Đổi Mới Quản Lý Hợp Tác Xã Nông Nghiệp Của Đảng Bộ Tỉnh Vĩnh Phú Từ Năm 1968 Đến Năm 1986

Luận văn thạc sĩ nông nghiệp nghiên cứu sự chỉ đạo đổi mới quản lí hợp tác xã nông nghiệp của đảng bộ tỉnh vĩnh phú từ năm 1968 đến năm 1986, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2012

154
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Đổi Mới Quản Lý HTX Nông Nghiệp Vĩnh Phú 1968 1986

Bài viết này tập trung phân tích quá trình đổi mới quản lý hợp tác xã nông nghiệp Vĩnh Phú trong giai đoạn 1968-1986. Đây là giai đoạn có nhiều biến động trong nông nghiệp Vĩnh Phú giai đoạn 1968-1986, đặc biệt sau khi Phú ThọVĩnh Phúc sáp nhập thành tỉnh Vĩnh Phú. Nghiên cứu này xem xét các chủ trương, chính sách của Đảng bộ tỉnh, những khó khăn và thách thức, cũng như các giải pháp được triển khai. Mục tiêu là rút ra những bài học kinh nghiệm cho quá trình phát triển kinh tế tập thể Vĩnh Phúphát triển nông thôn Vĩnh Phú hiện nay. Quá trình này không chỉ là câu chuyện riêng của Vĩnh Phú mà còn phản ánh bức tranh chung của cả nước trong giai đoạn tìm kiếm mô hình phù hợp cho kinh tế nông nghiệp.

1.1. Bối cảnh hình thành Hợp tác xã nông nghiệp Vĩnh Phú

Giai đoạn 1968-1986 chứng kiến sự hình thành và phát triển của các hợp tác xã nông nghiệp Vĩnh Phú. Sự ra đời của các HTX là một chủ trương lớn của Đảng nhằm đưa nông nghiệp đi lên con đường kinh tế tập thể. Tuy nhiên, mô hình quản lý tập trung, bao cấp bộc lộ nhiều hạn chế, không khuyến khích được người nông dân hăng say lao động, ảnh hưởng đến năng suất. Bài viết sẽ đi sâu phân tích bối cảnh chính trị, kinh tế - xã hội dẫn đến sự ra đời của HTX, cũng như những bất cập nảy sinh trong quá trình hoạt động.

1.2. Vai trò của Đảng bộ Vĩnh Phú trong chỉ đạo phát triển HTX

Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phú đóng vai trò then chốt trong việc chỉ đạo, điều hành hoạt động của các hợp tác xã nông nghiệp. Các nghị quyết, chỉ thị của Tỉnh ủy có ảnh hưởng lớn đến phương hướng, mục tiêu và biện pháp phát triển của HTX. Tuy nhiên, trong giai đoạn đầu, sự chỉ đạo đôi khi mang tính áp đặt, duy ý chí, chưa sát với thực tế sản xuất. Nghiên cứu sẽ làm rõ vai trò lãnh đạo của Đảng bộ, đồng thời chỉ ra những hạn chế cần khắc phục.

II. Thách Thức Thực Trạng Hợp Tác Xã Nông Nghiệp Vĩnh Phú 1968 1976

Giai đoạn 1968-1976, các Hợp tác xã nông nghiệp Vĩnh Phú đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức. Mô hình quản lý tập trung, bao cấp không còn phù hợp với thực tiễn. Năng suất lao động thấp, đời sống của người nông dân gặp nhiều khó khăn. Tình trạng lãng phí, thất thoát xảy ra ở nhiều nơi. Bên cạnh đó, thiên tai, địch họa cũng gây ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất nông nghiệp. Tình hình này đòi hỏi Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phú phải có những giải pháp đổi mới quản lý kinh tế phù hợp để vực dậy nông nghiệp.

