phần mở đầu, nó có thể là số dân sống trong khu vực đô thị thuần khiết, có thể là số dân nằm trong ranh giới hành chính đô thị. Dân sô' đỏ thị tăng đột biến trong thống kê khi một khu dàn cư nào đó được công nhận là đô thị bằng một quyết định hành chính. Tăng trưởng đô thị là sự phát triển của đô thị, việc đánh giá tăng trưởng đô thị thường trên cơ sở tãng dân số, cho nên khi nói tăng trưởng đô thị cũng là nói tăng dân số của đô thị và ngược lại. Trên thế giới hiện nay có hai xu hướng đô thị hóa.
Xu hướng "điểm” là tập trung phát triển các đô thị lớn và cực lớn. Xu hướng "diện" là phát triển đồng đều các đô thị và vùng nông thôn. Kinh nghiệm ở nhiều nước cho Ihấy đô thị hóu theo "điểm" có hiệu quả về kinh tế cao hơn. Nhiều nước đã bốc lên nhờ các đô thị cực lớn như Hàn Quốc nhờ Seoul, Mexico nhờ Mexico City, Thái Lan nhờ Bangkok v.
trong khi đó ở một số nước khác có các chính sách nhằm chuyển quá trình phát triển từ những thành phố lớn có năng lực cao qua các thành phố nhỏ kém năng lực hơn hoặc về vùng nông Ihôn đã làm tốc độ phát triển bị chậm lại. Điều này cũng dễ hiểu vì năng suất lao động, các cơ hội kinh doanh, hiệu quả đầu tư cơ sở hạ tầng ở thành phố lớn Ihường cao hơn ở thành phố nhỏ và vùng nông thôn. Tuy nhiên các thành phố cực lớn lại nảy sinh nhiều yếu tố bất lợi về xã hội và môi Irường, như việc làm tăng khoảng cách giàu nghèo, tăng sự cách biệt đô thị và nông thôn hoặc gây nhiều khó khăn cho việc bảo vệ môi trường sống. Chiến lược phát triển đô thị ở nước ta cũng như ở nhiều nước khác hiện nay, một mặt khai thác tính ưu việt của xu hướng phát triển tập trung (xu hướng "điểm"), mặt khác chú trọng phát triển khu vực nông nghiệp và nông thôn để hạn chế các mặt yếu của xu hướng này.
Cần lưu ý ràng xu hướng "điểm" còn là xu hướng tự phát của thị trường, nó phản ánh tác động cúa luật cung cầu, nên việc hạn chế, điều chỉnh XLI hướng này là việc khó. Ví dụ ở Trung Quốc, điều 4 Luậl Quy hoạch (năm 1989) có nêu "Nhà nước thực hiện phương châm khống chế nghiêm ngặt quy mó của các 12 thành phố lớn, phát triển hợp 1> các thành phố vừa và nhỏ" (thành phố lớn được quy định từ 500 ngàn dàn trở lên). Đồng thời có cả phong trào ''ly nông bất ly hương" để phát iTÌến sản xuất phi nông nghiệp ở vùng nông thôn, giữ dân ở nông thôn. Nhưng kết quả của chính sách mở cửa (từ 1979) các thành phố lớn và cực lớn vẫn phát triển nhanh nhất, nhất là khu vực phía Đông nước này.
Đô th ị hóa là tất yếu Điều dễ hiểu là cùng với sự phát triển kinh tế hàng hóa là sự xuất hiện các trung tâm giao ỉưu hàng hóa. Đô thị hình thành từ quá trình ấy, đó là quá trình tất yếu của sự phát triển. Đô thị càng phát triển mạnh mẽ trong thời kỳ công nghiệp hóa. Thời kỳ công nghiệp hóa là thời kỳ có 4 tiến trình song song; - Trước hết là tiến trình nâng cao năng suất lao động.
