Chương 1. Một số vấn đề lý luận về quản lý giáo dục đại học Chương 2. Thực trạng quản lý giáo dục đại học Việt Nam (2006 - 2015) Chương 3. Giải pháp đổi mới quản lý giáo dục đại học Việt Nam hiện nay 19 z Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC 1.
Khái niệm “Giáo dục đại học” Theo Luật Giáo dục đại học của Việt Nam (năm 2012), Đại học là cơ sở GDĐH bao gồm tổ hợp các trường cao đẳng, trường đại học, viện nghiên cứu khoa học thành viên thuộc các lĩnh vực chuyên môn khác nhau, tổ chức theo hai cấp, để đào tạo các trình độ của GDĐH, gồm trình độ cao đẳng, trình độ đại học, trình độ thạc sĩ và trình độ tiến sĩ. Điều 7 của Luật này quy định, cơ sở GDĐH trong hệ thống giáo dục quốc dân gồm: a) Trường cao đẳng; b) Trường đại học, học viện; c) Đại học vùng, đại học quốc gia (sau đây gọi chung là đại học); d) Viện nghiên cứu khoa học được phép đào tạo trình độ tiến sĩ. Cơ sở GDĐH Việt Nam được tổ chức theo các loại hình: a) Cơ sở GDĐH công lập thuộc sở hữu nhà nước, do Nhà nước đầu tư, xây dựng cơ sở vật chất; b) Cơ sở GDĐH tư thục thuộc sở hữu của tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế tư nhân hoặc cá nhân đầu tư, xây dựng cơ sở vật chất; c) Cơ sở GDĐH có 100% vốn của nhà đầu tư nước ngoài; d) Cơ sở GDĐH liên doanh giữa nhà đầu tư nước ngoài và nhà đầu tư trong nước. Ở Việt Nam, GDĐH được hiểu là đào tạo sau phổ thông, bao gồm nhiều lộ trình dài, ngắn, với mục tiêu, phương thức đào tạo khác nhau.
GDĐH là những trường đại học nghiên cứu với bậc học chủ yếu là cao học và tiến sĩ hay ít nhất bắt buộc bao gồm đào tạo sau đại học. Nhưng trong luận văn này, tác giả tiếp cận theo khía cạnh GDĐH là một cơ sở giáo dục được nhà nước, 20 z các tổ chức xã hội, các cá nhân hoặc nhóm cá nhân thành lập với sứ mệnh đào tạo, nghiên cứu khoa học, truyền bá kiến thức, chuyển giao công nghệ và trên hết là phục vụ sự phát triển của xã hội và cộng đồng. Nhiều tác giả nhấn mạnh tính dẫn dắt xã hội của đại học, vì đó là trung tâm truy tìm chân lý và đại diện cho lương tri của loài người. Là nơi những người trí thức góp phần phát triển những thế hệ trí thức mới.
Dù thiên về nghiên cứu hay nhấn mạnh đào tạo nghề nghiệp, dù trong lĩnh vực học thuật hay ngành nghề đào tạo nào, GDĐH không thể không quan tâm tới việc tạo những điều kiện, phương thức sáng tạo, hiệu quả để phát huy năng lực tư duy và ý thức trách nhiệm của người dạy, người học, kể cả những người đang làm công tác QLGDĐH - đối tượng có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Theo ý kiến thống nhất của nhiều học giả quốc tế thì “trường đại học là một tổ chức phức tạp nhất trong tất cả các loại hình tổ chức trên thế giới bởi nó là sự kết hợp của rất nhiều loại hình tổ chức khác nhau như các tổ chức chính trị nhà nước, công ty, tập đoàn, bệnh viện, cơ sở,…” [67; tr. Một số điểm chung có thể rút ra là, đại học là một thể chế giáo dục, nghiên cứu khoa học, đào tạo chuyên gia và nhân lực chất lượng cao, truyền bá và phổ biến tri thức, chuyển giao công nghệ và thực hiện dịch vụ xã hội. Các quan điểm tương đối thống nhất về sứ mệnh của GDĐH là: (i) Lưu trữ, truyền bá, phổ biến tri thức, kiến tạo tri thức mới thông qua nghiên cứu khoa học; (ii) Đào tạo chuyên gia và nhân lực trình độ cao có nền tảng văn hóa, nhân văn tốt; (iii) Chuyển giao công nghệ và thực hiện dịch vụ xã hội.
Đại học không tách rời bối cảnh kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội nơi mình hoạt động. Do đó, cũng cần phải tính đến bối cảnh để GDĐH thích ứng và có phần tác động ngược lại, thúc đẩy sự tiến bộ của xã hội. Quản lý nhà nƣớc về giáo dục đại học Trong mọi lĩnh vực của xã hội, quản lý là một hoạt động phổ biến được phát sinh từ lao động, không tách rời với lao động, đặc biệt nó có liên quan mật thiết đến sự hợp tác và phân công lao động [19; tr. Quản lý là một trong những loại hình hoạt động quan trọng nhất trong các hoạt động của con người.
Quản lý đúng tức là con người đã nhận thức được quy luật, vận động theo quy luật và sẽ đạt được những thành công to lớn [62; tr. Theo Từ điển Giáo dục học (2001), “Quản lý là hoạt động hay tác động có định hướng, có chủ định của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [116; tr. Nói cách khác, quản lý là quá trình tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý bằng việc vận dụng các chức năng quản lý (khoa học, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra) nhằm làm cho hệ thống vận hành đạt được mục tiêu đã đề ra [67; tr. Trong quá trình quản lý, chủ thể tiến hành các hoạt động cơ bản như xác định mục tiêu, chủ trương, chính sách, kế hoạch, tổ chức thực hiện, điều chỉnh các hoạt động để thực hiện các mục tiêu đã đề ra.
