Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ PHƯỜNG TRÀ CỔ THÀNH PHỐ MÓNG CÁI, TỈNH QUẢNG NINH 1. Vị trí địa lý và lịch sử hình thành Phường Trà Cổ là điểm cực Đông Bắc của Tổ quốc (mũi Gót hay mũi Sa Vĩ), là nơi đặt nét vẽ đầu tiên về đất liền trên bản đồ Việt Nam. Phía Bắc của phường Trà Cổ giáp phường Hải Hòa; phía Nam giáp biển Đông; phía Tây giáp phường Bình Ngọc; phía Đông giáp Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, phân định biên giới Việt Nam - Trung Quốc bằng cột mốc 1377, 1378. Đây là một phường biên giới, có đường biên giới biển giáp với Trung Quốc dài 7,5km.
Vị trí của phường khoảng 21°25’ Bắc, 108°00’ Đông. Phường nằm về phía Đông Nam của thành phố Móng Cái, cách trung tâm thành phố 8km, cách Hà Nội 334km, từ Hạ Long ra Trà Cổ khoảng 132 km. Mặc dù có một phần không gian địa lý tự nhiên gắn với “đất liền” nhưng nhìn một cách tổng quan, Trà Cổ là một bán đảo mà bao quanh là bờ biển dài, được bồi tụ do sóng và dòng biển ven bờ tạo nên, có nước thủy triều lên xuống. Trước kia từ Móng Cái ra Trà Cổ phải vượt qua một đầm lầy như một eo biển nhỏ, tục gọi là sông Trà Cổ nên địa thế khu vực gần như một hải đảo.
Một con đê được đắp nối Trà Cổ vào đất liền và quãng đầm cũ ngăn cách Trà Cổ và Móng Cái đã bị lấp dần vào thế kỷ 20. Hình thế của Trà Cổ là một dải đất dài chạy theo hướng đông bắc - tây nam. Mặt đông nam nhìn ra Vịnh Bắc Bộ, hướng tây bắc trông vào đất liền. Góc đông bắc nhìn sang Trung Quốc là mũi Gót.
Góc tây nam là mũi Ngọc hướng về đảo Vĩnh Thực. Như vậy, Trà Cổ là một bán đảo nằm ở vị trí tiền tiêu, có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng trong phát triển kinh tế, văn hóa, đảm bảo an ninh quốc phòng. Về an ninh: Đây là một điểm chốt quan trọng, không thể đánh chiếm, thuận lợi trong việc kiểm soát diễn biến trên nhiều hướng: Trên biển khơi, trên các đảo và cả phần lục địa ven biển. Trà Cổ hợp thành một vòng cung thoải quay phần lõm về phía biển khơi đã hình thành nên một lá chắn lớn cho đất liền.
Đồng thời, do nằm ở vị trí cửa khẩu trên biển, kiểm soát một vùng biển rộng lớn nên vai trò của Trà Cổ càng được tăng cường. Nằm ở vị trí “cửa ngõ” trong giao lưu kinh tế với đất liền và với nhiều khu kinh tế lớn mạnh của Trung Quốc, Trà Cổ lại được bao bọc bởi một vùng biển rộng lớn, nằm ngay cạnh ngư trường lớn Đông Bắc với nguồn lợi hải sản phong phú. Chính những điều 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com kiện đó đã tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế biển đồng thời cũng là điều kiện cho phát triển các ngành kinh tế truyền thống như nông nghiệp, lâm nghiệp. Trà Cổ cũng có mối liên hệ mật thiết với các điểm, tuyến du lịch trong đất liền do có đặc điểm và chế độ hải văn thích hợp để phát triển nhiều loại hình du lịch biển.
Nằm trong khu vực rìa của Biển Đông, Trà Cổ có điều kiện thuận lợi trong giao lưu kinh tế với các nước trên thế giới, đặc biệt là khu vực châu Á - Thái Bình Dương, khu vực phát triển kinh tế năng động của thế giới. Vì vậy, Trà Cổ có vị trí quan trọng trong trung chuyển hàng hóa. Với vị trí địa lý, vị thế và tiềm năng như trên, chắc chắn Trà Cổ sẽ có những đóng góp tích cực, hiệu quả cho phát triển chung của tỉnh Quảng Ninh. Tuy nhiên, trong những năm qua, kinh tế biển của Phường mặc dù đã có những kết quả khả quan nhưng nhìn chung quy mô phát triển còn chưa tương xứng với tiềm năng vốn có.
