Chương 1: Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, thực trạng sử dụng ruộng đất tại xã trước năm 1993 Chương 2: Quá trình dồn điền, đổi thửa và tích tụ ruộng đất trong những năm 1993 - 2008 Chương 3: Tác động của quá trình dồn điền đổi thửa và tích tụ ruộng đất đối với sự phát triển kinh tế - xã hội ở xã Phù Lưu Tế Cuối cùng là danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG 1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI, THỰC TRẠNG SỬ DỤNG RUỘNG ĐẤT TẠI XÃ TRƢỚC NĂM 1993 1. Điều kiện tự nhiên 1. Vị trí địa lý Xã Phù Lưu Tế là một xã thuộc huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Tây 1.
Xã có ba thôn nối tiếp nhau trải dài bên hữu ngạn sông Đáy, người dân quen gọi với cái tên là thôn Thượng, thôn Trung và thôn Hạ, với chiều dài chừng 5km, bề ngang chỗ hẹp nhất là 1,2 km, chỗ rộng nhất tới 2 km. Phía Đông sát dòng sông Đáy, đối diện với xã Hoà Xá, nơi có nghề dệt cổ truyền và là quê hương của bài hát “Chiếc gậy Trường Sơn”. Việc giao lưu giữa hai xã từ thế hệ này sang thế hệ khác rất thân tình tạo nên những mối quan hệ tốt đẹp giữa Phù Lưu Tế với Hòa Xá. Phía Tây, qua các cánh đồng của địa phương có các thôn Thượng và Hạ Quất thuộc xã Hợp Tiến, xa hơn là dãy Hương Sơn chạy dọc theo phía tây huyện Mỹ Đức từ Đồng Tâm tới Hương Sơn rồi nối dài với dải Trường Sơn hùng vĩ.
Phía Bắc tiếp giáp với xã Phùng Xá và một phần tiếp giáp với xã Xuy Xá (trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp, ba xã Phù Lưu Tế - Phùng Xá - Xuy Xá hợp nhất thành một xã lấy tên là Tam Đức). Còn phía Nam tiếp giáp với thị trấn Tế Tiêu (giờ là thị trấn Đại Nghĩa), một đầu mối giao thông quan trọng của huyện Mỹ Đức. Từ lâu, Phù Lưu Tế đã là trung tâm của Mỹ Đức, ngã ba thôn Trung là nơi hội tụ các nẻo đường từ phía Bắc và phía Nam huyện đổ về. Tại đó, có chợ trung tâm là nơi trao đổi hàng hóa, nông sản ở địa phương.
Chợ tuy nhỏ, hàng hóa không nhiều, song đáp ứng được một phần nhu cầu đời sống của 1 Tên gọi của tỉnh từ năm 2008 trở về trước, nay đã sáp nhập với Hà Nội 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nhân dân địa phương, đó là chợ Phù Lưu Tế. Cùng với đường bộ là đường thủy, việc ngược xuôi theo dòng sông Đáy rất thuận tiện, cuối xã có một dòng chảy nhỏ, gọi là ngòi Ngánh nối sông Đáy với sông Thanh Hà chạy theo ven núi. Với hệ thống đường bộ, đường thủy tạo cho Phù Lưu Tế giao lưu với các nơi trong huyện, tỉnh và xa hơn ngày càng thuận tiện. Với vị trí địa lý như trên, Phù Lưu Tế có điều kiện tương đối thuận lợi trong việc tiếp cận với các trung tâm kinh tế và thị trường trong và ngoài huyện, như: thị trấn Tế Tiêu, thị xã Hà Đông, thủ đô Hà Nội, khu công nghệ cao Hòa Lạc và chuỗi đô thị mới Xuân Mai - Miếu Môn - Hòa Lạc - Sơn Tây.