2.1. Hạn chế của cơ chế quản lý tập trung bao cấp trong HTX

Cơ chế quản lý tập trung, bao cấp là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến sự trì trệ của các hợp tác xã nông nghiệp. Cơ chế này triệt tiêu tính chủ động, sáng tạo của người nông dân, làm giảm năng suất lao động. Việc phân phối sản phẩm theo kiểu bình quân, cào bằng không khuyến khích được những người làm giỏi, tạo ra tâm lý ỷ lại, trông chờ. Theo tài liệu nghiên cứu, “Việc quản lý tập trung, phân phối thống nhất, quy định về trích lập các quỹ, tổ chức bộ máy HTX…đã đánh dấu sự định hình tư tưởng hợp tác hóa theo hình mẫu tập thể hóa, vốn được áp dụng phổ biến ở các nước XHCN và được coi là mô hình tất yếu, phù hợp với bản chất của XHCN.

2.2. Tác động của chiến tranh và thiên tai đến sản xuất nông nghiệp

Chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ và những đợt thiên tai liên tiếp gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất nông nghiệp Vĩnh Phú. Ruộng đồng bị tàn phá, hệ thống thủy lợi bị hư hỏng, nguồn nhân lực bị hao hụt. Tình trạng thiếu lương thực, thực phẩm trở nên trầm trọng. Để khắc phục hậu quả chiến tranh và thiên tai, Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phú đã có nhiều nỗ lực trong việc khôi phục sản xuất, ổn định đời sống nhân dân.

III. Giải Pháp Cải Cách Nông Nghiệp và Đổi Mới Quản Lý 1977 1986

Trước tình hình khó khăn, Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phú đã mạnh dạn thực hiện cải cách nông nghiệpđổi mới quản lý. Một trong những giải pháp quan trọng là thực hiện khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động. Cơ chế khoán đã tạo động lực cho người nông dân hăng say lao động, nâng cao năng suất. Bên cạnh đó, Tỉnh ủy cũng có những điều chỉnh về cơ cấu tổ chức, bộ máy quản lý của các HTX, tăng cường tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm. Chủ trương khoán trong HTX nông nghiệp bước đầu mang lại những kết quả tích cực.

3.1. Thực hiện khoán sản phẩm trong Hợp tác xã nông nghiệp

Chủ trương khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động là một bước đột phá trong đổi mới quản lý hợp tác xã nông nghiệp. Cơ chế khoán đã gắn trách nhiệm của người lao động với kết quả sản xuất, tạo động lực thúc đẩy tăng năng suất. HTX giao khoán cho các tổ, đội sản xuất hoặc trực tiếp cho hộ gia đình, quy định rõ định mức sản phẩm và mức tiền công. Phần sản phẩm vượt khoán được người lao động hưởng, tạo thêm thu nhập.

3.2. Điều chỉnh cơ cấu tổ chức và bộ máy quản lý HTX

Song song với việc thực hiện khoán sản phẩm, Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phú cũng có những điều chỉnh về cơ cấu tổ chức và bộ máy quản lý của các HTX. Tinh giản bộ máy hành chính, tăng cường đội ngũ cán bộ có năng lực, trình độ. Đồng thời, trao quyền chủ động cho HTX trong việc quyết định kế hoạch sản xuất, kinh doanh, phân phối sản phẩm. Các giải pháp này góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của HTX.

3.3 Chính sách nông nghiệp Vĩnh Phú và vai trò của Kim Ngọc

Đóng góp to lớn vào quá trình đổi mới quản lý hợp tác xã nông nghiệp Vĩnh Phúchính sách nông nghiệp Vĩnh Phú dưới sự lãnh đạo của đồng chí Kim Ngọc. Ông đã mạnh dạn thí điểm khoán hộ, mặc dù gặp nhiều khó khăn và phản đối. Tư tưởng đổi mới của ông đã đặt nền móng cho những thành công sau này của nông nghiệp Vĩnh Phú và cả nước. Đồng chí Kim Ngọc được xem là người tiên phong trong việc đổi mới tư duy kinh tế nông nghiệp.