Những cư dân đặt chân đến vùng đất Trà Cổ “khai sơn lập thạch” vốn có gốc gác từ Đồ Sơn. Chính vì vậy, người Trà Cổ qua bao đời nay vẫn lưu truyền câu ca “Người Trà Cổ - Tổ Đồ Sơn” để con cháu luôn nhớ về nguồn cội gốc gác xa xưa của mình. Theo truyền thuyết của nhân dân địa phương, vào thế kỷ XV, cuộc chiến tranh Trịnh-Mạc đã khiến nhân dân vùng Đông Bắc, nhất là quê hương của nhà Mạc ở Nghi Dương, Kiến Thuỵ (Hải Phòng) điêu đứng, nhiều gia đình phải tha hương tìm vùng đất mới sinh sống. Trong số đó có 12 gia đình dân chài quê ở Đồ Sơn đã lên thuyền đi về phía đông bắc.
Trong một lần sóng to gió lớn, 12 gia đình đã trôi dạt vào một bán đảo hoang vu chỉ có sú vẹt. Sau khi đặt chân lên đảo, 6 gia đình khi nhìn thấy cảnh nơi đây hoang vu và buồn chán nói rằng: “Ở đây ăn bổng lộc gì Lộc sung thì chát, lộc si thì già” [2; tr.9] Và thế là 6 gia đình tìm cách trở về với quê hương cũ, 6 gia đình còn lại nhìn thấy phong cảnh hữu tình, tiềm năng đầy hứa hẹn của vùng đất mới, có thể sống bằng nghề đánh bắt nên đã ở lại sinh sống và lập làng. Họ nói rằng: “Ở đây vui thú non tiên, Tháng ngày ngày lọc nước lấy tiền nuôi nhau” [2; tr.9] Các gia đình cùng nhau khai phá vùng đất mới, ngày ngày vừa đánh cá vừa khai hoang, sau một thời gian họ đã tạo lập được một làng nhỏ. Trải qua thời gian, ngôi làng 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com dần trù phú, con cháu đông đúc.
Họ đã lập lên một làng mới nhưng họ không quên hướng về quê hương cũ nên đã lấy tên làng Trà Phương và Cổ Trai ở Đồ Sơn (Hải Phòng) ghép thành tên làng “Trà Cổ” để đặt cho làng mới của mình, với ý nghĩa luôn nhớ về quê hương Đồ Sơn. Cuối thời hậu Lê, xóm làng ấy đã phát triển thành một vùng quê với một tổ chức xã hội ổn định. Như nhiều làng quê khác trên đất nước Việt Nam, ngôi đình làng đã được nhân dân góp công, góp của xây dựng lên, đó chính là đình Trà Cổ. Theo lời kể của nhân dân địa phương thì sau khi xây dựng, các cụ tiên công ở đây đã về quê cũ tại Đồ Sơn xin chân hương để rước các vị thành hoàng ở đó là Khổng Lộ, Giác Hải, Nhân Minh, Huyền Quốc, Quảng Trạch.
Đồng thời tôn hai vị thần là Ngọc Sơn (Thần Núi) và Bạch Điểm Tước (Thần Chim) lên làm thành hoàng của làng. Về sau, từ ngôi làng nhỏ đã mở rộng thêm các thôn Đông Thịnh, Tràng Lộ, Tràng Sa, Sa Vĩ, Ngọc Sơn và Bình La [34; tr. Từ khi lập làng đến nay, Trà Cổ đã trải qua nhiều lần sáp nhập, chia tách với nhiều đơn vị hành chính khác nhau. Thời nhà Nguyễn trở về trước là vạn Trà Cổ thuộc tổng Hải Ninh, châu Vạn Ninh, trấn An Quảng.
Dưới thời Tự Đức là xã Trà cổ thuộc châu Vạn Ninh. Thời Đồng Khánh là xã Trà Cổ thuộc Tổng Ninh Hải, Châu Vạn Ninh [33; tr. Thời Thành Thái xã Trà Cổ thuộc châu Hà Cối, phủ Hải Ninh. Thời Duy Tân, năm 1910, xã Trà Cổ được chia thành hai xã: Trà Cổ ở phía bắc và Bình Ngọc ở phía nam, cả hai thuộc tổng Hải Ninh, châu Móng Cái.
