Tổng quan nghiên cứu

Tính đến hết năm 2007, Việt Nam đã thực hiện sắp xếp 5.274 doanh nghiệp nhà nước, trong đó cổ phần hóa thành công 3.745 doanh nghiệp. Theo định hướng giai đoạn 2008 - 2010, cả nước tiếp tục đẩy mạnh tiến độ sắp xếp khoảng 2.000 doanh nghiệp nhà nước, thực hiện cổ phần hóa 71 tổng công ty và chỉ duy trì khoảng 500 doanh nghiệp 100% vốn nhà nước hoạt động trong lĩnh vực công ích. Tuy nhiên, sau khi chuyển đổi mô hình sở hữu, công tác quản lý phần vốn nhà nước còn lại tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ đang bộc lộ nhiều điểm nghẽn nghiêm trọng, làm suy giảm hiệu quả sinh lời của đồng vốn công.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm là sự bất cập trong cơ chế quản lý phần vốn nhà nước tại khối doanh nghiệp vừa và nhỏ sau cổ phần hóa, nơi cơ chế ủy quyền đại diện vốn chưa gắn liền với trách nhiệm và hiệu quả thực tế. Tình trạng can thiệp hành chính kiểu cơ quan chủ quản làm hạn chế tính chủ động thương trường và giảm sức hút đối với các nhà đầu tư chiến lược. Mục tiêu cụ thể của luận văn là hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý vốn công, đánh giá toàn diện thực trạng bảo toàn và phát triển vốn nhà nước tại Công ty Cổ phần Bánh kẹo Hải Châu, từ đó xây dựng hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả quản trị tài chính.

Phạm vi nghiên cứu tập trung vào giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2008 tại Công ty Cổ phần Bánh kẹo Hải Châu với tỷ lệ vốn nhà nước chiếm 46,26% tổng vốn điều lệ. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của công trình thể hiện ở việc lượng hóa hiệu quả sử dụng nguồn vốn công, hỗ trợ các doanh nghiệp nâng cao tỷ suất sinh lời trên vốn, tối ưu hóa cơ cấu nợ và hoàn thiện lộ trình thoái vốn nhà nước theo đúng cam kết hội nhập kinh tế quốc tế.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng hai nền tảng lý thuyết kinh tế chính trị và quản trị tài chính hiện đại gồm: Lý thuyết quyền sở hữu (Property Rights Theory) và Lý thuyết đại diện (Agency Theory). Lý thuyết quyền sở hữu giải thích tính tất yếu của việc đa dạng hóa các hình thức sở hữu nhằm khắc phục triệt để nhược điểm vô chủ hoặc sở hữu tập thể hình thức của vốn nhà nước. Lý thuyết đại diện làm sáng tỏ xung đột lợi ích giữa cơ quan đại diện chủ sở hữu nhà nước với bộ máy điều hành doanh nghiệp khi thiếu vắng cơ chế kiểm tra, giám sát độc lập.

Mô hình nghiên cứu phân tích cơ chế quản lý vốn theo hai cấp độ: cấp độ vĩ mô thông qua Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC) và cấp độ vi mô tại bộ máy nội bộ công ty cổ phần (Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát). Công trình tiếp cận 4 khái niệm cốt lõi:

  1. Vốn nhà nước tại doanh nghiệp cổ phần: Phần giá trị tài chính thuộc sở hữu nhà nước cấu thành nên vốn điều lệ của công ty.
  2. Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước: Quá trình chuyển đổi hình thức sở hữu từ một chủ sang đa sở hữu thông qua phát hành cổ phiếu.
  3. Doanh nghiệp vừa và nhỏ: Căn cứ Nghị định 90/2001/NĐ-CP, là các đơn vị có quy mô vốn đăng ký dưới 10 tỷ đồng hoặc số lao động dưới 300 người.
  4. Cơ chế ủy quyền đại diện: Hình thức nhà nước giao quyền biểu quyết và giám sát tài sản cho người đại diện phần vốn tại doanh nghiệp.