Trong đó, mục tiêu quan trọng nhất là nhằm tạo ra môi trường, điều kiện cho sự phát triển của đối tượng quản lý. Quản lý các công việc của xã hội được thực hiện bởi tất cả các tổ chức xã hội, các cơ quan xã hội, tổ chức tư nhân, và mặt nào đó có xuất hiện yếu tố gia đình,… và cơ sở của nó là quyền lực xã hội. Trong khi đó, quản lý các công việc của nhà nước được thực hiện chủ yếu bởi các cơ quan nhà nước và trên cơ sở quyền lực nhà nước, có nghĩa là được ghi nhận, củng cố bằng pháp luật và được bảo đảm thực hiện bằng sự cưỡng chế của nhà nước [131; tr. Theo một số học giả, “Quản lý nhà nước là những hoạt động của nhà nước trên các lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp nhằm thực hiện chức năng 22 z đối nội, đối ngoại của nhà nước.
Nói cách khác, quản lý nhà nước là sự tác động của chủ thể quản lý mang quyền lực nhà nước, chủ yếu bằng pháp luật tới các đối tượng quản lý nhằm thực hiện những mục tiêu đề ra” [63; tr. Quản lý nhà nước là việc sử dụng quyền lực nhà nước một cách toàn diện, bao gồm cả lập pháp, hành pháp và tư pháp để quản lý mọi vấn đề của xã hội. Hiểu theo nghĩa rộng, quản lý nhà nước được thực hiện bởi tất cả các cơ quan nhà nước. Theo nghĩa hẹp, quản lý nhà nước là hoạt động chấp hành và điều hành được đặc trưng bởi các yếu tố có tính tổ chức, được thực hiện trên cơ sở và để thi hành pháp luật, được bảo đảm thực hiện chủ yếu bởi hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước (hoặc một số tổ chức xã hội trong trường hợp được giao nhiệm vụ quản lý nhà nước).
Đó là hoạt động quản lý nhà nước nhưng gắn liền với việc sử dụng một loại quyền lực - quyền hành pháp. Theo cách tiếp cận đó, quản lý nhà nước có thể hiểu là quản lý hành chính nhà nước của các cơ quan thực thi quyền hành pháp nhằm đảm bảo cho pháp luật được thực hiện. Trong thực tiễn, nhiều lúc, quản lý nhà nước không bao gồm hoạt động lập pháp và tư pháp của Nhà nước, mà đó là hoạt động hành chính nhà nước. Là những hoạt động nhằm đảm bảo cho pháp luật đã được ban hành có hiệu lực, được thực thi trong đời sống thông qua một hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước từ trung ương đến tận cơ sở.
Quản lý nhà nước về giáo dục là việc nhà nước thực hiện quản lý công để điều hành, điều chỉnh toàn bộ các hoạt động giáo dục trong phạm vi toàn xã hội nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục quốc gia. Nếu xem quản lý nhà nước như là một hệ thống thì quản lý nhà nước về giáo dục là một hệ thống bao gồm các thể chế, cơ chế QLGD, tổ chức bộ máy QLGD và đội ngũ cán bộ và công chức QLGD các cấp [62; tr. Nhà nước thống nhất QLGD quốc dân 23 z về mục tiêu, chương trình, nội dung, kế hoạch giáo dục, tiêu chuẩn nhà giáo, quy chế thi cử và hệ thống văn bằng, chứng chỉ. Nhà nước tập trung quản lý chất lượng giáo dục, thực hiện phân công, phân cấp QLGD, tăng cường quyền tự chủ, trách nhiệm xã hội của các cơ sở giáo dục [79; tr.
Có thể coi QLGD là một bộ phận cấu thành của quản lý nhà nước. Theo đó, quản lý nhà nước về giáo dục là sự quản lý của các cơ quan quyền lực nhà nước, của bộ máy quản lý giáo dục từ trung ương đến địa phương đối với các thành tố của hệ thống giáo dục quốc dân và các hoạt động giáo dục của xã hội nhằm đạt được các mục tiêu giáo dục đã xác định. Hoặc: “Quản lý nhà nước về GD&ĐT là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước đối với các hoạt động GD&ĐT do các cơ quan quản lý GD&ĐT của Nhà nước từ trung ương đến cơ sở tiến hành để thực hiện chức năng, nhiệm vụ do Nhà nước trao quyền nhằm phát triển sự nghiệp GD&ĐT, duy trì kỷ cương, thỏa mãn nhu cầu GD&ĐT của nhân dân, thực hiện mục tiêu GD&ĐT của Nhà nước” [144; tr. Hoạt động quản lý nhà nước về GD&ĐT giúp đảm bảo có hiệu quả việc thực hiện các chủ trương, chính sách GD&ĐT quốc gia, nâng cao hiệu quả đầu tư, chất lượng giáo dục, thực hiện các mục tiêu giáo dục.
GDĐH có nội hàm rất rộng, bao gồm từ cao đẳng đến đại học và sau đại học nhưng vẫn là một bộ phận không thể tách rời của hệ thống giáo dục quốc dân. Vì vậy, QLGDĐH là quản lý hành chính chuyên ngành gắn liền với những đặc điểm riêng của nó và do đó có thể nói QLGDĐH chỉ là một nội dung cụ thể của quản lý nhà nước về giáo dục nói chung.