CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NHÂN LỰC KH&CN 1. Nhân lực KH&CN 1. Khái niệm về nhân lực KH&CN Định nghĩa của UNESCO nhân lực KH&CN (S&T personnel) là “Những người trực tiếp tham gia vào hoạt động khoa học và công nghệ trong một cơ quan, tổ chức và được trả lương hay thù lao cho lao động của họ, bao gồm các nhà khoa học và kỹ sư, kỹ thuật viên và nhân lực phụ trợ”.[10;5] Như vậy, UNESCO không phân biệt nhân lực KH&CN theo bằng cấp mà phân biệt theo công việc hiện thời.
Nguồn nhân lực KH&CN theo OECD, là những người đáp ứng được một trong hai điều kiện sau: - Đã tốt nghiệp trường đào tạo trình độ nhất định về một chuyên môn khoa học và công nghệ ( từ công nhân có bằng cấp tay nghề trở lên hay còn gọi là trình độ 3 trong hệ giáo dục đào tạo) - Không được đào tạo chính thức nhưng làm một nghề trong lĩnh vực KH&CNmà đòi hỏi trình độ trên. Kỹ năng tay nghề ở đây được đào tạo tại nơi làm việc.[10;7] Tổng hợp hai tiêu chí trên thì nhân lực KH&CN theo OECD bao gồm: - Những người có bằng cấp, trình độ tay nghề trở lên và làm việc hoặc không làm việc trong lĩnh vực KH&CN, ví dụ: Giáo sư đại học, tiến sĩ về kinh tế, bác sỹ nha khoa làm việc tại phòng khám, chuyên gia đang thất nghiệp, nữ vận động viên chuyên nghiệp và có bằng y học. - Những người được coi là trình độ tay nghề làm việc trong lĩnh vực KH&CN nhưng không có bằng cấp, như nhân viên lập trình máy tính hoặc cán bộ quản lý quầy hàng nhưng không có bằng cấp. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Những người làm việc trong lĩnh vực R&D nhưng không đòi hỏi trình độ cao như: Thư ký của cơ quan nghiên cứu và phát triển, văn thư trong các trường đại học.
[10;7] Như vậy, nguồn nhân lực KH&CN theo OSCD được hiểu theo nghĩa rất rộng bao gồm cả những người tiềm tàng/tiềm năng chứ không phải những người đang tham gia hoạt động KH&CN, để khi cần thiết có thể huy động những người tiềm tàng/ tiềm năng này tham gia trực tiếp vào hoạt động KH&CN. [10;10] Nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người gồm có thể lực và trí lực. Các tiềm năng về thể lực đã được khai thác tận dụng triệt để, còn các tiềm năng về trí lực cũng được chú ý nhưng khai thác còn ở mức độ mới mẻ, chưa bao giờ cạn kiệt, vì đây là kho tàng tiềm năng và còn nhiều bí ẩn trong mỗi con người. Định nghĩa khác là nhân lực là toàn bộ số lượng người có thể làm việc khi cần thiết.
Lực lượng lao động là một bộ phận dân số bao gồm những người trong độ tuổi quy định có khả năng lao động có việc làm hoặc không có việc làm nhưng có nhu cầu làm việc. Nhân lực KH&CN được phát triển trên nền tảng của nguồn nhân lực, nó quyết định việc nâng cao chất lượng và bổ sung số lượng nguồn nhân lực. Tiếp cận từ chức năng nghề nghiệp thì nhân lực KH&CN được định nghĩa “Nhân lực KH&CN là toàn bộ những người có bằng cấp chuyên môn nào đó trong một lĩnh vực KH&CN và những người có trình độ kỹ năng thực tế tương đương mà không có bằng cấp và tham gia thường xuyên (hệ thống) vào hoạt động KH&CN”.[10;12] Trong phạm vi nghiên cứu đề tài khái niệm nhân lực KH&CN được hiểu là tập hợp những nhóm người tham gia vào hoạt động KH&CN trong các lĩnh vực: sản xuất- kinh doanh; Sự nghiệp (các viện, trường đại học); Hành chính quản lý với các chức năng nghiên cứu sáng tạo, giảng dạy, quản lý, khai thác sử dụng và tác nghiệp góp phần quyết định tạo ra sự tiến bộ của KH&CN, của sự phát triển kinh tế- xã hội. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nội hàm: Lực lượng hành chính, quản lý khoa học ở các loại hình cơ quan bao gồm các nhà nghiên cứu, các nhà quản lý có trình độ cao, am hiểu về hoạt động KH&CN.
Họ làm việc tại các cơ quan hành chính cơ quan quản lý chuyên nghiệp, các phòng ban ở trường học, học viện, trung tâm dịch vụ KH&CN. Lực lượng sự nghiệp có trình độ chuyên môn cao, chiếm số đông. Họ làm việc ở các đơn vị sự nghiệp, giảng dạy ở các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề. Họ không chỉ tham gia giảng dạy mà còn tham gia NCKH, chuyển giao công nghệ đối với các doanh nghiệp.
Lực lượng hoạt động trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh có vai trò rất quan trọng trong việc thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội. Với chức năng nghiên cứu, ứng dụng những thành tựu KH&CN và phát triển thực nghiệm. Lực lượng trong lĩnh vực kinh tế- xã hội, sự nghiệp thường xuyên tiến hành công tác NCKH. Trong nền kinh tế thị trường và xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế nên thường xảy ra các trường hợp di động xã hội, thay đổi nghề nghiệp, chức vụ.