Năng suất lao động công nghiệp cao hơn nhiều lần so với lao động thủ công. - Thứ hai là tiến trình tái định cư trên quy mô quốc gia. Đó là quá trình chuyển từ 80% dân cư sinh sống ở nông thôn thành 80% dân cư sinh sống ở đô thị, chưa kể một sô' lượng lớn dân cư di chuyển cùng với sự phát triển nông, lâm, ngư nghiệp. - Thứ ba là tiến trình tái bố trí sử dụng đất đai, không những chỉ là tiến trình phát triển các cơ sở sản xuất công nghiệp lớn, các khu dân cư mới, mà còn là tiến trình hiện đại hóa nền sản xuất nông-lâm-ngư nghicp.
- Thứ tư là tiến trình cải thiện đòi sống vật chấl và tinh thần của nhân dân. 'ĩa có thể thấy rõ cá 4 tiến liinh này đều gắn liền với quá trình đô thị hóa. 'rrước đây do chịu ánh hưỏHií hàng ngàn năm của tư tưởng phong kiến "trọng nông khinh thirơim" và trước mặt trái của đô thị như các tệ nạn xã hội thường tập Irung ỏ' đô thị. hiện tưựnu nmrời thất nuhiệp, hiện tượng ăn chơi xa hoa v.
người ta thườníi e ngại sự phát triển đò thị. Trên thực tế do đô thị là nơi tập trung các cơ sở sán XLiấi C(5 năng suất cao, là nơi lập trung các c ơ sư văn hóa, g iá o dục, ngh iên CỨLI phát iriến, là trung tâm "iao lưu thông tin v. nên các đô thị thực sự trở thành nauổn lực của quốc iỉia, đóntỉ góp sản phẩm để đáp ứng phần lớn nhu cầu quốc gia, là nưi sinh sôi phát triển. Ví dụ thành phố Hồ Chí Minh chiếm 6% dân số nhưng đã dóng góp khoảng 1/3 ngán sách quốc gia (số liệu thống kê nhiều năm, từ 1995).
Một vai trò đặc biệt quan trọng nữa của quá trình đô thị hóa, là chính quá trình này đã giải quyết tình trạng nshèo nàn lạc hậu ở khu vực nông thôn. Chính nông thôn mới là nơi sản sinh ra nạn thất nghiệp. Lý do là ruộng đất có hạn, tăng dán số tự nhiên cao, nhu cẩu lao động lại giảm do kết quả cúa việc cơ giới hóa. Các đô Ihị đang phát triển là nơi liếp nhận số lao động dư thừa này ở nông thôn.
Các đô thị còn 13 là nơi tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp với số lượng ngày một lớn, chất lượng nsày một cao. Đây là yếu tô' quyết định sự tăng năng suất lao động và cải thiện đời sống của nhân dân ở khu vực nông-lâm nghiệp và nông thôn. Các thách thức cho tương lai đò thị 1. B ối cảnh Theo kinh nghiệm các nước, khi mức độ đô thị hóa đạt tới 20% thì đô thị băt đầu có vai trò nổi bật trong nền kinh tế xã hội.
Đến năm 2000, đã có 51% dân số thế giới sống trong đô thị. Các vấn đề của đô thị đã trở nên các vấn đề lớn của thố giới. Loại trừ các xung đột về chính trị, những vấn đề trọng yếu được thế giới cùng quan tâm là: - Yêu cầu phát triển bền vững, - Vấn đề toàn cầu hóa về kinh tế, - Vấn đề nghèo đói, - Vấn đề môi trường sinh thái. Do không xử lý tốt các vấn đề của quá irình công nghiệp hóa, ở nhiều nước (trong đó có Việt Nam) đã gặp phải tình trạng tồi tệ về đô thị, như nhận định của Ngân hàng thế giới (WB) là "yếu kém, không hiệu quả, không lành mạnh, thiếu công bằng".