IV. Kết Quả Hiệu Quả Hoạt Động của Hợp Tác Xã Nông Nghiệp

Việc thực hiện khoán sản phẩm và các giải pháp đổi mới quản lý đã mang lại những kết quả tích cực cho hiệu quả hoạt động hợp tác xã nông nghiệp Vĩnh Phú. Năng suất lúa và các loại cây trồng khác tăng lên rõ rệt. Đời sống của người nông dân được cải thiện đáng kể. Tình hình kinh tế - xã hội ở nông thôn ổn định hơn. Những thành công này khẳng định tính đúng đắn của chủ trương đổi mới của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phú.

4.1. Nâng cao năng suất cây trồng và vật nuôi

Cơ chế khoán sản phẩm đã tạo động lực cho người nông dân chăm sóc cây trồng, vật nuôi tốt hơn, áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất. Nhờ đó, năng suất lúa và các loại cây trồng khác tăng lên rõ rệt. Sản lượng lương thực đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng của địa phương, góp phần ổn định an ninh lương thực.

4.2. Cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nông dân

Khi năng suất và sản lượng nông nghiệp tăng, thu nhập của người nông dân cũng được cải thiện. Họ có điều kiện để nâng cao đời sống vật chất và tinh thần, xây dựng nhà cửa khang trang, mua sắm tiện nghi sinh hoạt. Các hoạt động văn hóa, văn nghệ cũng được đẩy mạnh, góp phần làm phong phú đời sống tinh thần của người dân.

V. Bài Học Kinh Nghiệm Đổi Mới Quản Lý HTX Nông Nghiệp Vĩnh Phú

Quá trình đổi mới quản lý hợp tác xã nông nghiệpVĩnh Phú đã để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu. Đó là sự cần thiết phải tôn trọng quy luật khách quan, xuất phát từ thực tiễn. Phải mạnh dạn đổi mới tư duy, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm. Phát huy vai trò làm chủ của người dân, tạo động lực cho họ hăng say lao động. Đổi mới phải đồng bộ, toàn diện, từ cơ chế quản lý đến cơ cấu tổ chức, chính sách hỗ trợ.

5.1. Tôn trọng quy luật khách quan và xuất phát từ thực tiễn

Bài học quan trọng nhất là phải tôn trọng quy luật khách quan, không được duy ý chí, áp đặt. Mọi chủ trương, chính sách phải xuất phát từ thực tiễn sản xuất, từ nguyện vọng của người dân. Cần lắng nghe ý kiến của cơ sở, tổng kết thực tiễn để có những điều chỉnh phù hợp.

5.2. Mạnh dạn đổi mới tư duy và cơ chế quản lý

Đổi mới tư duy là tiền đề quan trọng để đổi mới cơ chế quản lý. Cần xóa bỏ tư tưởng bảo thủ, trì trệ, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm. Cơ chế quản lý phải phù hợp với thực tiễn, tạo động lực cho người lao động và thúc đẩy sản xuất phát triển.

VI. Tương Lai Phát Triển Bền Vững HTX Nông Nghiệp tại Vĩnh Phúc

Những bài học kinh nghiệm từ quá trình đổi mới quản lý hợp tác xã nông nghiệp Vĩnh Phú (1968-1986) vẫn còn nguyên giá trị trong bối cảnh hiện nay. Để phát triển bền vững hợp tác xã nông nghiệpVĩnh Phúc, cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế quản lý, nâng cao năng lực cạnh tranh, tăng cường liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Đồng thời, chú trọng đào tạo nguồn nhân lực, ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất, xây dựng thương hiệu nông sản.

