PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do lựa chọn đề tài Đất đai là tài nguyên vô giá đối với sự sống của con ngƣời, là sản phẩm của sự tác động đồng thời của nhiều yếu tố tự nhiên và kinh tế-xã hội. Vai trò của đất đai càng lớn hơn khi dân số ngày càng đông, nhu cầu dùng đất làm nơi cƣ trú, làm tƣ liệu sản xuất… ngày càng gia tăng. Luật đất đai 1993 của Việt nam đã ghi rõ: “Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá, là tƣ liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trƣờng sống, là địa bàn phân bố các khu dân cƣ, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá xã hội, an ninh quốc phòng.
Trải qua nhiều thế hệ, nhân dân ta đã tốn biết bao công sức, xƣơng máu mới tạo dựng, bảo vệ đƣợc vốn đất đai nhƣ ngày hôm nay". Trong giai đoạn đầu phát triển kinh tế xã hội, khi mức sống và trình độ sản xuất của con ngƣời còn thấp, công năng chủ yếu của đất đai tập trung chủ yếu vào sản xuất vật chất, đặc biệt trong sản xuất nông nghiệp. Thời kì cuộc sống xã hội phát triển ở mức cao, công năng của đất đai từng bƣớc đƣợc mở rộng, sử dụng đất đai cũng phức tạp hơn. Điều này có nghĩa đất đai đã cung cấp cho con ngƣời tƣ liệu vật chất để sinh tồn và phát triển, cũng nhƣ cung cấp những điều kiện cần thiết về hƣởng thụ và đáp ứng nhu cầu cho cuộc sống của nhân loại.
Vấn đề đất đai đƣợc biểu lộ càng rõ nét trong các khu vực kinh tế phát triển nhƣ ở các khu vực thành thị và đô thị hóa. Đô thị hóa là xu thế tất yếu trong quá trình phát triển của mỗi quốc gia. Khu vực đô thị hàng năm đóng góp trung bình khoảng 70-75% GDP của cả nƣớc. Đô thị đã khẳng định vai trò là động lực cho phát triển, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động ở mỗi địa phƣơng, mỗi vùng và cả nƣớc.
Trong những năm qua, Việt Nam đang có tốc độ đô thị hóa nhanh do phát triển cùng với sự tăng trƣởng kinh tế. Hệ thống các đô thị đã có sự phát triển nhanh cả về số lƣợng, chất lƣợng và quy mô; diện mạo đô thị có nhiều khởi sắc theo hƣớng hiện đại, tạo dựng đƣợc những không gian đô thị mới, từng bƣớc đáp ứng nhu cầu về môi trƣờng sống và làm việc có chất lƣợng cho ngƣời dân. Tính đến tháng 12/2012, Việt Nam đã có 765 đô thị; trong đó có 2 đô thị loại đặc biệt (Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh); 7 đô thị loại I; 13 đô thị loại II; 44 đô thị loại III; 44 đô thị loại IV và số còn lại là loại V.
Tỷ lệ đô thị hoá đạt 32% vào thời điểm này. Diện tích đất toàn đô thị là 48.965 km2 chiếm 14,78% tổng diện tích đất tự nhiên của cả nƣớc; trong đó đất nội thị là 14.104 km2 (chiếm4,26%) đất ngoại thị là 34. Song song với sự gia tăng của các đô thị, các số liệu đƣợc thống kê cũng cho thấy dân số của khu vực đô thị cũng gia tăng nhanh chóng. Vào năm 1989, dân số Việt Nam là 64,8 triệu ngƣời, trong đó có 12,9 triệu ngƣời (chiếm 20%) sống 7 z tại khu vực thành thị.
Đến năm 2010, tỷ lệ này đã tăng lên khoảng 32% với ƣớc tính 28,5 triệu ngƣời. Theo nhận định của chuyên gia phát triển đô thị của Ngân hàng thế giới Ông Dean Cira, Việt Nam còn đang ở giai đoạn đầu của đô thị hoá và chuyển dần sang giai đoạn giữa. Tỷ lệ dân đô thị trên toàn quốc tăng 3,4%/năm với 34% dân số Việt Nam sống ở đô thị. Dự báo đến 2025 tổng số đô thị cả nƣớc đạt khoảng trên 1000 đô thị.