Phù Lưu Tế trong tương lai sẽ góp phần to lớn cùng với các xã khác trong huyện Mỹ Đức có vai trò quan trọng trong việc cung cấp rau, thực phẩm chất lượng cao, hoa, cây cảnh … cho các thị trường lớn này. Vị trí địa lý cũng tạo tiềm năng cho Phù Lưu Tế phát triển du lịch, điển hình là du lịch sinh thái cuối tuần kết hợp với mô hình trang trại quy mô lớn. Đây là đặc điểm mà chính quyền và nhân dân xã Phù Lưu Tế đặc biệt chú ý trong quy hoạch chuyển đổi cơ cấu kinh tế trong giai đoạn tới. Địa hình, địa mạo Phù Lưu Tế nói riêng, Mỹ Đức nói chung nằm trong vùng đồng bằng Bắc Bộ, nhưng cũng là khu vực chuyển tiếp giữa đồng bằng và miền núi.
Huyện có hai dạng địa hình chính: Địa hình núi đá xen kẽ với các khu vực úng trũng bao gồm 10 xã phía Tây huyện. Xã Phù Lưu Tế nằm trong số 12 xã, thị trấn ven sông Đáy. Địa hình khá bằng phẳng và hơi dốc theo hướng từ Đông sang Tây, rất thuận lợi cho việc xây dựng công trình thủy lợi tự chảy dùng nguồn nước sông Đáy tưới cho các cánh đồng lúa thâm canh. Độ cao địa hình trung bình dao động trong 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com khoảng từ 3,8 m đến 7 m so với mực nước biển.
Trong khu vực cũng có nhiều điểm trũng tạo thành các hồ, đầm nhỏ thuận lợi cho việc chăn, thả thủy sản. Với địa hình như trên, Phù Lưu Tế là một trong những xã trong huyện có điều kiện rất thuận lợi để phát triển nông nghiệp. Khí hậu, thời tiết Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, một năm ở đây được chia thành bốn mùa khá rõ rệt với các đặc trưng khí hậu như sau: Nhiệt độ không khí: bình quân năm là 23,1oC, trong năm nhiệt độ thấp nhất trung bình là 13,6 oC (vào tháng 1). Nhiệt độ trung bình tháng nóng nhất (tháng 7), trên 33,2oC.
Mùa lạnh kéo dài từ tháng 11 đến trước tháng 3 năm sau, mùa nóng từ tháng 4 đến tháng 10. Số giờ nắng trong năm trung bình là 1.630,6 giờ, năm cao nhất là 1.700 giờ, năm thấp nhất là 1. Lượng mưa bình quân năm là 1.520,7 mm, phân bố trong năm không đều, mưa tập trung từ tháng 4 đến tháng 10, chiếm 85% tổng lượng mưa cả năm, lượng mưa ngày lớn nhất có thể tới 336,1 mm. Mùa khô từ cuối tháng 10 đến tháng 3 năm sau, tháng mưa ít nhất trong năm là tháng 12, tháng 1 và tháng 2 chỉ có 17,5 - 23,2 mm.
Sương muối hầu như không có, mưa đá rất ít xảy ra. Thông thường cứ 10 năm mới quan sát thấy mưa đá một lần. Như vậy, Phù Lưu Tế có điều kiện khí hậu rất thuận lợi cho việc trồng trọt, chăn nuôi và mở mang thêm các ngành kinh tế khác như dịch vụ, tiểu thủ công… 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Thủy văn Chế độ mưa theo mùa ảnh hưởng rõ nét đến chế độ thủy văn của các sông chính trong khu vực, đặc biệt là sông Đáy.
Hệ thống sông Đáy là một phân lưu của sông Hồng, phần sông chảy qua địa phận xã Phù Lưu Tế khá dài. Độ uốn khúc của sông lớn, sông bị bồi lấp mạnh. Về mùa khô, nhiều đoạn sông chỉ như một lạch nhỏ. Tuy nhiên, lưu lượng đủ cung cấp nước cho nhu cầu sản xuất và sinh hoạt.
Xã Phù Lưu Tế nói riêng, huyện Mỹ Đức nói chung, nằm trong vùng phân lũ của Hà Nội, vì vậy quy hoạch chuyển đổi cơ cấu kinh tế, nhất là trong lĩnh vực nông nghiệp luôn phải tính đến yếu tố này để bố trí thời vụ hợp lý. Tài nguyên đất Với vị trí địa lý như đã trình bày trong phần 1, xã Phù Lưu Tế chủ yếu là các loại đất sau: Đất phù sa được bồi đắp hàng năm: phân bố chủ yếu ở địa hình ngoài đê dọc theo sông Đáy. Đây là loại đất tốt, có độ phì thực tế cao, thích hợp với phần lớn các loại cây màu và cây ngắn ngày như mía, đậu đỗ, lạc, dâu. Đất phù sa không được bồi đắp hàng năm: chiếm diện tích nhiều hơn, phân bố ở địa hình phía trong đê.
