Chương 1 Đổi mới tư duy lý luận và tính tất yếu của việc đổi mới tư duy lý luận của đảng ta 1. Một số vấn đề về tư duy lý luận và đổi mới tư duy lý luận 1. Tư duy lý luận Ngay thuở ban đầu sơ khai, khi khoa học chưa phát triển và khi triết học đóng vai trò “bách khoa toàn thư” đã xem vấn đề tư duy như một đối tượng không thể thiếu trong nghiên cứu. Các nhà triết học đã đi vào tìm hiểu và giải thích về nguồn gốc sinh thành, phát triển của tư duy, các quy luật của tư duy, cũng như vai trò của nó đối với đời sống hiện thực.
Từ những lập trường triết học khác nhau (duy vật hay duy tâm) mà câu trả lời cũng rất phong phú và đa dạng. Trong lịch sử triết học, vấn đề tư duy có vị trí đặc biệt quan trọng. Tư duy với tư cách là đối tượng nghiên cứu, và xem xét nó trong mối quan hệ với vật chất, với thế giới hiện thực khách quan, là vấn đề xuyên suốt trong lịch sử triết học. Chính vì vậy, Ph.Ăngghen khẳng định: “Vấn đề cơ bản của mọi triết học, đặc biệt là của triết học hiện đại, là vấn đề quan hệ giữa tư duy và tồn tại” [41; 403].
Khi khoa học tự nhiên và khoa học xã hội và nhân văn phát triển, tư duy ngày càng được nghiên cứu dưới nhiều góc độ và khía cạnh khác nhau: Sinh lý học nghiên cứu tư duy với tính cách là hoạt động của các hệ thần kinh cấp cao, điều khiển học nghiên cứu cơ chế điều khiển của tư duy, lôgic học thì nghiên cứu những hình thức và những quy luật của tư duy, tâm lý học nghiên cứu sự tác động của hệ thần kinh cấp cao, não người với môi trường xung quanh … Mỗi ngành khoa học đều muốn khám phá tư duy dưới những góc độ riêng, và thông qua những khám phá ấy để minh chứng vai trò to lớn của tư duy trong hoạt động nhận thức và hoạt động cải tạo thực tiễn của con người. Nguyễn Thị Đào - K13 Triết học 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận văn thạc sĩ triết học Trong hoạt động sống của mình, con người chịu tác động của môi trường thiên nhiên, đồng thời con người cũng tác động trở lại môi trường thiên nhiên ấy, nhằm cải tạo thiên nhiên phục vụ cho cuộc sống của chính mình. Trong mối quan hệ ấy, con người với tư cách là chủ thể tác động vào đối tượng khách quan bằng phương thức riêng biệt đặc trưng riêng cho loài của mình, đó là quá trình tư duy. “Việc tạo một cách thực tiễn ra thế giới vật thể, việc cải tạo thế giới tự nhiên vô cơ là sự tự khẳng định của con người với tư cách là một sinh vật có tính loài có ý thức” [42; 136].
Cố nhiên con vật cũng sản xuất nhưng con vật chỉ sản xuất một cách phiến diện, trong khi con người sản xuất một cách toàn diện. Con vật sản xuất chỉ vì bị nhu cầu thể xác chi phối, còn con người sản xuất cả khi không bị nhu cầu ràng buộc. Cũng có thể nói, khi con người sản xuất không bị nhu cầu thể xác ràng buộc thì con người mới sản xuất theo đúng ý nghĩa của từ đó. Điểm khác biệt giữa con người và con vật là ở chỗ: con vật thì chỉ sản xuất ra bản thân nó, còn con người thì tái sản xuất ra toàn bộ giới tự nhiên.
Quá trình sản xuất của con người không phải một cách tuỳ tiện, vô nguyên tắc mà con người sản xuất theo “quy luật của cái đẹp”, nhà kiến trúc sư trước khi xây dựng ngôi nhà đã hình thành sẵn trong đầu mình mô hình về ngôi nhà đó rồi. Ranh giới phân biệt giữa con người và con vật không phải về mặt địa lý, mặt không gian và thời gian, mà là về mặt tư duy, ý thức. “Chính con người, khi phát triển sự sản xuất vật chất và giao tiếp vật chất của mình, đã làm biển đổi, cùng với hiện thực đó của mình, cả tư duy lẫn sản phẩm tư duy” [36, 38]. Thực chất, tư duy là chức năng riêng biệt vốn có của não người, đó là quá trình con người tiếp cận và nắm bắt hiện thực, là hình thức cao cho sự phản ánh hiện thực, là hình thức cao cho sự phản ánh tích cực, chủ động, có mục đích về thế giới hiện thực khách quan; và được thể hiện ra như là sự nhận thức có tính gián tiếp, khái quát về các mối liên hệ, quan hệ giữa các sự vật, Nguyễn Thị Đào - K13 Triết học 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận văn thạc sĩ triết học hiện tượng.
Tư duy là hình thức cao trong sự phản ánh hiện thực khách quan, trong đó con người qua các tài liệu thu được từ nhận thức cảm tính thực hiện, thông qua các thao tác tư duy (phân tích, tổng hợp, so sánh, phán đoán, suy lý…) phân tích các dữ kiện, tài liệu để đưa kết luận cuối cùng trong chuỗi phản ánh. Mỗi kết luận được đưa ra thường đem lại những tri thức mới. Nội dung của tư duy hình thành trên cơ sở các tài liệu của cảm giác, tri giác, biểu tượng về các sự vật và hiện tượng của thế giới bên ngoài tác động vào chủ thể tư duy. Nhưng quá trình tư duy không phải là sự tổng hợp đơn giản các cảm giác và tri giác ấy.