Luận văn tham chiếu hai mô hình quốc tế tiêu biểu: Mô hình quản lý tài sản nhà nước SASAC tại Trung Quốc và mô hình công ty đầu tư tài chính chuyên nghiệp Temasek Holdings tại Singapore để rút ra bài học kinh nghiệm phân tách quyền sở hữu với quyền điều hành tác nghiệp.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu nghiên cứu bao gồm số liệu thứ cấp thu thập từ các báo cáo tài chính kiểm toán, bản cáo bạch phát hành cổ phiếu của Công ty Cổ phần Bánh kẹo Hải Châu giai đoạn 2005 - 2007, cùng các báo cáo tổng kết tiến độ sắp xếp doanh nghiệp của Ban Chỉ đạo Đổi mới và Phát triển Doanh nghiệp.

Luận văn sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng kết hợp chặt chẽ với phương pháp logic và lịch sử. Các kỹ thuật phân tích định lượng chỉ số tài chính, phương pháp thống kê mô tả và phương pháp so sánh đối chiếu được áp dụng xuyên suốt để đánh giá sự biến động của nguồn vốn.

Cỡ mẫu nghiên cứu được xác lập thông qua tập dữ liệu vĩ mô gồm 876 doanh nghiệp đã hoàn tất bàn giao quyền đại diện vốn về SCIC tính đến tháng 6 năm 2008, kết hợp khảo sát chuyên sâu 1 mẫu điển hình vi mô là Công ty Cổ phần Bánh kẹo Hải Châu. Luận văn áp dụng phương pháp chọn mẫu có chủ đích (purposive sampling). Lý do lựa chọn phương pháp này là vì Công ty Bánh kẹo Hải Châu đại diện tiêu biểu cho khối doanh nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng vừa và nhỏ, chuyển đổi từ doanh nghiệp nhà nước sang công ty cổ phần với tỷ lệ vốn nhà nước chi phối ở mức 46,26%, phản ánh đầy đủ mọi đặc trưng chuyển dịch thể chế và quản lý vốn trong thực tiễn. Thời gian nghiên cứu được tiến hành tập trung từ năm 2005 đến cuối năm 2008.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, cơ cấu sở hữu nhà nước sau cổ phần hóa có sự phân hóa mạnh mẽ nhưng vẫn duy trì tỷ lệ chi phối cao ở nhiều đơn vị ngoài ngành thiết yếu. Theo số liệu thống kê, khoảng 30% doanh nghiệp cổ phần hóa không còn vốn nhà nước, 37% doanh nghiệp có tỷ lệ vốn nhà nước dưới 50%, nhưng vẫn có đến 30% doanh nghiệp vừa và nhỏ duy trì tỷ lệ sở hữu nhà nước trên 50%. Tỷ lệ vốn nhà nước bình quân giai đoạn 1998 - 2002 là 30%, nhưng đến năm 2003 đã tăng lên 55,4% và duy trì ở mức 50% trong năm 2004.

Thứ hai, tiến độ bàn giao quyền đại diện sở hữu vốn nhà nước về tổ chức chuyên trách SCIC đạt kết quả khả quan nhưng còn nhiều tồn đọng. Tính đến tháng 6 năm 2008, SCIC đã tiếp nhận 876 doanh nghiệp với tổng vốn điều lệ theo mệnh giá hơn 8.035 tỷ đồng trên tổng số 1.307 đơn vị thuộc diện chuyển giao. Qua phân loại, có 10 doanh nghiệp nhóm A chiếm hơn 50% tổng vốn, hơn 100 doanh nghiệp nhóm B và trên 700 doanh nghiệp nhóm C quy mô nhỏ, hiệu quả kinh doanh thấp đang chờ thoái vốn dứt điểm. Hơn 300 doanh nghiệp với giá trị vốn trên 5.000 tỷ đồng vẫn còn ách tắc tại các bộ, ngành và địa phương.

Thứ ba, tại Công ty Cổ phần Bánh kẹo Hải Châu (đăng ký kinh doanh thay đổi lần 4 ngày 05/10/2007), Tổng công ty Mía đường I đại diện nắm giữ 915.712 cổ phần, tương ứng 46,26% tổng vốn điều lệ. Cơ cấu Hội đồng quản trị gồm 4 thành viên. Dù hoạt động sản xuất kinh doanh có bước tăng trưởng sau cổ phần hóa, cơ chế quản trị vẫn mang nặng tư duy bao cấp, hiệu quả quản lý công nợ và chế độ phân phối tiền lương chưa tạo được động lực bứt phá cho người lao động.

