CHƯƠNG 1 THUC TRẠNG PHÁP LUẬT VE HỢP DONG Ở VIỆT NAM TRƯỚC NAM 2005 VÀ SỰ CAN THIET PHAI HOÀN THIỆN CHE ĐỊNH PHAP LUAT VE HOP DONG 1. Bản chat của hợp đồng Hợp đồng được hiểu theo nhiều khía cạnh khác nhau. Thứ nhất, hợp đồng là các giấy tờ thê hiện sự thoả thuận giữa các bên về một vấn đề nào đó mà họ quan tâm (như hợp đồng mua bán nhà ở). Tứ hai, hợp đồng được dùng dé chỉ một văn kiện quy phạm pháp luật hay một chế định pháp luật nhất định (như chế định hợp đồng dân sự, chế định hợp đồng bảo hiểm.
Thứ ba, hợp đồng còn được hiểu theo nghĩa là một quan hệ pháp luật, là sự thoả thuận giữa các bên nhằm xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ giữa họ với nhau.Do vậy, tuỳ vào hoàn cảnh, trường hợp cụ thể mà hiểu khái niệm hợp đồng như thế nào cho đúng. Trong xã hội hiện nay, quan hệ về hợp đồng thuộc lĩnh vực điều chỉnh của nhiều đạo luật khác nhau như: Bộ luật Dân sự, Luật Thương mại, Luật Kinh doanh bảo hiểm. Tuy nhiên, phân tích nội dung khái niệm hợp đồng trong lịch sử pháp luật, cũng như pháp luật đương đại của Việt Nam và nhiều nước trên thế giới (như Cộng hoà Pháp, Nhật Bản, Trung Quốc, Hoa Kỳ, La Mã cô dai.) thì cách hiểu chung nhất về hợp đồng đó là sự thoả thuận (thống nhất ý chí) giữa các bên nhằm đạt được những lợi ích nhất định (có thé là lợi ích vật chat, lợi ích tinh than). Theo pháp luật Việt Nam, khái niệm hop đồng dân sự được quy định trong BLDS Việt Nam năm 1995 và 2005, theo đó hợp đồng dân sự trước hết là một loại giao dịch dân sự, là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đôi hoặc cham dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.
[28, đ 394; 29, đ 121] Điều 1 PLHDKT năm 1989 quy định: “Hop đồng kinh tế là sự thoả thuận bằng văn bản, tài liệu giao dich giữa các bên ky kết về việc thực hiện công việc sản xuất, trao đổi hang hoa, dich vụ, nghiên cứu ung dung tiễn bộ khoa học kỹ thuật và các thoả thuận khác có mục đích kinh doanh với sự quy định rõ ràng quyên và nghĩa vụ của mỗi bên để xây dựng và thực hiện kế hoạch của mình” (hiện nay Pháp lệnh này đã hết hiệu lực theo Nghị quyết số 45/2005/QH11 ngày 14.2005 của Quốc hội về việc thi hành BLDS). Như vậy, khái niệm hợp đồng trong pháp luật Việt Nam được hiểu là sự thoả thuận của các bên nhằm hướng tới một lợi ích nhất định. Nghiên cứu Luật La Mã cô đại, hợp đồng được coi là hình thức thé hiện của các giao dịch song phương mà việc xác lập chúng có thé trực tiếp làm xác lập, thay đổi hay cham dứt quyền và nghĩa vụ: “với # cách như một cơ sở làm phát sinh nghĩa vụ, hop đồng chỉ có thể có nếu các bên ký hợp dong có chủ y xác lập moi quan hệ trách nhiém’ [21] Theo Điều 1101 BLDS Cộng hoà Pháp thi hợp đồng là sự thoả thuận theo đó một hoặc nhiều người cam kết với một hoặc nhiều người khác chuyên giao một vật, làm hoặc không làm một việc nào đó. Pháp luật dân sự Nhật Bản định nghĩa hợp đồng là “một loại giao dich dân sự thé hiện sự thong nhất ÿ chi của hai hay nhiều bên.