6.1. Hoàn thiện cơ chế quản lý và nâng cao năng lực cạnh tranh

Cần tiếp tục rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật liên quan đến hoạt động của HTX, tạo hành lang pháp lý thuận lợi. Nâng cao năng lực quản lý, điều hành của đội ngũ cán bộ HTX, giúp HTX hoạt động hiệu quả hơn, cạnh tranh tốt hơn trên thị trường.

6.2. Tăng cường liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm

Tăng cường liên kết giữa HTX với doanh nghiệp, nhà khoa học, ngân hàng và các tổ chức khác. Xây dựng chuỗi giá trị sản phẩm từ sản xuất đến tiêu thụ, đảm bảo đầu ra ổn định cho nông sản. Ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý, kết nối cung cầu, mở rộng thị trường.

28/05/2025
Luận văn thạc sĩ sự chỉ đạo đổi mới quản lí hợp tác xã nông nghiệp của đảng bộ tỉnh vĩnh phú từ năm 1968 đến năm 1986

Trích đoạn nội dung tài liệu

đặt vấn đề muốn thực hiện được chế độ ba khoán ở HTX, ngoài vấn đề chuyển biến về tư tưởng, nhận thức, điều quyết định mấu chốt là vấn đề định mức lao động, xếp bậc công việc, định tiêu chuẩn tính công cho tất cả các loại công việc trong các khâu sản xuất của từng loại cây trồng thời vụ khác nhau, các loại gia cầm, gia súc khác nhau, kể cả trong các ngành nghề của HTX. Nghị quyết cũng chỉ ra những khó khăn khi triển khai khoán ra diện rộng, trong đó, khó khăn, trở ngại lớn nhất vẫn là tư tưởng chỉ đạo của cán bộ, vốn quen lề lối làm việc giản đơn, tác phong chung chung, tùy tiện, đại khái, giải quyết công việc theo tình cảm cá nhân, nay phải đi sâu nghiên cứu, tính toán phức tạp về nghiệp vụ, hoặc còn một số cán bộ, đảng viên lạc hậu, quen ỷ lại, dựa dẫm, lười biếng, tính toán tư lợi, không muốn vươn lên thực hiện cái mới. Nghị quyết “khoán hộ” ra đời từ thang 9-1966 nhưng việc triển khai thực hiện ra diện rộng cũng gặp không ít khó khăn, vì vậy, hiệu quả thiết thực của nó mới chỉ là bước đầu. Từ cuối năm 1967, sau khi được chấn chỉnh và tăng cường cán bộ về cơ sở tổ chức triển khai, Nghị quyết 68-NQ/TU về “khoán hộ” của Tỉnh ủy Vĩnh Phúc đã được thực hiện sâu rộng hơn và thu được kết quả tốt hơn trong các HTX.

Tổng kết năm 1967, hai tỉnh có 243 HTX đạt trên 5 tấn thóc/ha cả năm (tăng gấp 4 lần so với năm 1965). Tháng 12 năm 1967, tỉnh Vĩnh Phúc công bố Bảng vàng 6 18 (LUAN.1986 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.1986 tấn: xã Ngũ Kiên, Tuân Chính, Vân Hội, Tam Phúc, Yên Phương, Cao Đại và Nguyệt Đức. Bảng vàng 7 tấn: Thọ Trưng, Thôn Thượng, Cao Bình và Phù Lập (Vĩnh Phúc), HTX Phượng Lâu, Đồng Lực (Phú Thọ). Sản lượng lương thực quy ra thóc năm 1967 đạt 409.528 tấn so với năm 1966 tăng 29.007 tấn, chăn nuôi phát triển tốt [3, tr.