Thảo luận kết quả

Thực trạng nêu trên phản ánh rõ tình trạng "vừa đá bóng, vừa thổi còi" khi cơ quan hành chính nhà nước đồng thời thực hiện chức năng quản lý vĩ mô lẫn vai trò chủ sở hữu vốn đầu tư. Tại nhiều doanh nghiệp, người đại diện phần vốn nhà nước chưa chủ động quyết định chiến lược thị trường vì thiếu thẩm quyền hoặc bị ràng buộc bởi các quy định hành chính cứng nhắc.

So với các nghiên cứu cùng chủ đề, kết quả của luận văn nhấn mạnh sự cấp thiết phải chuyển đổi phương thức quản lý từ mệnh lệnh hành chính sang kinh doanh vốn thuần túy theo cơ chế thị trường, tương tự như nguyên tắc vận hành của Temasek Holdings tại Singapore.

Dữ liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa thông qua bảng phân loại 3 nhóm doanh nghiệp của SCIC và biểu đồ cột so sánh tỷ trọng vốn nhà nước trước và sau cổ phần hóa tại các doanh nghiệp ngành công nghiệp thực phẩm. Điều này chứng minh rằng việc nắm giữ cổ phần chi phối trên 50% tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ không còn là yêu cầu bắt buộc, mà cần ưu tiên xã hội hóa nguồn lực tài chính để nâng cao sức cạnh tranh trong môi trường thương mại tự do.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, kiến nghị Quốc hội và Chính phủ sớm nghiên cứu ban hành Luật Quản lý và Sử dụng Vốn Nhà nước Đầu tư vào Sản xuất Kinh doanh nhằm tạo hành lang pháp lý đồng bộ, phân định rõ ràng giữa quyền sở hữu tài sản công với quyền tự chủ kinh doanh của pháp nhân công ty cổ phần.

Thứ hai, đẩy nhanh lộ trình thoái vốn toàn bộ tại hơn 700 doanh nghiệp vừa và nhỏ thuộc nhóm C do SCIC quản lý trước năm 2010. SCIC cần áp dụng phương thức đấu giá công khai trên thị trường chứng khoán nhằm thu hồi vốn đầu tư công, giảm tỷ lệ nắm giữ của nhà nước tại các ngành cạnh tranh thuần túy về mức 0%.

Thứ ba, tái cấu trúc bộ máy quản trị nội bộ tại các công ty cổ phần có vốn nhà nước như Công ty Cổ phần Bánh kẹo Hải Châu. Cần kiện toàn nhân sự Hội đồng quản trị đủ 5 thành viên theo đúng Điều lệ công ty, xây dựng quy chế đánh giá hiệu quả công việc gắn liền với giá trị gia tăng của cổ phiếu và hiệu quả bảo toàn vốn nhà nước, mục tiêu nâng cao tỷ suất sinh lời trên vốn thêm 15% đến 20% mỗi năm.

Thứ tư, đổi mới cơ chế người đại diện vốn nhà nước và chính sách phân phối tài chính. Người đại diện phải chịu trách nhiệm trực tiếp về tình hình công nợ, quyết liệt xử lý các khoản nợ khó đòi để hạ tỷ lệ nợ quá hạn xuống dưới mức 3% tổng tài sản trong vòng 12 đến 24 tháng, đồng thời thiết lập cơ chế trả lương thưởng theo năng suất lao động thay cho thang bảng lương hành chính cũ.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm 1: Các nhà hoạch định chính sách tại Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ban Chỉ đạo Đổi mới và Phát triển Doanh nghiệp. Luận văn cung cấp luận cứ thực tiễn để hoàn thiện khung khổ pháp lý về phân cấp, ủy quyền và thoái vốn nhà nước.

Nhóm 2: Lãnh đạo cấp cao tại Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC). Tài liệu giúp định hình quy trình phân loại danh mục đầu tư (nhóm A, B, C) và xây dựng kế hoạch bán bớt phần vốn nhà nước tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Nhóm 3: Thành viên Hội đồng quản trị, Ban Tổng Giám đốc và Người đại diện vốn nhà nước tại các công ty cổ phần. Luận văn cung cấp cẩm nang tác nghiệp về quản trị công ty, xử lý công nợ, quản lý dòng tiền và thiết lập cơ chế kiểm soát nội bộ.