Mục đích của hop đồng thông thường làm phát sinh nghĩa vụ ”.|42] Trung Quốc là một trong những nước có luật riêng quy định về hợp đồng và độc lập với BLDS. Khái niệm về hợp đồng được quy định tại Điều 2 của luật này, theo đó: “Hop dong là sự thoả thuận về việc xác lập, thay đổi, cham dứt quyên, nghĩa vụ dân sự giữa các chủ thể bình đẳng tự nhiên nhân, pháp nhân và các tổ chức khác”[41]. Pháp luật Hoa Ky quan niệm hợp đồng là thoả thuận giữa hai hay nhiều bên có mục đích hợp pháp, theo đó mỗi bên hành động theo cách xử sự nhất định hoặc cam kết làm hay không làm một việc theo xử sự đó.[43] Như vậy, dù có những khác biệt nhất định trong quan niệm về hợp đồng, nhưng dù là trong pháp luật Việt Nam hay pháp luật của các nước trên thế giới, dù là pháp luật đương đại hay pháp luật cô đại thì hợp đồng về ban chất vẫn được hiểu là sự thoả thuận thể hiện sự tự do và thống nhất ý chí giữa các bên liên quan nhằm hướng tới những lợi ích nhất định mà các bên cùng quan tâm. Lịch sử pháp luật hợp đồng Việt Nam Hợp đồng là một trong những chế định pháp luật cô xưa nhất, do vậy cùng với sự tồn tại và phát triển của lịch sử Nhà nước và Pháp luật Việt Nam, có thê nhận định chế định hợp đồng đã tôn tại từ rất lâu trong lịch sử pháp luật nước ta.
Tuy nhiên, các nghiên cứu dưới đây chỉ là những nét phác thảo cơ bản nhất về chế định hợp đồng trong lịch sử pháp luật nước ta (đặc biệt là trong thời kỳ Nhà nước phong kiến) thông qua các tư liệu và di cao lich sử còn tồn tại đến ngày nay. Pháp luật hợp đồng trong Nhà nước phong kiến Việt Nam và thời kỳ là thuộc địa của thực dân Pháp Trong thời kỳ này, pháp luật hợp đồng nước ta thể hiện tập trung nhất trong hai Bộ luật quan trọng của nhà Lê sơ và nhà Nguyễn: Bộ Quốc triều hình luật và Bộ Hoàng Việt Trung kỳ hộ luật. Do đặc điểm của chế độ phong kiến trung ương tập quyền, luật pháp thời ky này là luật pháp cai tri, các chế định luật, Bộ luật thường mang tính trừng trị với các hình phạt hà khắc. Tuy vậy, Bộ Quốc triều hình luật (hay còn gọi là Bộ luật Hồng Đức) được ban hành lần đầu tiên trong khoảng niên hiệu Hồng Đức (1470-1497) và sau đó bộ luật này đã được sửa đôi, bé sung nhiều lần lại chứa đựng nhiều quy phạm điều chỉnh các quan hệ dân sự, đặc biệt là quan hệ như mua, bán, cho, cầm cố ruộng đất thông qua hình thức giao kết là văn khế.
Tư tưởng tự do hợp đồng ít nhiều đã được thể hiện trong pháp luật thời kỳ này, chăng hạn quy định: “Người nào ức hiếp dé mua ruộng của người khác thì bị biém hai tu! và cho lấy lại tiền mua” (Điều 355); “người tá điển đã cấy nhờ ruộng của người khác thì không thể coi đó là ruộng của mình mà phải trả lại cho người chủ ruộng” (Điều 356). Đặt trong hoàn cảnh cụ thể của chế độ phong kiến trung ương tập quyền cao độ, bảo vệ triệt để quyền lợi của giai cấp phong kiến chúng ta mới thấy được khả năng tư duy lập pháp và tư tưởng tiễn bộ của các ông vua thời Lê Sơ trong các quan niệm về bản chất của việc mua bán dan sự, về sự tôn trọng tính tự nguyện trong các quan hệ dân sự. Tư tưởng gia trưởng, trọng nam khinh nữ cũng được thể hiện rõ trong Bộ luật Hồng Đức khi có sự phân biệt nam, nữ, trong việc tham gia giao kết hợp đồng. Ngoài ra, không phải ai cũng có thé giao kết khế ước mà chỉ những người có quyền thế, có tài sản và ở vào một lứa tuôi nhất định mới được giao két khé ước.
