đặt vấn đề công nghệ đúng mức độ cần thiết. Các ưu tiên khác thường được đặt lên trên công nghệ. - Công nghệ được chuyển giao vào các ngành khác nhau chỉ dừng ở mức tỉnh tại. Các cơ sở nhận công nghệ thường thiếu các cơ chế tổ chức (các cơ quan nghiên cứu và triển khai thích hợp) để sử dụng các thành phần động của công nghệ nước ngoài để khai thác tối đa lợi ích từ các tác dụng khác của chúng.
Khi không có một kế hoạch phát triển dựa trên công nghệ hay một chính sách thận trọng về tự lực công nghệ, việc ra các quyết định công nghệ thường chịu sự ảnh hưởng của hệ thống giá cả và sự ưa thích cá nhân của các cơ quan và cá nhân khác nhau, thường phải đấu tranh với sự áp đặt của các cơ quan bên ngoài trong các dự án do nước ngoài hỗ trợ. Các vấn đề này nảy sinh dường như do thực tế là các nhà làm chính sách và kế hoạch thường không thống nhất được với nhau về cách xác định 23 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com các nhu cầu công nghệ. Một trong những lý do không đạt được sự thống nhất đó là do các quan điểm của các nhà lập kế hoạch truyền thống và các nhà chuyên môn khác thường rất khác nhau, đặc biệt là khi liên quan đến công nghệ. Trên thực tế ở nước ta đang có nhu cầu lớn về phát triển công nghệ phục vụ phát triển KT - XH và ngày càng trở thành yếu tố quan trọng, quyết định năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.
Phát triển công nghệ liên quan đến nhiều ngành, nhiều cấp và là trách nhiệm chung của toàn xã hội. Những hạn chế đã nêu ảnh hưởng tới việc phát huy vai trò, tác dụng của công nghệ đối với phát triển KT - XH ở nước ta. Những tác động tích cực của công nghệ thường được nhắc đến trên thế giới và Việt Nam như “mang lại sự phát triển đột biến, có giá trị chiến lược đối với Quốc gia” vẫn chưa được thể hiện rõ ràng và đầy đủ trong thực tiễn phát triển KT - XH hiện nay của nước ta. Lý thuyết về thị trƣờng 1.
Khái niệm thị trường Hiện nay trong các tài liệu nghiên cứu, khái niệm thị trường có nhiều cách diễn giải khác nhau tùy theo cách tiếp cận, quan điểm và mục đích khác nhau. Nhưng về cơ bản được chia thành ba nhóm sau: - Nhóm thứ nhất, đó là cách diễn đạt thị trường như là phương tiện phân bố các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Cách hiểu về thị trường này thường được sử dụng trong các nghiên cứu về môi trường và phát triển bền vững. Ở đó sự quan tâm là vấn đề phân bố hiệu quả và bình đẳng các nguồn tài nguyên nhằm đạt mục tiêu phát triển bền vững.
- Nhóm thứ hai, thị trường được hiểu là nơi mà những người mua và người bán tiến hành giao dịch. Đây cũng chính là cách hiểu về thị trường tương đối phổ biến ở trong nước và trên thế giới. “Nơi” ở đây không nhất thiết phải là địa điểm có tọa độ địa lý. Mạng Internet và các sàn giao dịch trực tuyến, giúp cho người mua và người bán thực hiện các giao dịch mà không nhất thiết phải gặp mặt nhau cũng là thị trường.
Các diễn giải về thị trường này thường được sử dụng trong các nghiên cứu và phân tích về phát triển hệ 24 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thống, mạng lưới dịch vụ và thương mại của từng quốc gia, vùng lãnh thổ cụ thể. - Nhóm thứ ba, một cách hiểu khác về thị trường của các nhà kinh tế nhấn mạnh vào thể chế. Các nhà kinh tế tân cổ điển coi thị trường là một thể chế phân bố nguồn lực, quy định sản xuất và phân phối sản phẩm, dịch vụ thông qua hệ thống giá cạnh tranh. Theo cách tiếp cận kinh tế học chi phí giao dịch (transaction cost economics), thị trường được xem như là một thể chế kinh tế (economic institution) để thực hiện các giao dịch kinh tế.
Như vậy, mặc dù có nhiều cách diễn giải khác nhau về thị trường, song những cách diễn giải đó không mâu thuẫn nhau, chúng phản ánh sự đa dạng của khái niệm thị trường tương ứng với mỗi nghiên cứu cụ thể. Với cách nhìn tổng thể, (ngoài yếu tố hàng hoá - là điều kiện cần phải có) xét về mặt tổ chức, thị trường hàng hóa gồm bốn yếu tố cơ bản: (1) Tập hợp người bán (cung); (2) Tập hợp người mua (cầu); (3) Dịch vụ cho quá trình mua bán; (4) Tập hợp các quy định, thỏa thuận (để điều tiết hoạt động mua, bán) hay chính là những thể chế. Quy luật vận hành của thị trường Thị trường được vận hành trên cơ sở hai quy luật cơ bản: quy luật giá trị và quy luật cung cầu. Theo quy luật giá trị, sản xuất và trao đổi hàng hóa phải dựa trên cơ sở hao phí lao động xã hội cần thiết.
Sự vận động của quy luật giá trị thông qua sự vận động giá cả hàng hóa. Vì giá trị là cơ sở của giá cả, nên trước hết giá cả phụ thuộc vào giá trị; hàng hóa nào nhiều giá trị thì giá cả của nó sẽ cao và ngược lại. Thị trường vận hành có sự tham gia của hai lực lượng cơ bản đó là những người mua và những người bán. Quyền lợi của những người mua - bán trên thị trường được phản ánh thông qua tương tác giữa cung - cầu; trên cơ sở đó, giá cân bằng (hay giá thị trường) được xác lập.