Trên thực tế, do quá trình toàn cầu hóa, chính quyền các nước đang phát trién mất dần khả năng kiểm soát phát triổn với tư cách của một quốc gia độc lập. Sự phiít triển kinh tế phụ thuộc rất nhiéu vào ý chí của các Công ty đa quốc gia. Theo tài liệu của hai tác giả Medard Gabel và Henry Buner, phát hành ở Hoa Kỳ năm 2003, năm 200Ơ thế giới có 63.000 Công ty đa quốc gia, 1000 Công ty đa quốc gia lớn nhấl thế giới hiện nay đã chiếm 80% giá trị sán lượng công nghiệp toàn cầu. Exxon Mobil Corp là Công ty đa quốc gia lớn nhất thế giới hiện nay có doanh thu hàng năm lởn hơn giá trị tổng sản phẩm nội địa (GDP) của 200 trong số 220 quốc gia và vùng lãnh thố Irên toàn cầu**\ Nước ta đang trong quá trình côns nghiệp hóa - hiện đại hóa và cũng là quá trình đô thị hóa.
Quá trình này cũng là quá trình hội nhập với nền kinh tế thị trườna toàn cầu. Một mặt chịu sự chi phối của các quy luật vận động và phát triển toàn cầu. mặl khác chịu sự chi phối cúa các đặc điểm phát triển Irong nước. Đặc điểm nổi bật là nước ta đang trong ihời kỳ chuyển đổi với ba trạng thái quá độ song hành.
Nguồn: Báo Đáu íỉ( cìiíaig khoán s ố 217, }]ịỉ,ày 02. 14 - Q uá độ từ nền sản xuất tự nhiên lên sản xuất hàng hóa, - Quá độ từ nền kinh tế theo cơ chế kế hoạch hóa (hành chính bao cấp) qua cơ chế thị trường. - Q uá độ từ chế độ thuộc địa nửa phong kiến lên xã hội chủ nghĩa. Các trạng thái chuyển đổi của nền kinh tế nước ta xảy ra trong môi trường toàn cầu hóa với yêu cầu cạnh tranh gay gắt đặt ra trước mắt các đô thị những thử thách rất lớn.
Các thách thức a) Tính cạnh tranh Tính cạnh tranh và vai trò của các đô thị quyết định tương lai kinh tế của các quốc gia. Khả năng cạnh tranh của các đô thị biểu hiện ở sức hấp dẫn đầu tư để phát triển kinh tế trong điều kiện ổn định, bền vững. Các đô thị mất khả năng cạnh tranh, nền kinh tế quốc gia sẽ suy sụp. b ) M ôi trường Phát triển công nohiệp đi liền với phát triển chất thải với quá trình làm bầu khí quyển trái đất nóng lẽn và lạo ra hiệu ứng nhà kính.
Theo dự báo trong vòng 25 năm tới mức độ ô nhicm ni2,uồn nước có thể tăng lên 10 lần và lượng khí thải độc hại sẽ lãng lèn 15 lần. Phần lớn irên 70% chít thải độc hại là của đô thị. Nhu cầu hạ giá thành sán pham đc tăng tính cạnh tranh làm hạn chế khả năng xử lý ô nhiễm, nhâì là khi thicLi sự kiểm soát chặl chẽ của Nhà nước. Nhu cẩu phát triển đô thị lừriR riiíày từng giờ đc dọa môi trường sinh thái, diện tích đất rừna và đất nông nghiệp ngày một giảm.
Phát triển đô ihị, tăng khả năng cạnh tranh trong yêu cầu bảo vệ tốt môi trường là một thách thức lớn của các đô thị. c) Nạn nghèo dói vù hất cóììi’ xã hội Nông dân nghèo thiếu đâì canh tác thường xuyên bổ sung vào đội quân nghèo đói ở đò ihị. Chốrm nuhèn đói khôniỊ chi là mục tiêu xã hội lớn lao cúa nước ta, mà còn là của nhicii nước trên thố giới, vì cùng với nó là xung đột xã hội và mất ổn định về kinh tế. Nciiồn gốc cúa lính năn" độníỉ.
của nàng suất lao động cao trong nền kinh tế thị trường là độrm lực cá nhãn được íiiái phón«. Quá trình phát triển kinh tế thị trường theo hướng tự phát là quá trình phân tầng xã hội, là quá trình tăng thêm khoảng cách giàu nghèo, khoảng cách giữa thành thị và nông thôn. Hậu quả của quá trình này là các tệ nạn xã hội và xung đột.