Nông nghiệp được mùa, đời sống nhân dân tuy còn khó khăn nhưng đã ổn định hơn trước, các nghĩa vụ đối với Nhà nước đều được hoàn thành chỉ tiêu. Nguyên nhân nông nghiệp tỉnh Vĩnh Phúc được mùa vào năm 1967 có nhiều, trong đó việc thực hiện “khoán hộ” bước đầu đạt được những thành quả nhất định, góp phần nâng cao năng suất. Tình hình HTX nông nghiệp hai tỉnh trước năm 1968 trải qua nhiều bước khác nhau, bên cạnh những thành tựu đạt được vẫn còn những hạn chế nhất định không thể tránh khỏi. Từ thực tế phong trào hợp tác hóa - tập thể hóa của hai tỉnh trước năm 1968 để lại những kinh nghiệm, bài học thiết thực cho công tác củng cố, phát triển HTX nông nghiệp của tỉnh Vĩnh Phú những năm 1968-1986.

Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phú chỉ đạo quản lý HTX nông nghiệp 1. Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phú chấn chỉnh công tác ba khoán và quản lý ruộng đất trong HTX nông nghiệp (1968-1970) Ngày 26-1-1968, Ủy ban thường vụ Quốc hội ra Nghị quyết số 504/NQ-QH về hợp nhất tỉnh Vĩnh Phúc và tỉnh Phú Thọ thành tỉnh Vĩnh Phú. Tỉnh Vĩnh Phú hợp nhất giữa lúc cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân hai miền Nam - Bắc đang giành những thắng lợi quan trọng. Cùng với thuận lợi rất cơ bản, Đảng bộ và nhân dân Vĩnh Phú cũng phải đối mặt với những khó khăn thử thách to lớn như: tuy đất rộng, người đông, địa hình chia cắt, có tiềm năng to lớn nhưng chưa được khai thác triệt để.

Nhận thức thực tế nông nghiệp trong những năm này, tỉnh Vĩnh Phú từng bước thực hiện đổi mới quản lý HTX nông nghiệp. Ngày 2-4- 1968, Tỉnh ủy đề ra “Phương hướng, nhiệm vụ củng cố xây dựng HTX nông nghiệp năm 1968” nhằm: Phát huy những thắng lợi của năm 1967 và mục đích ý nghĩa của việc hợp nhất tỉnh. Tiếp tục hoàn thành cuộc vận động cải tiến quản lý HTX; tăng 19 (LUAN.1986 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.1986 cường củng cố HTX trên các mặt, hoàn thiện quan hệ sản xuất XHCN được toàn diện và đồng đều hơn, góp phần tích cực cho 2 nhiệm vụ trung tâm trước mắt hiện nay là sản xuất và chiến đấu phục vụ cho nhiệm vụ chính trị chung của cả nước.2] Công tác cụ thể của năm 1968 tập trung vào những điểm chủ yếu sau: Coi trọng công tác tuyên truyền, giáo dục hai con đường, nâng cao tinh thần làm chủ tập thể, động viên lao động sản xuất và tăng cường đoàn kết trong nội bộ HTX. Củng cố HTX đã có quy mô thích hợp và hợp nhất HTX có quy mô quá nhỏ để ổn định tổ chức, đẩy mạnh sản xuất phát triển.

HTX đã có quy mô thích hợp phải củng cố, ổn định trên 3 mặt là cốt cán lãnh đạo, sắp xếp tổ đội sản xuất và phương hướng kinh doanh sản xuất. Tăng cường công tác quản lý, phát huy tính ưu việt của lối làm ăn tập thể mà nội dung tập trung chủ yếu vào các khâu chính là: 1- Quản lý kinh doanh sản xuất nhằm phát huy mọi điều kiện của một tỉnh trung du đưa sản xuất nông nghiệp phát triển toàn diện, mạnh mẽ, vững chắc và chú ý đến quản lý ruộng đất, trồng trọt, chăn nuôi. 2- Quản lý lao động là sử dụng lao động hợp lý, định chế độ công điểm, định mức lao động đúng chính sách, đẩy mạnh khoán việc cho nhóm, cho lao động làm đòn bẩy tăng hiệu suất và tăng năng suất lao động để phát triển nông nghiệp toàn diện. 3- Quản lý tiền vốn và vật tư để thực hiện huy động và sử dụng vốn đúng hướng, tập trung vào những khâu chính nhằm thâm canh và tái sản xuất mở rộng làm cho của cải vật chất của tập thể ngày càng tăng; kiện toàn sổ sách theo đúng chế độ, nguyên tắc; thực hiện tài chính công khai, đảm bảo quyền làm chủ của xã viên.