Ở đây, “cầu” được xác định là số lượng hàng hóa hoặc dịch vụ mà người mua sẵn sàng mua (willing to purchase) ở một mức giá cụ thể; còn cung là số lượng hàng hóa hoặc dịch vụ mà người bán có thể sẵn sàng bán (willing to sell) ở một mức giá cụ thể. 25 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Những dạng khiếm khuyết của thị trường Thị trường được phân thành nhiều thị trường có cấu trúc khác nhau. Trong đó, thị trường cạnh tranh hoàn hảo (perfect competition market) là thị trường có ba yêu cầu cơ bản sau: (1) Có số lượng người mua và người bán đủ lớn để không một cá thể tham gia vào thị trường nào có thể tác động được đến giá thị trường; (2) Hàng hóa và dịch vụ bán ra phải đạt tiêu chuẩn hóa mà trong đó người mua không cảm nhận được sự khác biệt của cùng một loại sản phẩm của những người bán khác nhau và người mua có thông tin đầy đủ về giá cả của những hàng hóa và dịch vụ trên thị trường; và (3) Những người cung cấp hàng hóa và dịch vụ có thể dễ dàng tham gia vào hoặc rút khỏi thị trường.
Thị trường vi phạm một trong ba yêu cầu này là thị trường không hoàn hảo (hay thị trường cạnh tranh không hoàn hảo). Thị trường cạnh tranh hoàn hảo giúp cho việc phân bố tài nguyên hiệu quả nhất mà xã hội mong muốn. Trong thực tiễn, đại đa số các thị trường vi phạm một hoặc nhiều yêu cầu của thị trường cạnh tranh hoàn hảo. Theo mức độ vi phạm các yêu cầu của thị trường cạnh tranh hoàn hảo, thị trường trở nên khiếm khuyết ở những mức độ khác nhau.
Trong các tài liệu về kinh tế và phát triển, những khiếm khuyết của thị trường này thường được gọi là những thất bại thị trường (market failures) - là những trường hợp mà thị trường không thể phân bố hàng hóa và dịch vụ hiệu quả ở mức xã hội mong muốn. Thất bại thị trường có những trường hợp chủ yếu sau: (1) Độc quyền thị trường, là trường hợp khi thị trường chỉ do một (monopoly) hoặc một số ít (oligopoly) các nhà cung cấp hàng hóa và dịch vụ chi phối thị trường; (2) Tác động ngoại lai (trong một số tài liệu còn gọi là ngoại ứng) xảy ra khi hành động của một đối tượng có ảnh hưởng đến phúc lợi của đối tượng khác mà ảnh hưởng này không được bồi thường hoặc khen thưởng. Tác động ngoại lai là những tác động không được phản ánh trong các giao dịch hay là trong giá cả thị trường; (3) Hàng hóa công cộng là hàng hóa hoặc dịch vụ mà việc một cá nhân sử dụng không ngăn cản những cá nhân khác cùng đồng thời sử dụng 26 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hàng hóa đó; và (4) Bất bình đẳng thông tin khi thông tin mang tính hàng hóa công cộng, có nghĩa là việc sử dụng thông tin không mang tính cạnh tranh hoặc là tình trạng một bên tham gia giao dịch trên thị trường có đầy đủ thông tin hơn bên kia. Đặc thù của thị trường công nghệ Công nghệ là một loại hàng hóa đặc biệt được giao dịch trên thị trường, có những điểm khác biệt cơ bản so với các hàng hóa tiêu dùng phổ dụng khác.
Thứ nhất, đó là sự khác biệt giữa cung cầu của hàng hóa phổ dụng và hàng hóa công nghệ trên thị trường. Hàng hóa phổ dụng có số lượng người mua, người bán lớn đáp ứng tiêu chí đầu tiên của thị trường cạnh tranh hoàn hảo và đó thường là những thị trường tiếp cận gần với thị trường cạnh tranh hoàn hảo. Vì vậy, việc xác định giá cả của hàng hóa phổ dụng không khó khăn. Trong khi đó công nhệ là hàng hóa có số lượng người mua, bán hạn chế, một công nghệ mới chưa hẳn đã tìm được người muốn mua.
Thứ hai, hàng hóa công nghệ bao hàm các tài sản vô hình rất khó định giá trong khi thị trường cho loại hàng hóa này chưa phát triển; nó rất dễ xâm phạm vào quyền sở hữu trí tuệ, có tính loại trừ không cao. Như vậy, theo tính chất của hàng hóa công cộng, hàng hóa công nghệ có khả năng mang tính chất của hàng hóa công cộng, không khuyến khích được khu vực tư nhân đầu tư vào sản xuất. Thứ ba, hàng hóa phổ dụng được quảng cáo thường xuyên trên các phương tiện thông tin đại chúng. Có thể dễ dàng tìm ra người bán, địa điểm bán, cách thức mua bán nhưng hàng hóa công nghệ ít khi được quảng cáo nên khó khăn trong việc tìm kiếm, đặt mua sản phẩm.
Thứ tư, việc mua bán hàng hóa phổ dụng rất dễ dàng trong khi để chuyển giao một công nghệ rất phức tạp, hợp đồng chuyển giao công nghệ phải chặt chẽ vì nó nhiều rủi ro khó dự đoán được. 27 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Chính sách “khoa học và công nghệ đẩy” và “thị trƣờng kéo”2 1.