phần Mở đầu và Kết luận gồm 03 chƣơng với các nội dung chính nhƣ sau: Chƣơng 1: Trình bày tổng quan về tỉnh Bình Dƣơng, về tình hình dịch bệnh sốt xuất huyết tại Việt Nam và tỉnh Bình Dƣơng; công tác phòng chống dịch bệnh và đặc điểm dịch bệnh sốt xuất huyết tại Bình Dƣơng. Trình bày tổng quan về phát hiện tri thức và khai phá dữ liệu. 3 Chƣơng 2: Trình bày một số nghiên cứu liên quan về dự báo dịch bệnh nói chung và dự báo dịch bệnh sốt xuất huyết nói riêng. Trình bày mô hình dự báo dịch sốt xuất huyết tại Bình Dƣơng dựa trên các k thuật học máy hồi quy, phân lớp.
Chƣơng 3: Xây dựng mô hình dự báo và thực nghiệm. Mô tả, tìm hiểu, phân tích dữ liệu sử dụng cho thực nghiệm; Trình bày các kết quả thực nghiệm, đánh giá nhận xét, so sánh kết quả các mô hình và đề xuất chọn mô hình phù hợp để dự báo dịch bệnh sốt xuất huyết tại tỉnh Bình Dƣơng. 4 CHƢƠNG 1: GIỚI THIỆU TỔNG QUAN Trong chƣơng này, tác giả trình bày tổng quan về tỉnh Bình Dƣơng, về tình hình dịch bệnh sốt xuất huyết tại Việt Nam nói chung và tỉnh Bình Dƣơng nói riêng; công tác phòng chống dịch bệnh và đặc điểm dịch bệnh sốt xuất huyết tại Bình Dƣơng. Trình bày tổng quan về khai phá dữ liệu, học máy và các phƣơng pháp, mô hình dự báo dịch bệnh.
Tổn quan về tỉn B n Dƣơn. Tỉnh Bình Dƣơng thuộc vùng Đông Nam bộ, giáp ranh với các tỉnh/thành nhƣ: TP. Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Phƣớc, Tây Ninh; nằm trong V ng kinh tế trọng điểm phía Nam; có diện tích tự nhiên 2.694,43 km2; dân số 2.951, mật độ dân số 769 ngƣời/ km2. Bình Dƣơng có 09 đơn vị hành chính cấp huyện (gồm: thành phố Thủ Dầu Một, thị xã Dĩ An, thị xã Thuận An, thị xã Bến Cát, thị xã Tân Uyên và các huyện Bàu Bàng, Bắc Tân Uyên, Dầu Tiếng, Phú Giáo) và 91 đơn vị hành chính cấp xã (46 xã, 41 phƣờng, 04 thị trấn).
Toàn tỉnh hiện có 29 khu công nghiệp và 12 cụm công nghiệp. Khí hậu ở Bình Dƣơng cũng nhƣ khu vực miền Đông Nam bộ: nắng nóng và mƣa nhiều, độ ẩm khá cao. Khí hậu nhiệt đới gió m a ổn định, trong năm phân chia thành hai m a rõ rệt: m a khô và m a mƣa. M a mƣa thƣờng bắt đầu từ tháng 5 kéo dài đến cuối tháng 10 dƣơng lịch.
Vào những tháng đầu m a mƣa, thƣờng xuất hiện những cơn mƣa rào lớn, rồi sau đó dứt hẳn. Những tháng 7, 8, 9 thƣờng là những tháng mƣa dầm. Nhiệt độ trung bình hàng năm ở Bình Dƣơng từ 26oC-27oC. Nhiệt độ cao nhất có lúc lên tới 39,3oC và thấp nhất từ 16oC- 17oC (ban đêm) và 18oC vào sáng sớm.
Vào m a nắng, độ ẩm trung bình hàng năm từ 76%-80%, cao nhất là 86% (vào tháng 9) và thấp nhất là 66% (vào tháng 2). Lƣợng nƣớc mƣa trung bình hàng năm từ 1. Bình Dƣơng là một trong những tỉnh công nghiệp phát triển, tốc độ đô thị hóa cao; tốc độ tăng dân số cơ học rất nhanh. Đi kèm với sự phát triển kinh tế thì 5 Bình Dƣơng cũng đối mặt với các vấn đề xã hội trong đó có vấn đề về chăm sóc sức khỏe và phòng chống dịch bệnh.