Bình Ngọc gồm hai thôn Ngọc Sơn và Bình La. Trà Cổ bao gồm những thôn còn lại. Hòa bình lập lại, ngày 2/7/1964, Hội đồng Chính phủ đã ra Quyết định số 106/CP đổi thị xã Móng Cái thành thị trấn Móng Cái thuộc huyện Móng Cái. Lúc này, huyện Móng Cái bao gồm 21 xã và thị trấn là Trà Cổ, Bình Ngọc, Vạn Ninh, Vĩnh Trung, Vĩnh Thực, Cái Chiên, Xuân Hòa, Xuân Hải, Lục Lầm, Xuân Lan, Xuân Ninh, Vạn Xuân, Ninh Dương, Đoan Tinh, Quất Động, Quất Đoài, Thán Phún, Pò Hèn, Lục Phủ, Tràng Vinh và thị trấn Móng Cái.
Thực hiện Quyết định số 354 - QĐ/UBND ngày 30/8/1990 của UBND tỉnh Quảng Ninh về việc chuyển dân cư, chính quyền thị trấn Hải Ninh và các cơ quan thuộc huyện Hải Ninh từ nơi sơ tán về địa điểm cũ. Được sự đồng ý của huyện, 5 năm 1991- 1995 Trà Cổ đã đón nhận 524 hộ với 2800 khẩu ở nơi sơ tán về nơi ở cũ, thành lập lại 2 thôn Tràng Lộ và Tràng Vĩ [2; tr. 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tiếp đó, ngày 20/7/1998, Thủ tướng Chính phủ ra Nghị định số 52/1998/NĐ- CP tái lập thị xã Móng Cái (trên cơ sở toàn bộ diện tích và dân số của huyện Hải Ninh cũ) trực thuộc tỉnh, bao gồm 5 phường: Hòa Lạc, Trần Phú, Ka Long (trên cơ sở các khu của thị trấn Móng Cái cũ), Ninh Dương (từ xã Ninh Dương), Trà Cổ (từ xã Trà Cổ) và 11 xã: Quảng Nghĩa, Hải Tiến, Hải Đông, Hải Yên, Hải Hòa, Hải Xuân, Vạn Ninh, Hải Sơn, Bình Ngọc, Vĩnh Trung và Vĩnh Thực. Như thế, phường Trà Cổ đã được thành lập trên cơ sở 13,69 km² và 2.631 người của xã Trà Cổ.
Đến ngày 24/9/2008, Chính phủ ra Nghị định số 03/NĐ-CP về việc thành lập thành phố Móng Cái thuộc tỉnh Quảng Ninh, bao gồm 17 đơn vị hành chính, trong đó có 7 phường: Hòa Lạc, Trần Phú, Ka Long, Ninh Dương, Trà Cổ, Hải Yên, Hải Hòa và các xã Quảng Nghĩa, Hải Tiến, Hải Đông, Vạn Ninh, Hải Xuân, Vĩnh Thực, Vĩnh Trung, Bắc Sơn, Hài Sơn, Bình Ngọc. Trải qua 20 năm phát triển, với những thành tựu đạt được trên các lĩnh vực, ngày 19/9/2018, thành phố Móng Cái được công nhận là đô thị loại II. Trà Cổ thời điểm này là một trong 17 đơn vị hành chính trực thuộc thành phố Móng Cái. Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên Địa hình của Trà Cổ thuộc dạng đồi núi thấp, bị chia cắt mạnh, sườn dốc, không đối xứng.
Đỉnh cao nhất cũng không vượt quá 200m. Do đặc điểm hình thành bán đảo nên dạng địa hình đồng bằng nguồn gốc lục địa ít. Trong khi đó các dạng đồng bằng nguồn gốc biển chưa phát triển. Các dạng địa hình tích tụ đã tạo nên những bãi tương đối bằng phẳng, được tạo thành bởi cát trung và thô, rất thuận lợi để phát triển hoạt động du lịch.
Một số quả đồi ăn lan ra sát mép biển, bị mài mòn mạnh mẽ, tạo ra những vách dốc đứng, có thể tận dụng để phát triển loại hình du lịch mạo hiểm kết hợp với nghỉ dưỡng trên bãi biển. Trà Cổ có diện tích đất tự nhiên là 1301,07 ha (chiếm 3% diện tích của thành phố Móng Cái), trong đó đất nông nghiệp 394,33ha (30,3%); đất phi nông nghiệp 501,18ha (38,52%); đất chưa sử dụng 405,06ha (31,18%) [2; tr. 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.18 30 Đất nông nghiệp Đất phi nông nghiệp Đất chưa sử dụng Biểu đồ 1.