4 - Quản lý dân chủ từ khâu sản xuất đến khâu chi tiêu, thu hoạch phân phối theo chế độ quản lý dân chủ trong nội bộ HTX nông nghiệp. Củng cố và tăng cường phát huy cơ sở vật chất kỹ thuật, đẩy mạnh phong trào cải tiến kỹ thuật, thực hiện các biện pháp thâm canh để phát triển sản xuất và tăng năng suất cây trồng và gia súc.1986 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.1986 Bồi dưỡng, đào tạo cán bộ, nâng cao trình độ quản lý kinh tế tập thể và nghiệp vụ kỹ thuật quản lý đáp ứng với yêu cầu phát triển của phong trào. Sửa chữa và nghiên cứu thống nhất việc chấp hành các chế độ, chính sách trong nội bộ HTX nông nghiệp cho phù hợp với tình hình nhằm khuyến khích lao động sản xuất và tăng cường đoàn kết nội bộ. Tiếp tục làm cuộc vận động cải tiến quản lý HTX trong những huyện chưa làm xong.

Tháng 10-1968, Tỉnh ủy ra Nghị quyết số 14-NQ/TU “Về phương hướng phát triển kinh tế và triển khai một số nhiệm vụ lớn trong năm 1969”. Phương hướng tổng quát được xác định là: Ra sức phát triển mạnh mẽ kinh tế địa phương, vừa tích cực phát triển nông nghiệp toàn diện theo hướng thâm canh, vừa chú trọng phát triển nhanh hơn công nghiệp địa phương, cung cấp ngày càng nhiều lương thực, thực phẩm, trâu bò cày kéo, nguyên liệu cho công nghiệp và hàng xuất khẩu cho Nhà nước, tích cực cải thiện đời sống của nhân dân trong tỉnh.394] Trên cơ sở phát triển nông nghiệp toàn diện làm nền tảng để phát triển công nghiệp và các ngành kinh tế khác, yêu cầu đặt ra là phải củng cố phong trào hợp tác hóa nông nghiệp và cải tiến công tác quản lý lao động. Đáp ứng yêu cầu đó, Tỉnh ủy chủ trương thống nhất áp dụng phương pháp “khoán” theo Nghị quyết số 68- NQ/TU (ngày 10-9-1966) của Tỉnh ủy Vĩnh Phúc trên địa bàn toàn tỉnh Vĩnh Phú. Tuy nhiên, do điều kiện lịch sử đất nước đang trong hoàn cảnh chiến tranh chống Mỹ ác liệt, phương thức “khoán” ở Vĩnh Phúc chưa được phổ biến rộng rãi mà chỉ bó hẹp trong phạm vi địa phương.

Ngày 6-11-1968, phát biểu tại Hội nghị cán bộ tỉnh Vĩnh Phú về vấn đề HTX nông nghiệp, đồng chí Trương Chinh, ủy viên Bộ chính trị, Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã phân tích đánh giá tình hình hợp tác hóa nông nghiệp của tỉnh: - Bằng cách giao khoán ruộng đất của HTX cho hộ trong một số HTX đang diễn ra tình trạng chia lại ruộng đất cho xã viên. - Bằng cách khoán sản lượng cho hộ một số HTX đã tự biến mình thành người “phát canh thu tô” đối với xã viên.1986 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.1986 - Trong nhiều HTX phương thức sản xuất cá thể đang lấn bước phương thức sản xuất tập thể. - Ở một số địa phương đường lối và nguyên tắc hợp tác hóa nông nghiệp của Đảng đang bị vi phạm một cách nghiêm trọng. Đồng chí Trường Chinh kết luận: Việc khoán ruộng cho hộ đã dẫn đến hậu quả tai hại là phát triển tư tưởng tự tư tự lợi, làm phai nhạt ý thức tập thể của xã viên; thủ tiêu phong trào thi đua yêu nước trong HTX; kìm hãm và đẩy lùi cách mạng kỹ thuật trong nông nghiệp; giảm nhẹ vai trò của lao động tập thể XHCN, phục hồi và phát triển lối làm ăn riêng lẻ; đẩy HTX sản xuất nông nghiệp vào con đường thoái hóa và tan rã.19] Những kết luận của đồng chí Trường Chinh đối với vấn đề “khoán hộ” ở Vĩnh Phú trong thời gian này mang nặng tính giáo điều, đã không nhận thấy được tính ưu việt của chế độ “khoán hộ”, không thấy được sức sản xuất đang bị kìm kẹp.