Do nằm ở vị trí phía trong đê, từ lâu không được bổ sung phù sa mới, hình thái phẫu diện đã có sự phân hóa, những nơi canh tác lâu năm đã hình thành nên tầng đế dày, đất thường có màu sắc từ nâu sẫm đến nâu nhạt. Loại đất này phần lớn diện tích đã được khai thác trồng lúa nước hai vụ, một phần diện tích trồng các loại cây cạn ngắn ngày như ngô, khoai lang, mía, đậu đỗ… Xã có tổng diện tích đất tự nhiên là 651,44 ha, chiếm tỷ lệ 2,83 % tổng diện tích đất tự nhiên của cả huyện, trong đó cơ cấu các loại đất được phân bổ như sau: 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.1: Cơ cấu các loại đất năm 2008 Diện tích Tỷ lệ STT Mục đích sử dụng đất (ha) (%) Đất nông nghiệp: 444,34 68,21 1. Đất sản xuất nông nghiệp 441,18 67,72 1.Đất trồng cây hàng năm 439,44 67,46 1.Đất trồng cây hàng năm khác 37,96 5,83 nông 1.Đất trồng cây lâu năm 1,74 0,27 nghiệp 1.Đất nuôi trồng thủy sản 3,16 0,49 2. Đất phi nông nghiệp 207,10 31,79 Đất 2.Đất chuyên dùng 116,85 17,94 nông 2.Đất trụ sở cơ quan, công trình sự nghiệp 2,72 0,42 nghiệp 2.Đất quốc phòng, an ninh 0,51 0,08 1,20 2.Đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp 7,81 16,24 2.Đất có mục đích công cộng 105,81 0,03 2.Đất tôn giáo, tín ngưỡng 0,18 1,37 2.Đất nghĩa trang, nghĩa địa 8,90 3,75 2.Đất sông suối và mặt nước chuyên dùng 24,45 Nguồn: Niên giám thống kê huyện Mỹ Đức, năm 2008 Căn cứ vào bảng số liệu trên ta thấy, đất nông nghiệp chiếm phần lớn diện tích đất tự nhiên của xã, trong đó chủ yếu là đất trồng lúa, các loại đất trồng màu, trồng dâu và trồng cây ăn quả chiếm tỷ lệ rất nhỏ.
Căn cứ vào tổng diện tích đất nông nghiệp và số nhân khẩu được chia ruộng là 6.540 khẩu 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com (những người sinh sau ngày 15/10/1993 không được chia ruộng) thì bình quân ruộng đất là 552 m2/khẩu, số liệu này cũng tương đương với các xã khác trong huyện. Tuy nhiên, ngược dòng thời gian thì bình quân ruộng đất đã ngày càng giảm đi đáng kể. Điều kiện kinh tế - xã hội 1. Dân số và lao động Tính đến 31/12/2008, toàn xã có 1.500 lao động, cơ cấu lao động các ngành như sau: Lao động nông lâm, thủy sản: chiếm 81,49 %.
Lao động công nghiệp - xây dựng: chiếm 11,90 %. Lao động thương mại - dịch vụ: chiếm 6,62 %. Với cơ cấu lao động như trên, người dân địa phương chủ yếu làm nông nghiệp, bao đời nay cuộc sống của họ gắn với ruộng đồng, làng xóm. Với 60 % dân số trong độ tuổi lao động, trong đó trên 80 % là lao động nông, lâm, thủy sản là một nhân tố thuận lợi cho phát triển nông nghiệp, nông thôn.
Trên địa bàn của xã cũng có một bộ phận nhỏ dân cư hoạt động trong các lĩnh vực công nghiệp - xây dựng và thương mại - dịch vụ, nhưng chủ yếu là làm thuê và buôn bán nhỏ để có thêm thu nhập cho gia đình, bên cạnh đó họ vẫn duy trì nghề nghiệp mà cha ông truyền lại - nghề nông.