Trong các khế ước nhằm đáp ứng nhu cầu đời sống của gia đình thì cha mẹ giữ một vai trò quan trọng, đặc biệt là người cha, ví dụ: đối với tài sản của cha mẹ thì chỉ cha mẹ được bán, con cái bản tài sản của cha mẹ thì bị xử phạt rất nặng (Điều 378 Bộ luật Hồng Đức). Ngoài ra, người trưởng họ cũng có quyền quyết định trong một số khế ước liên quan đến điền sản, ví dụ: người trưởng họ có quyền bán điền sản của con cháu trong trường hợp ông bà, cha mẹ đều chết và có lý do chính đáng (Điều 379 Bộ luật Hồng Đức)[41]. Pháp luật thời Lê còn quy định các chế tài (phạt trượng, roi, biếm.) do vi phạm khế ước theo mức độ nặng nhẹ khác nhau. Trong một số trường hợp nếu vi phạm pháp luật các bên còn phải chịu trách nhiệm tài sản như bồi thường thiệt hại, hoàn trả tài sản hoặc bị phạt tiền, vi dụ: Điều 378 Bộ luật Hồng Đức quy định: “Cha me còn sống mà bán trộm điền sản, con trai thì bị xử phạt 60 trượng, biém hai tw, con gái thì bị xử phạt 50 roi, biém một tư, phải trả nguyên tiền cho người mua, điển sản trả cha me’.
Về hình thức của khế ước, Bộ luật Hồng Đức quy định các bên không cần lập văn bản đối với những khế ước đơn giản, có giá trị pháp lý thấp hoặc ít quan trọng, ví dụ: mua bán lương thực, thực phẩm với một số ít hoặc vay một khoản tiền nhỏ trong một thời gian ngắn. Đối với các tài sản có giá trị lớn (như ruộng đất, nhà cửa, trâu bò.) thì việc mua bán phải lập văn tự. Văn tự là băng chứng để chứng minh khi xảy ra tranh chấp (Điều 366 Bộ luật Hồng Đức). Nhưng có một điểm hạn chế là các bên chỉ lập một bản và do một bên giữ.
Điều này có thé dẫn đến tình trạng nếu một bên cố ý huỷ văn tự dé có lợi cho mình hoặc văn tự bị mất, bị hư hỏng do sự kiện tự nhiên thì bên kia sẽ khó khăn trong việc chứng minh quyên lợi khi có tranh chấp. Bộ luật Hồng Duc còn quy định trong trường hợp người giao kết không biết chữ thì có thé nhờ người khác viết thay và phải có người chứng kiến để đảm bảo tính khách quan. Sau đó người viết thay và người chứng kiến đều phải ký vào văn tự (Điều 366 Bộ luật Hồng Đức). Bộ luật Hồng Đức đã chú trọng bảo đảm tính khách quan, công minh trong quan hệ khế ước ' Biếm: giáng cấp 10 nên đã khăng định vai trò của người viết thay và người chứng kiến, quy định trách nhiệm của người chứng kiến khi vi phạm nghĩa vụ của mình: “Nếu lập văn tự giả mạo có kèm theo sự tranh giành tài sản thì người chủ và người viết thay phải bôi thường gấp đôi số tài sản tranh chấp, còn người làm chứng phải bồi thường một phần ba” (Điều 534 Bộ luật Hồng Đức).
Việc mua bán cũng phải tuân theo một trình tự nhất định, thể hiện sự quản lý của bộ máy quan lại thời bấy giờ, ví dụ: việc mua nô tỳ phải lập thành văn tự, sau đó phải trình quan để xét hỏi lại (Điều 363 Bộ luật Hồng Đức).