành phố Hồ Chí Minh (TPHCM) nói riêng. Hiện tượng mưa dông tuy không phải là hiện tượng diễn ra trong thời gian dài nhưng đối với những trận mưa to hoặc mưa rất to cục bộ kèm theo dông, sét thì hậu quả để lại là không hề nhỏ. Nhất là trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng diễn biến phức tạp và đó cũng chính là một trong những nguyên nhân khiến cho các hiện tượng nguy hiểm như mưa dông ngày càng khó dự báo hơn. Trong những năm gần đây các trận mưa dông cục bộ tại Thành phố Hồ Chí Minh ngày càng để lại nhiều hậu quả nghiêm trọng.
Những tháng đầu mùa mưa năm 2021, đã có không ít sự việc cây gãy đổ trên đường do gió giật mạnh trong cơn dông, gây ra thiệt hại cả về người và của. Còn trước đó trong năm 2020, trận mưa lớn gây sụt lún đất tạo ra hố tử thần đe dọa đến an toàn của các phương tiện trên đường. Không những thế, ngập úng diện rộng, giao thông ách tắc hàng giờ liên tục khiến cho người dân gặp khó khăn trên đường về nhà. Không chỉ riêng thời kì đầu mùa mưa, mà trong xuyên suốt mùa mưa thì những đợt mưa dông với lượng mưa lớn chỉ kéo dài trong vài tiếng cũng để lại nhiều hậu quả nặng nề.
Chính vì vậy mà công tác dự báo, cảnh báo mưa dông là việc làm cần thiết và ngày càng được chú trọng bởi các cơ quan ban ngành. Các nghiên cứu về công cụ, phương tiện phục vụ công tác dự báo và cảnh báo mưa dông ở nước ta vẫn rất được chú trọng nhưng chủ yếu là sử dụng các sản phẩm từ vệ tinh, radar, số liệu thám không vô tuyến, số liệu dự báo từ các mô hình toàn cầu. Tất cả các công cụ cảnh báo mưa định lượng hạn ngắn trước đây đều sử dụng nguồn số liệu quan trắc, thám sát thời gian thực như radar, ảnh mây vệ tinh. Những năm gần đây khi công nghệ đồng hóa số liệu ngày càng phát triển thì các nguồn số liệu thám sát được cập nhật trực tiếp vào mô hình số trị để đưa ra dự báo mưa, từ đó các sai số được giảm bớt và chất lượng các bản tin dự báo mưa định lượng cũng cao hơn.
Tuy nhiên, nguồn số liệu thám sát hiện có trên khu vực Nam Bộ nói chung và TPHCM thu thập từ mạng lưới các trạm quan trắc, radar, thám không vô tuyến trên 1 địa bàn lại có mật độ rất thưa thớt, vị trí các trạm cách xa nhau, các thiết bị thám sát đã lỗi thời. Vì vậy, những sản phẩm dự báo mưa định lượng của mô hình số trị cho khu vực TPHCM vẫn có sai số nhất định trong quá trình dự báo hướng di chuyển, quá trình phát triển cũng như cường độ của những vùng mây dông. Do vậy, để có thể nâng cao chất lượng dự báo mưa định lượng và tận dụng hiệu quả hơn các nguồn số liệu viễn thám thì việc nghiên cứu một công cụ khác có thể kết hợp cả mô hình số trị và dữ liệu mây vệ tinh là việc làm cần thiết, trong đề tài này sẽ hướng đến nghiên cứu bộ công cụ dự báo mưa dông hạn cực ngắn Rapid Developping Thunderstorm (RDT- CW) để hỗ trợ dự báo cho khu vực TPHCM. TỔNG QUAN VỀ VỊ TRÍ ĐỊA LÍ, ĐỊA HÌNH VÀ KHÍ HẬU CỦA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 1.