Nhóm 4: Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học thuộc khối ngành Kinh tế Chính trị, Quản trị Kinh doanh và Tài chính Doanh nghiệp. Công trình là nguồn tài liệu tham khảo chất lượng về chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp tại Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao Nhà nước cần đẩy nhanh thoái vốn tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ như Bánh kẹo Hải Châu? Doanh nghiệp vừa và nhỏ ngành bánh kẹo hoạt động trong môi trường cạnh tranh cao và không thuộc lĩnh vực an ninh quốc phòng hay công ích. Việc nhà nước nắm giữ 46,26% vốn gây cản trở thu hút vốn ngoại và giảm tính linh hoạt thương trường. Thoái vốn giúp thu hồi ngân sách và nâng cao năng lực quản trị.

Vai trò cốt lõi của SCIC trong quá trình đổi mới quản lý vốn nhà nước là gì? SCIC đóng vai trò đại diện chủ sở hữu vốn chuyên nghiệp, tách bạch chức năng quản lý nhà nước của các bộ ngành khỏi hoạt động kinh doanh vốn. SCIC thực hiện tái cơ cấu, tối ưu hóa danh mục đầu tư và tiến hành thoái vốn tại hơn 700 doanh nghiệp quy mô nhỏ để bảo toàn tài sản công.

Người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp cổ phần gặp những hạn chế nào? Người đại diện vốn thường thiếu quyền tự quyết do phải xin ý kiến cơ quan chủ quản trước mọi biểu quyết quan trọng. Họ vừa chịu sức ép bảo toàn vốn nhà nước theo quy định hành chính, vừa thiếu động lực tài chính gắn với kết quả kinh doanh thực tế, dẫn đến tâm lý e dè và chậm trễ.

Mô hình Temasek của Singapore mang lại kinh nghiệm gì cho quản lý vốn công tại Việt Nam? Temasek vận hành hoàn toàn theo nguyên tắc kinh doanh thương mại, đặt mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận dài hạn cho cổ đông nhà nước mà không can thiệp vào hoạt động điều hành hàng ngày. Việt Nam cần áp dụng triệt để cơ chế thị trường này thông qua việc chuyên nghiệp hóa mô hình SCIC.

Cơ quan nào có quyền quyết định cao nhất đối với việc quản lý vốn tại công ty cổ phần? Theo Luật Doanh nghiệp, Đại hội đồng cổ đông là cơ quan quyền lực cao nhất, quyết định loại cổ phần phát hành, tỷ lệ chia cổ tức hàng năm, thông qua báo cáo tài chính và bầu Hội đồng quản trị. Nhà nước tham gia biểu quyết tương ứng với tỷ lệ cổ phần sở hữu thông qua người đại diện.

Kết luận

  • Luận văn đã làm sáng tỏ cơ sở lý luận và tính tất yếu khách quan của việc đổi mới phương thức quản lý vốn nhà nước tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ sau cổ phần hóa.
  • Phân tích toàn diện thực trạng chuyển giao 876 doanh nghiệp về SCIC và chỉ rõ những hạn chế mang tính hệ thống trong cơ chế ủy quyền đại diện vốn.
  • Đánh giá sâu sắc trường hợp điển hình tại Công ty Cổ phần Bánh kẹo Hải Châu với tỷ lệ nắm giữ vốn nhà nước 46,26%, nhận diện các nút thắt về bộ máy quản trị, công nợ và chế độ phân phối.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ từ việc hoàn thiện khung khổ pháp lý vĩ mô đến các biện pháp tái cơ cấu quản trị tài chính vi mô tại doanh nghiệp.
  • Khẳng định lộ trình thoái vốn nhà nước là bước đi chiến lược nhằm nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực quốc gia và thúc đẩy năng lực cạnh tranh trong giai đoạn hội nhập.

Đóng góp lớn nhất của công trình là cung cấp cơ sở khoa học và giải pháp thực tiễn giúp phân định rạch ròi giữa quyền quản lý hành chính nhà nước với quyền sở hữu kinh doanh vốn. Trong lộ trình tiếp theo từ nay đến năm 2010, các cơ quan quản lý cần khẩn trương rà soát, đẩy mạnh thoái vốn dứt điểm tại khối doanh nghiệp thương mại vừa và nhỏ. Độc giả quan tâm hãy liên hệ các trung tâm thông tin thư viện chuyên ngành để tiếp cận toàn văn công trình nghiên cứu giá trị này.