Nhất là tình hình bệnh SXHD cũng tăng nhanh lên theo, số ca mắc bệnh ngày càng cao hàng năm và không theo chu kỳ nhất định mà diễn biến ngày một phức tạp. Tổn quan về dịc ện SXH tại Việt Nam và tỉn B n Dƣơn. Dịch bệnh d ng để mô tả những bệnh gây ra bởi vi sinh vật truyền nhiễm mà thỉnh thoảng lại xảy ra với số lƣợng lớn ngƣời mắc. Một khi đƣợc đƣa vào cộng đồng, vi sinh vật truyền nhiễm nhƣ virus và vi khuẩn có thể lây lan từ ngƣời này sang ngƣời khác.
Và nếu mỗi một ngƣời truyền bệnh cho hơn một ngƣời khác, số ca bệnh sẽ tăng theo cấp số nhân dẫn đến sự lây lan mạnh là đặc trƣng của một bệnh dịch. Sốt xuất huyết Dengue là một bệnh truyền nhiễm do vi rút Dengue gây ra, và đƣợc lây truyền qua véc-tơ trung gian là muỗi Aedes aegypti (chủ yếu) và Aedes albopictus [1]. Bệnh ngày càng tăng nhanh và xu hƣớng lan rộng trên toàn thế giới khi hiện nay đã có trên 100 quốc gia có sốt xuất huyết lƣu hành. Theo số liệu báo cáo của WHO, năm 2008 có khoảng 1,2 triệu ca sốt xuất huyết, đến 2010 nó tăng lên thành 2,2 triệu ca, và cho đến năm 2015 đã có 3,2 triệu ca mắc đƣợc báo cáo.
Nhƣng đó chỉ là số liệu trên giấy, con số thực tế đƣợc ƣớc tính cho thấy hằng năm có khoảng 390 triệu ca mắc. Sốt xuất huyết (SXH) là bệnh nguy hiểm, ƣớc tính mỗi năm có khoảng 500.000 ngƣời phải nhập viện, trong đó có 2,5% ngƣời tử vong vì SXH. Việt Nam nằm trong vành đai nhiệt đới với khí hậu thuận lợi cho sự phát triển của các loài muỗi lây truyền sốt xuất huyết. Việt Nam có tỉ lệ mắc sốt xuất huyết khá cao.
Theo số liệu báo cáo của WHO về số ca mắc sốt xuất huyết Dengue trung bình từ năm 2004-2010 của các quốc gia trên thế giới, Việt Nam đứng thứ 3 với trung bình 91. Bình Dƣơng là một trong những tỉnh có số ca mắc SXHD cao nhất cả nƣớc. Trong vòng 10 năm từ 2007 - 2016 đã có nhiều đợt dịch lớn xảy ra vào các năm 6 2008, 2012 và 2015, số ca mắc và tử vong cao nhất nhì khu vực phía Nam. Theo số liệu báo cáo của TTYTDP tỉnh Bình Dƣơng, năm 2016, cả tỉnh có 3.928 ca mắc SXHD, trong đó có 01 ca tử vong.
Trong năm 2017, tính đến thời điểm cuối tháng 7, Bình Dƣơng đã có 3.694 ca, có 01 ca tử vong. Cũng nhƣ nhiều nơi lƣu hành bệnh sốt xuất huyết, hệ thống giám sát sốt xuất huyết ở Việt Nam dựa vào báo cáo thụ động đƣợc chẩn đoán lâm sàng ở bệnh nhân nhập viện. Kiểm soát véc-tơ là công cụ chính để dự phòng và kiểm soát bệnh sốt xuất huyết. Chiến lƣợc này phải đối mặt với những hạn chế về tính kịp thời trong phát hiện và ngăn chặn dịch, đòi hỏi cần có những biện pháp khác để hỗ trợ kiểm soát bệnh tốt hơn.