Chế độ quản lý mới “khoán hộ” với chủ trương chia ruộng cho từng hộ, tư liệu sản xuất giao cho hộ, khoán từ khâu làm đất đến khâu thu hoạch đã bị Trung ương phê bình gay gắt và bị dừng lại. Vì nếu “khoán hộ” không tổ chức tốt sẽ gây nên những đảo lộn về xã hội nông thôn, gây bất lợi cho việc tập trung sức người, sức của cho tiền tuyến miền Nam tiến hành kháng chiến chống Mỹ. “Khoán hộ” bị coi là lối làm ăn cá thể mang tính chất tư bản chủ nghĩa cho nên tháng 12-1968, Ban Bí thư Trung ương ra Thông tri số 224-TT/TW “Về chấn chỉnh công tác ba khoán và quản lý ruộng đất của HTX nông nghiệp ở các địa phương”. Thông tri chỉ ra những sai lầm trong thực hiện ba khoán và quản lý ruộng đất, đồng thời đề ra những biện pháp sửa chữa ngay những thiếu sót, sai lầm.

Về vấn đề ba khoán: Cần làm cho cán bộ, đảng viên và ban quản trị HTX nhận rõ HTX là một tổ chức kinh tế tập thể XHCN.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Đổi Mới Quản Lý Hợp Tác Xã Nông Nghiệp Tỉnh Vĩnh Phú (1968-1986)" cung cấp cái nhìn sâu sắc về quá trình cải cách và đổi mới trong quản lý hợp tác xã nông nghiệp tại tỉnh Vĩnh Phú trong giai đoạn từ 1968 đến 1986. Tài liệu nêu bật những thách thức mà các hợp tác xã phải đối mặt, cũng như những biện pháp đổi mới đã được áp dụng để nâng cao hiệu quả sản xuất và cải thiện đời sống của nông dân. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin quý giá về cách thức tổ chức và quản lý hợp tác xã, từ đó có thể áp dụng vào thực tiễn trong bối cảnh hiện nay.

Để mở rộng kiến thức về lĩnh vực nông nghiệp và các chính sách liên quan, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Luận văn thạc sĩ quy định của tổ chức thương mại thế giới wto về trợ cấp trong lĩnh vực nông nghiệp và một số vấn đề đặt ra đối với việt nam, nơi phân tích các quy định quốc tế và tác động của chúng đến nông nghiệp Việt Nam. Ngoài ra, tài liệu Luận văn thạc sĩ đảng bộ huyện hoài đức hà tây lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp từ năm 1996 đến năm 2008 sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về sự phát triển kinh tế nông nghiệp trong bối cảnh đổi mới. Cuối cùng, tài liệu Luận văn thạc sĩ quản lý kinh tế chính sách xuất khẩu gạo của việt nam cung cấp cái nhìn tổng quan về chính sách xuất khẩu gạo, một trong những sản phẩm nông nghiệp chủ lực của Việt Nam. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề liên quan đến nông nghiệp và phát triển kinh tế nông thôn.