Để có một khái niệm hoàn chỉnh về nhân lực KH&CN cần thiết phải xem xét các mô đun thành tố của hệ thống khoa học và công nghệ gồm: - Tạo công nghệ bao gồm nghiên cứu, sáng tạo để làm ra công nghệ trong nước và nắm vững hiểu sâu về quá trình thử nghiệm, thích nghi và hoạt động thương mại hoá công nghệ nhập ngoại. - Áp dụng công nghệ là quá trình nắm vững thiết kế và kỹ thuật tiến tới làm chủ công nghệ để xây dựng xí nghiệp, thử nghiệm, vận hành, sản xuất thử để đi tới quá trình sản xuất liên tục và ổn định. - Môi trường chính sách bao gồm cơ cấu chính sách, công cụ kế hoạch hoá, những luật lệ và thể chế hoá…trong việc thực thi chính sách về tài chính, các phương tiện vật chất và các chế tài kích cầu. - Cơ sở hạ tầng bao gồm các tiêu chuẩn, cấp phát tài chính, các tổ chức tư vấn và công trình, các cơ quan về an toàn công nghiệp… 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trên cơ sở những nghiên cứu cơ bản về hệ thống KH&CN cho thấy nhân lực KH&CN đóng vai trò rất quan trọng trong tất cả 4 modun của hệ thống.
Xét theo chức năng và nghề nghiệp thì chức năng của nhân lực KH&CN bao gồm: - Nghiên cứu sáng tạo; - Giảng dạy; - Quản lý; - Khai thác sử dụng và tác nghiệp. a/ Chức năng nghiên cứu sáng tạo: Được gọi bằng nhiều tên khác nhau, chỉ đề cập đến thuật ngữ các nhà nghiên cứu hay các nhà khoa học. Các nhà khoa học thường làm việc ở các tổ chức nghiên cứu khoa học và công nghệ, thường có trình độ cao (từ tốt nghiệp đại học trở lên) khác nhau về trình độ, năng lực, khả năng chuyên môn, chức danh… Các nhà khoa học chỉ có thể làm việc hiệu quả trong môi trường thuận lợi mà ở đó họ được tôn trọng, được phát huy hết khả năng sáng tạo, được cung cấp đầy đủ thông tin, cơ sở vật chất, trang thiết bị hiện đại, có mối liên hệ chặt chẽ với các nhà nghiên cứu đồng nghiệp trong và ngoài nước. b/ Chức năng giảng dạy: Đề cập đến thuật ngữ giảng viên trường Đại học Giảng viên bao gồm những người thuộc biên chế của trường làm công tác giảng dạy và những cán bộ kinh tế - kỹ thuật, cán bộ quản lý làm việc trong và ngoài trường tham gia giảng dạy theo chế độ kiêm nhiệm, có trình độ chuyên môn bậc Thạc sĩ trở lên, có năng lực sư phạm, đạt tiêu chuẩn chuyên môn theo quy định của bộ Giáo dục và Đào tạo, có khả năng giảng dạy lý thuyết và thực hành các môn học bậc Đại học và thấp hơn.
c/ Chức năng quản lý: Nhân lực KH&CN hoạt động theo chức năng quản lý gọi theo thuật ngữ nhà quản lý, có vai trò vị trí cực kỳ quan trọng. 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tiến hành các công việc nhập khẩu, làm thích nghi, lắp đặt và truyền bá công nghệ. Nhóm này không chỉ bao gồm các kỹ sư mà còn gồm các nhà quản lý có trình độ cao như: - Lựa chọn công nghệ; - Làm các quyết định về khuyến khích giảm thuế xuất, nhập khẩu công nghệ, xác định lựa chọn công nghệ; - Các vấn đề về điều khoản của các License (Luật sư); - Đánh giá hiệu quả của việc thay đổi công nghệ (Nhà kinh tế); Việc đề xuất, đánh giá không chỉ dựa trên năng lực trình độ chuyên môn đơn thuần mà còn đòi hỏi các kiến thức và khả năng tư duy phân tích tổng hợp. d/ Chức năng khai thác sử dụng và tác nghiệp: Nhóm người hoạt động trong lĩnh vực này gọi bằng thuật ngữ công nhân kỹ thuật bao gồm: Cán bộ kỹ thuật là những người biết toàn bộ hoặc từng phần của công nghệ, hoạt động trên bình diện rất rộng, đa dạng.
Công nhân tham gia trực tiếp vào lao động sản xuất, quá trình công nghệ với nhiệm vụ là người tác nghiệp. Việc phân nhóm theo chức năng nghề nghiệp đang làm trong lĩnh vực khoa học và công nghệ sẽ thuận lợi hơn khi xem xét về chức năng hoạt động, kinh nghiệm công tác, trình độ đào tạo và nghề nghiệp của từng nhóm người đó trong tổng thể nhân lực khoa học và công nghệ. Khái niệm về nguồn nhân lực KH&CN Nguồn nhân lực được hiểu theo hai nghĩa: Theo nghĩa rộng, nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho sản xuất xã hội, cung cấp nguồn lực con người cho sự phát triển. Do đó, nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có thể phát triển bình thường.
Theo nghĩa hẹp, nguồn nhân lực là khả năng lao động của xã hội, là nguồn lực cho sự phát triển KT-XH, bao gồm các nhóm dân cư trong độ tuổi lao động, có khả năng tham gia vào lao động, sản xuất xã hội, tức là toàn bộ các cá nhân cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể lực, trí lực 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com của họ được huy động vào quá trình lao động. Kinh tế phát triển cho rằng: Nguồn nhân lực là một bộ phận dân số trong độ tuổi quy định có khả năng tham gia lao động. Nguồn nhân lực được biểu hiện trên hai mặt: về số lượng đó là tổng số những người trong độ tuổi lao động làm việc theo quy định của Nhà nước và thời gian lao động có thể huy động được từ họ; về chất lượng, đó là sức khoẻ và trình độ chuyên môn, kiến thức và trình độ lành nghề của người lao động.