Trong các yếu tố nguy cơ giúp truyền bệnh sốt xuất huyết thì thời tiết, khí hậu là yếu tố đặc biệt quan trọng, gây ảnh hƣởng đến sự sinh sản và phát triển của vec-tơ truyền bệnh, chẳng hạn nhƣ mƣa cung cấp môi trƣờng thuận lợi để muỗi đẻ trứng, nhiệt độ cao sẽ làm giảm thời gian sinh trƣởng và phát triển của muỗi… Việc nghiên cứu dự báo sớm nguy cơ xảy ra dịch sốt xuất huyết là rất cần thiết, giúp các nhà quản lý, chuyên môn chủ động trong công tác phòng chống dịch một cách hiệu quả, giảm đƣợc nguồn lực phân bổ cũng nhƣ tránh đƣợc rủi ro, thiệt hại lớn khi dịch xảy ra.3 Tổn quan về p át iện tri t ức và k ai p á dữ liệu Khai phá dữ liệu là một lĩnh vực trong khoa học máy tính, nó tƣơng đối trẻ và liên ngành. KPDL là quá trình khai phá, trích xuất, khai thác và sử dụng những dữ liệu có giá trị tiềm ẩn từ bên trong lƣợng lớn dữ liệu đƣợc lƣu trữ trong các cơ sở dữ liệu (CSDL), kho dữ liệu, trung tâm dữ liệu… dựa trên kĩ thuật nhƣ mạng nơ ron, lí thuyết tập thô, tập mờ, biểu diễn tri thức… Các chuyên gia cho rằng, hiện nay chúng ta đang sống trong một xã hội “rất giàu về thông tin nhƣng nghèo về tri thức”. Chính vì vậy đòi hỏi phải phát 7 triển các phƣơng pháp khai phá, phát hiện ra những thông tin, tri thức có ích bị che lấp trong các “núi” dữ liệu phục vụ cho công việc của các nhà quản lý, các chuyên gia, từ đó thúc đẩy khả năng sản xuất, kinh doanh, cạnh tranh của các tổ chức, doanh nghiệp. Khai phá dữ liệu là một ngành học mới xuất hiện gần đây nhằm đáp ứng nhu cầu này.
Các kết quả nghiên cứu c ng với những ứng dụng thành công trong khai phá dữ liệu, khám phá tri thức cho thấy khai phá dữ liệu là một lĩnh vực khoa học tiềm năng, mang lại nhiều lợi ích, đồng thời có ƣu thế hơn hẳn so với các công cụ phân tích dữ liệu truyền thống. Hiện nay các cơ sở dữ liệu cần khai phá thƣờng có kích thƣớc rất lớn, đa dạng và ngày càng phức tạp chẳng hạn các CSDL về thời tiết, CSDL dân cƣ các thành phố, CSDL đa phƣơng tiện, CSDL y tế, CSDL văn bản,. Còn các nhà thống kê thì xem khai phá dữ liệu nhƣ là một qui trình phân tích đƣợc thiết kế để thăm dò một lƣợng cực lớn các dữ liệu nhằm phát hiện ra các mẫu thích hợp hoặc các mối quan hệ mang tính hệ thống giữa các biến và sau đó sẽ hợp thức hoá các kết quả tìm đƣợc bằng cách áp dụng các mẫu đã phát hiện đƣợc cho các tập con mới của dữ liệu. Để khai thác nguồn thông tin có hiệu quả thì các phƣơng pháp quản trị và khai thác cơ sở dữ liệu truyền thống đang ngày càng không đáp ứng nhu cầu.
Vì vậy việc nghiên cứu các k thuật khai thác, tổ chức khai thác dữ liệu để khám phá tri thức là vấn đề quan trọng. Quá trình KPDL bao gồm các giai đoạn cơ bản sau: Thu thập dữ liệu - >Trích lọc dữ liệu (selection) -> chuyển đổi dữ liệu (Tranformation) -> phát hiện và trích mẫu dữ liệu -> Đánh giá kết quả mẫu (Enaluvation of Result). 8 Hình 1: Quá trình KPDL, phát hiện tri thức 1.1 Các p ƣơn p áp k ai p á dữ liệu KDD bao gồm hai yếu tố quan trọng không thể thiếu đƣợc là dự đoán (Prediction) và mô tả (Description). Dự đoán (Prediction): Đòi hỏi sử dụng một vài biến hoặc trƣờng để dự đoán thông tin tiềm ẩn hoặc một giá trị tƣơng lai của một biến thuộc tính mà ta quan tâm đến.
Mô tả (Description): Tập trung là nổi bật lên mô hình kết quả mà con ngƣời có thể hiểu sâu về thông tin dữ liệu. Với hai mục đích chính đã nêu ở trên, ngƣời ta thƣờng sử dụng các phƣơng pháp sau cho khai phá dữ liệu: - Phân lớp (Classification): Là việc học một hàm ánh xạ từ một mẫu dữ liệu vào một trong số các lớp đã đƣợc xác định trƣớc đó. - Hồi qui (Regression): Là việc học một hàm ánh xạ từ một mẫu dữ liệu thành một biến dự đoán có giá trị thực. 9 - Phân nhóm (Clustering): Là việc mô tả chung để tìm ra các tập hay các nhóm, loại mô tả dữ liệu.