Dân số đô thị năm 2015 đạt khoảng 35 triệu ngƣời, tỉ lệ đô thị hóa đạt khoảng 38%; năm 2025 khoảng 52 triệu ngƣời, tỉ lệ đô thị hóa đạt khoảng 50%. Trong đó, mục tiêu đề ra cho diện tích bình quân đầu ngƣời là 100m2/ngƣời. Nếu đạt tỷ lệ 100m2/ngƣời, Việt Nam cần có khoảng 450.000ha đất đô thị, nhƣng hiện nay, diện tích đất đô thị chỉ có 105.000ha, bằng 1/4 so với yêu cầu. Trong quá trình đô thị hóa và thực hiện các dự án đầu tƣ cho phát triển kinh tế, xã hội, giáo thông vận tải, v.
không thể tránh khỏi việc ảnh hƣởng đến đất và các tài sản trên đất của ngƣời dân ở khu vực dự án để phục vụ cho việc mở mang, xây dựng các công trình. Điều này dẫn đến việc thu hồi đất đai của ngƣời dân (trong trƣờng hợp ảnh hƣởng một phần) hoặc phải thực hiện giải tỏa và di dời, tái định cƣ cho ngƣời dân (trong trƣờng hợp ảnh hƣởng toàn bộ). Việc thu hồi đất, tái định cƣ sẽ gây ảnh hƣởng đến cuộc sống của ngƣời dân tại các khu vực dự án. Việc giải tỏa, di dời tái định cƣ không đơn giản là đƣa một bộ phận dân cƣ từ nơi này sang nơi khác còn liên quan đến nhiều vấn đề xã hội khác nhƣ phục hồi kinh tế, việc làm, giáo dục, y tế, khả năng tiếp cận với các dịch vụ đô thị, các quan hệ xã hội, v.
Do đó, công việc này phải đƣợc xem là công tác an toàn xã hội và là một nhiệm vụ then chốt mà bất kể một dự án đầu tƣ hay phát triển đô thị nào cũng cần phải thực hiện tốt bởi nó sẽ góp phần vào sự thành công và bền vững của dự án. Tái định cƣ là một hiện tƣợng xuất hiện khá sớm trên thế giới. Khi các cuộc cách mạng công nghiệp bùng nổ, hàng trăm nhà máy xí nghiệp tại các thành phố lớn xuất hiện, nó thu hút một lực lƣợng lao động khổng lồ. Trƣớc sức hút đó, hàng ngàn ngƣời dân ở khu vực nông thôn đã di chuyển ra các thành phố lớn để tìm kiếm việc làm và cơ hội phát triển.
Tại đây, đời sống của họ gặp nhiều khó khăn và bất cập, chất lƣợng cuộc sống không đƣợc đảm bảo: họ sống trong những khu nhà trọ tạm thời hoặc/và những khu ổ chuột tồi tàn lộn xộn với điều kiện vệ sinh thấp kém. Do đó, cần thiết một hệ thống quản lý để cải thiện tình trạng vệ sinh thấp kém ở những khu thu nhập thấp này. Hơn nữa, nhu cầu phát triển không ngừng của các thành phố lớn nhƣ: Phát triển thƣơng mại, phát triển dầu tƣ, nhu cầu chỉnh trang đô thị, cải thiện cơ sở hạ tầng cũng đòi hỏi phải có sự điều chỉnh và di dời một số bộ phận dân cƣ có liên quan, 8 z Đó chính là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến hoạt động giải tỏa, di dời và tái định cƣ. Tái định cƣ bao hàm tất cả những thiệt hại trực tiếp về kinh tế và xã hội gây ra bởi việc thu hồi đất và hạn chế sự tiếp cận, cùng với những biện pháp đền bù và sửa chữa.