Vị trí địa lí và đặc điểm địa hình Thành phố Hồ Chí Minh có vị trí địa lí lả 10°10' – 10°38' Bắc và 106°22' – 106°54' Đông, nằm trong vùng chuyển tiếp giữa miền Ðông Nam bộ và đồng bằng sông Cửu Long. Ðịa hình thấp dần từ Bắc xuống Nam và từ Ðông sang Tây. Có thể chia thành 3 tiểu vùng địa hình: Vùng cao nằm ở phía Bắc – Ðông Bắc và một phần Tây Bắc (thuộc bắc huyện Củ Chi, đông bắc quận Thủ Ðức và quận 9). Vùng thấp trũng ở phía Nam – Tây Nam và Ðông Nam thành phố (thuộc các quận 9, 8, 7 và các huyện Bình Chánh, Nhà Bè, Cần Giờ).
Vùng trung bình, phân bố ở khu vực Trung tâm Thành phố, gồm phần lớn nội thành cũ, một phần các quận 2, Thủ Ðức, toàn bộ quận 12 và huyện Hóc Môn. Bản đồ hành chính Thành phố Hồ Chí Minh 1. Đặc điểm khí hậu Trong năm có hai mùa mưa - khô với các đặc trưng thời tiết khác nhau rõ rệt. Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau.
Biểu đồ tổng lượng mưa TBNN từ 1984-2017 tại TPHCM Lượng mưa trung bình nhiều năm tính từ 1984-2017 là 1. Như trên hình 1.3 có thể thấy lượng mưa hàng năm tập trung hầu hết vào các tháng từ tháng 5 đến tháng 11; trong đó hai tháng 9 và 10 có lượng mưa cao nhất, 3 tháng đầu năm mưa rất ít. Là một phần của khu vực Đông Nam Bộ nên TPHCM cũng chịu ảnh hưởng bởi hai hướng gió chính là gió mùa Tây Nam và Ðông Bắc. Thời kỳ hoạt động phổ biến của gió Tây Nam là khoảng từ tháng 6 đến tháng 10 (mùa mưa).
Trong khi đó, gió Ðông Bắc hoạt động từ tháng 11 đến tháng 2 (mùa khô). Ngoài hai hướng gió chủ đạo nói trên, khu vực TPHCM còn chịu ảnh hưởng bởi gió tín phong, hướng Nam - Ðông Nam, khoảng từ tháng 3 đến tháng 5. ĐẶC ĐIỂM MƯA DÔNG VÀ CÁC HÌNH THẾ GÂY MƯA DÔNG TẠI KHU VỰC TPHCM 1. Đặc điểm mưa dông tại TPHCM Từ chuỗi số liệu quan trắc bề mặt tại trạm Nhà Bè trong năm 2020 – 2021, thống kê số ngày quan trắc được dông trong tháng, tính tần suất và vẽ biểu đồ.
Biểu đồ tần suất dông năm 2020-2021 trạm Nhà Bè Tháng 1-3: hầu như không có dông, chỉ riêng tháng 2-2021 là có dông nhưng tần suất rất thấp (dưới 5%). Tháng 4-10: thời kì mùa dông tại TPHCM khi tần suất tăng nhanh và đạt cao nhất vào khoảng tháng 8-9. Tháng 11: dông bắt đầu xảy ra ít dần và gần như kết thúc. Tháng 12: năm 2020 dông có tần suất 10% trong khi năm 2021 không xảy ra dông trong tháng này.
Nhận xét Tháng 1 đến tháng 3: hầu như không có dông, đây cũng là thời kì mùa khô trong năm tại khu vực TPHCM. Như vậy, trong mùa khô, dông hầu như không xảy ra, chỉ có mưa trái mùa. Tháng 4 thời kì chuyển từ mùa khô sang mùa mưa, dông bắt đầu xảy ra nhiều hơn hẳn 3 tháng đầu năm nhưng mưa vẫn rất ít. Trong khi đó, vào tháng 11 khi chuyển từ mùa mưa sang mùa khô, tần suất dông giảm mạnh nhưng tổng lượng mưa tháng 11 vẫn cao hơn tháng 4.