Với bộ công cụ đặc biệt của mình, tư duy giúp cho chủ thể nhận thức phản ánh được những thuộc tính cơ bản, những mối liên hệ cơ bản không chỉ có ở những sự vật riêng lẻ, mà còn ở một nhóm sự vật. Tư duy có khả năng nắm bắt, phát hiện được bản chất của sự vật ngày càng sâu sắc hơn. Tính gián tiếp, khái quát hoá, trừu tượng hoá, tính tích cực và sáng tạo là đặc trưng cơ bản của tư duy con người. Nhờ những đặc trưng này, tư duy thoát khỏi sự ràng buộc của hoàn cảnh trực tiếp mà vẫn có thể nhận thức được đối tượng.
Tư duy giúp con người nhận thức sự vật, hiện tượng ở mức độ bản chất của nó. Trong quá trình trừu tượng hoá, dường như tư duy tách rời khỏi hiện thực, khỏi cái cụ thể, cái cảm tính để gạt bỏ cái bề ngoài, ngẫu nhiên, đi vào bên trong, bản chất của sự vật, phát hiện những mối liên hệ căn bản nhất. Từ đó, tái tạo về sự vật, hiện tượng một cách toàn diện, sâu sắc. Tuy nhiên, thế giới khách quan là vô cùng phong phú và đa dạng mà tư duy là kết quả của sự tác động bởi yếu tố khách quan và chủ quan.
Vì vậy, quá trình tư duy là một quá trình phức tạp, nó không tiến hành phản ánh một lần mà phải thực hiện cả một chuỗi phản ánh để đi đến nhận thức sâu sắc về đối tượng. Khả năng “tư duy của con người vừa tối cao vừa không tối cao, và khả năng nhận thức của con người vừa vô hạn vừa có hạn. Tối cao và vô hạn là xét theo bản tính, sứ mệnh, khả năng và mục đích lịch sử cuối cùng; không tối cao và có hạn là xét Nguyễn Thị Đào - K13 Triết học 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận văn thạc sĩ triết học theo sự thực hiện riêng biệt và thực tế trong mỗi thời điểm nhất định” [39; 127]. Do đó, tư duy của con người với sản phẩm của nó, không phải tất cả đều là chân lý, và không thể là một “chân lý vĩnh cửu”.
Trên thực tế, vì tư duy có tính sáng tạo; do đó, nó có khả năng vượt trước thực tiễn, đi trước hiện thực khách quan. Nhưng cũng vì sự linh động này mà đôi khi tư duy dễ mắc phải những sai lầm trong quá trình phản ánh khi nó thoát ly hoàn toàn thực tiễn. Điều này làm cho tư duy được thể hiện ra rất phong phú về độ phản ánh cũng như phương pháp phản ánh. Lĩnh vực phản ánh của tư duy rất đa dạng: bao gồm tư duy về kinh tế, tư duy về chính trị, tư duy về văn hóa … nhưng mọi hình thức phản ánh, lĩnh vực phản ánh của tư duy đều có mục đích cuối cùng là nhằm tạo ra sản phẩm được chứng nhận với tên gọi là chân lý.
Vì vậy, phương pháp tư duy có thể là tư duy hình thức, tư duy biện chứng hay tư duy siêu hình, tư duy kinh viện… và thông qua cách thức mà chủ thể tư duy phản ánh về đối tượng, sẽ cho phép chúng ta đánh giá được chủ thể tư duy đang ở trình độ nào trong tư duy. ở đây, chúng ta xem xét đến mối quan hệ giữa tư duy kinh nghiệm và tư duy lý luận để xem xét và trả lời cho câu hỏi: Vậy thì trình độ tư duy có mối liên hệ như thế nào với phương pháp tư duy và nó có vai trò như thế nào trong đời sống hiện thực, điểm khác biệt của chúng là ở đâu? Trong mối quan hệ giữa tư duy kinh nghiệm và tư duy lý luận, chúng ta thấy rõ được sự tác động qua lại giữa hai trình độ tư duy này, chúng không hoàn toàn phủ định nhau một cách sạch trơn mà đó là sự phủ định có tính kế thừa, mặc dù có sự khác biệt rõ nét. Tư duy kinh nghiệm với sản phẩm của nó là những tri thức kinh nghiệm, là tập hợp những hiểu biết tích luỹ được, rút ra trong hoạt động nhận thức của chủ thể tư duy, là kết quả được nhận thức bằng con đường trực quan, cảm tính mang tính kinh nghiệm của mỗi người. Những tri thức rút ra từ tư Nguyễn Thị Đào - K13 Triết học 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận văn thạc sĩ triết học duy kinh nghiệm không phải là chân lý lý luận, là chân lý khoa học đích thực mà chỉ là “chân lý” của những cái đã trải qua và nó bó hẹp trong phạm vi thế giới kinh nghiệm.
Cái chung ở tri thức kinh nghiệm chỉ là tổng cộng những sự vật, mối liên hệ riêng lẻ, đơn nhất được tập hợp theo dấu hiệu tương tự, bề ngoài, được lặp đi lặp lại nhiều lần một cách trực quan chứ không phải là cái bản chất, tất yếu, phổ biến tồn tại trong những cái riêng. Kinh nghiệm là sự phản ánh những dấu hiệu, những mối quan hệ hình thức, bề ngoài lặp đi lặp lại nhiều lần trong cuộc sống hiện thực.