Tái định cƣ không hạn chế ở sự di dời về mặt vật chất. Tái định cƣ có thể tùy thuộc vào từng trƣờng hợp cụ thể, bao gồm (a) thu hồi đất và các công trình trên đất, bao gồm cả việc kinh doanh, buôn bán; (b) sự di dời về mặt vật chất; (c) sự khôi phục kinh tế của những ngƣời bị ảnh hƣởng nhằm cải thiện (hoặc ít nhất là phục hồi) thu nhập và mức sống. Ngân hàng Thế giới (WB) và Chính phủ Việt Nam đều ban hành những chính an toàn xã hội nhằm giảm thiểu tối đa những ảnh hƣởng của các dự án đầu tƣ và phát triển lên ngƣời dân ở khu vực dự án. Những chính sách này hƣớng tới việc hạn chế tối đa việc di dời để đối với những hộ tái định cƣ, cuộc sống của họ phải đƣợc ít nhất bằng hoặc hơn nơi ở cũ.
Nguyên tắc này của WB đã đƣợc hầu hết các dự án có quy mô lớn liên quan đến Tái định cƣ trên thế gới áp dụng, bao gồm cả Chính phủ Việt Nam. Việc sử dụng các nguyên tắc của Ngân hàng Thế giới trong thực hiện công tác Giải tỏa, di dời, tái định cƣ đã giúp Việt Nam giảm thiểu tối đa những thiệt hại có thể xảy đến với ngƣời dân bị ảnh hƣởng đồng thời giúp ngƣời dân khôi phục, nâng cao chất lƣợng cuộc sống. Nhận thức rõ về tầm quan trọng của công tác an toàn xã hội, tái định cƣ, Tác giả lựa chọn Đề tài nghiên cứu “Thực trạng đời sống của ngƣời dân sau tái định cƣ”. Mục đích của Đề tài nhằm mô tả thực trạng cuộc sống của ngƣời dân đang sinh sống tại khu tái định cƣ Thới Nhựt thuộc Tiểu dự án Nâng cấp đô thị TP.Cần Thơ - Dự án Nâng cấp đô thị Việt Nam.
Tổng quan nghiên cứu An toàn xã hội và Tái định cƣ là hoạt động gặp ở các nƣớc trên thế giới, khi mà có các hoạt động đầu tƣ và phát triển. Hiện nay, có rất nhiều ngành, nhà khoa học xã hội nghiên cứu về vấn đề này. Các nghiên cứu đều đã chỉ ra rằng, đời sống ngƣời dân có những thay đổi nhất định sau khi thực hiện Tái định cƣ. Những nghiên cứu nƣớc ngoài về đời sống ngƣời dân sau tái định cƣ Tại Indonesia, một quốc gia đang phát triển tƣơng tự nhƣ Việt Nam, năm 2013, Hội thảo quốc tế "Phục hồi sinh kế của ngƣời dân tái định cƣ bị ảnh hƣởng bởi dự án xây dựng đập: Các trƣờng hợp ở châu Á" đã đƣợc tổ chức.
Đề tài của tác giả Sunardi “Thực trạng đời sống ngƣời sau 25 năm tái định cƣ do dự án đập Saguling-1 "Livelihood status of resettlers affected by the Saguling Dam project, 25 years after 9 z inundation" đã đƣợc trình bày tại Hội thảo. Nghiên cứu này đã sử dụng phƣơng pháp khảo sát bằng bảng hỏi bán cấu trúc. Kết quả thu đƣợc là một bức tranh khá toàn diện về cuộc sống của ngƣời dân sau tái định cƣ nhƣ tình trạng nhà ở, dịch vụ công, cơ sở hạ tầng (điện, đƣờng xá, trƣờng, trạm y tế, nƣớc sạch), cơ hội học tập, việc làm, hoạt động tôn giáo. Báo cáo có so sánh giữa trƣớc khi có dự án và sau tái định cƣ 25 năm; so sánh giữa ngƣời dân từ Bongas và ngƣời dân từ Sarinagen để thấy sự ảnh hƣởng khác biệt đặc trƣng của dân cƣ hai vùng với dự án.
Tuy nhiên, báo cáo mới dừng ở mô tả hiện trạng, còn thiếu dữ liệu định tính để đi sâu phân tích nguyên nhân của các vấn đề ngƣời dân sau tái định cƣ. Marko Valenta, Tác giả đề tài "Quan hệ xã hội sau tái định cư - Finding friends after resettlement" PhD.