Như vậy, trong các giai đoạn chuyển mùa, tuy là thời kỳ khí quyển bất ổn định nhưng hiện tượng mưa có kèm theo dông cũng không xảy ra nhiều. Từ tháng 5 đến tháng 10 là thời gian mùa mưa, cũng chính là thời kỳ tập trung mưa dông tại khu vực nghiên cứu. Các hình thế gây mưa dông tại TPHCM Mùa mưa dông ở TPHCM từ tháng 5 đến tháng 10, trùng với thời kì mùa mưa nên các hình thế gây mưa dông cũng chính là những hình thế thời tiết điển hình trong mùa mưa tại khu vực Nam Bộ. Những hình thế thời tiết ảnh hưởng chính trong mùa mưa Nam Bộ gồm gió mùa Tây Nam, rãnh xích đạo, dải hội tụ nhiệt đới, áp thấp nhiệt đới, bão hoặc sự kết hợp của hai hay nhiều hình thế kể trên.
Ngoài ra, một vài cơn mưa dông trong thời kì chuyển mùa xảy ra do tác động của sóng đông do sự dịch chuyển trục của áp cao cận nhiệt đới trên cao. Rãnh xích đạo Dải áp thấp nằm giữa hai đới áp cao cận nhiệt đới là rãnh xích đạo, chủ yếu trên dải áp thấp này là hoạt động đối lưu với những dòng thăng mạnh tạo điều kiện cho nguồn ẩm rất phong phú của các khối khí nóng ẩm tồn tại lâu ngày trên biển ở rìa của hai đới áp cao cận nhiệt đới ngưng kết để hình thành mây và mưa. [1] Trục của rãnh xích đạo cũng dịch chuyển theo mùa cùng với hai đới áp cao cận nhiệt đới bắc và nam bán cầu. Trục rãnh xích đạo có vị trí trung bình khoảng 5°S trong tháng 1 và từ 12 – 15°N trong tháng 7.
Vị trí của trục rãnh trên lục địa biến thiên theo mùa nhiều hơn trên đại dương, đặc biệt là trên lục địa châu Á bởi vì Nam Á là nơi có áp thấp nóng hoạt động mạnh mẽ trong mùa hè. Hàng năm từ tháng 6 đến 9, ở Nam Á, rãnh xích đạo hoạt động ở Bắc Ấn Độ Dương, bán đảo Đông Dương và Biển Đông, thể hiện qua áp thấp Ấn – Miến và các áp thấp trên Biển Đông. [7] Dải hội tụ nhiệt đới ITCZ [7] Trên vùng nhiệt đới, trong nửa dưới của tầng đối lưu, thường tồn tại một dải tương đối hẹp nơi có sự hội tụ của các dòng tín phong từ hai bán cầu, tạo nên sự hội tụ khối lượng theo phương nằm ngang của không khí, khiến chúng thăng lên. Do vậy trong khu vực dải bất liên tục này, đối lưu phát triển mạnh và tạo thành một đới mây hẹp chạy dài theo hướng gần như Đông – Tây.
Dải bất liên tục này di chuyển theo hướng Bắc – Nam cùng với chuyển động biểu kiến của Mặt Trời và được gọi là dải hội tụ nhiệt đới ITCZ. Vị trí trung bình của ITCZ trong tháng 7 và tháng 1. Trong tháng 7, vị trí của ITCZ dịch chuyển lên phía bắc nhất trên lục địa châu Á, còn trong tháng 1 vị trí của nó dịch chuyển xuống phía nam nhất trên lục địa Australia và Đông Phi. Như vậy, vị trí của ITCZ thường trùng với vùng có nhiệt độ cao nhất nên thường được gọi là xích đạo nhiệt.
Cường độ của ITCZ biến đổi rất lớn theo mùa, theo nhiều năm và theo khu vực địa lí. Ngoài dạng đơn phổ biến, ITCZ có thể có dạng kép với tần suất xuất hiện không lớn. Mây trong ITCZ là một dải mây tích rộng và kéo dài. Tuy nhiên, cường độ và phạm vi của mây tích không đồng nhất trên suốt chiều dài ITCZ.
Trong một số trường hợp, trên ITCZ còn có thể thấy rõ các nhiễu động dạng sóng hay dạng xoáy. Thời tiết điển hình trong ITCZ thường có mây tích và vũ tích, cho mưa rào và dông. Tuy nhiên, không phải tất cả mọi nơi dọc theo đường hội tụ đều có thời tiết xấu.