Chương 1: Cơ sở lý luận về đổi mới giáo dục và phản biện xã hội trên báo điện tử Chương 2: Thực trạng việc thông tin về đổi mới giáo dục trên báo điện tử dưới góc nhìn phản biện xã hội Chương 3: Một số vấn đề đặt ra và giải pháp nâng cao hiệu quả phản biện xã hội về đổi mới giáo dục trên báo điện tử 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHẢN BIỆN XÃ HỘI TRÊN BÁO CHÍ VÀ VẤN ĐỀ ĐỔI MỚI GIÁO DỤC HIỆN NAY 1.1 Phản biện xã hội và vai trò của báo chí trong việc thực hiện phản biện xã hội 1.1 Khái niệm và chức năng của phản biện xã hội Phản biện, theo Đại Từ điển Tiếng Việt, được hiểu là “việc xem xét, đánh giá chất lượng một công trình khoa học trước hội đồng chấm thi nghiệm thu đề tài” [40; tr. Từ điển Tiếng Việt cũng đưa ra định nghĩa tương tự, là việc “đánh giá chất lượng một công trình khoa học khi công trình được đưa ra bảo vệ để lấy học vị trước hội đồng chấm thi” [25; tr. Như vậy, cả hai cách định nghĩa trên đều hiểu phản biện theo nghĩa hẹp, như một hoạt động trong nghiên cứu khoa học. Thực tế, phản biện là một từ Hán Việt, với nghĩa tranh luận, biện luận theo hướng ngược lại.
Phản biện, có thể hiểu là sự tranh luận về một vấn đề trên cơ sở những lý lẽ, lập luận khách quan nhằm bác bỏ những lập luận đã được đưa ra trước đó, nhằm phân biệt đúng – sai, đồng thời bổ sung, góp ý để hoàn thiện và giải quyết vấn đề. Phản biện là một hành động có chủ định của con người, có thể diễn ra công khai hoặc không công khai, với mục đích vì sự tiến bộ và phát triển của xã hội. Từ cách hiểu này, có thể lý giải phản biện xã hội là sự phản biện của xã hội, là sự bàn luận, tranh luận của các lực lượng xã hội về những chủ trương, chính sách, đề án… có ảnh hưởng đến đời sống của họ. Cùng với những bàn luận, phân tích, họ có thể đề xuất những kiến nghị, giải pháp giúp giai cấp cầm quyền điều chỉnh các chủ trương, chính sách, quyết định… phù hợp với lợi ích chung của xã hội.
Phản biện xã hội còn thể hiện ở việc cất lên tiếng nói, thảo luận về những vấn đề nảy sinh trong cuộc sống xã hội nói chung. Đó có thể là tiếng nói phê phán, phản đối hay ủng hộ, đồng tình để tác động đến bộ máy lãnh đạo, các 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cơ quan công quyền có hướng xử lý, giải quyết phù hợp. Đây là một hiện tượng tất yếu trong đời sống chính trị - xã hội, là biểu hiện của dân chủ xã hội. Phản biện xã hội là một dạng thức cụ thể của phản biện, đây là hoạt động diễn ra công khai, chủ thể phản biện phải thông qua kênh truyền thông để truyền tải thông điệp của mình tới khách thể phản biện và thu hút sự quan tâm rộng rãi của công chúng.
Khái niệm phản biện xã hội đã được sử dụng rộng rãi ở nhiều quốc gia; với nước ta, khái niệm này bắt đầu thu hút sự quan tâm, chú ý của giới nghiên cứu từ khoảng 10 năm trở lại đây, nhất là sau khi phản biện xã hội được chính thức ghi trong văn kiện Đại hội Đảng lần thứ X. Trong Văn kiện Đại hội X, Đảng ta đã giải thích, phản biện xã hội là “phản biện nói chung, nhưng có quy mô và lực lượng rộng rãi hơn của xã hội, của nhân dân và các nhà khoa học về nội dung, phương hướng, chủ trương, chính sách, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội, khoa học – công nghệ, giáo dục, y tế, môi trường, trật tự an ninh chung toàn xã hội của Đảng, Nhà nước và các tổ chức liên quan” [11; tr. Đồng thời, Đảng cũng khẳng định: “Phản biện xã hội là phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân, ý thức trách nhiệm của nhân dân trong việc tham gia quản lý Nhà nước. […] Nhân dân không chỉ có quyền mà còn có trách nhiệm tham gia hoạch định và thi hành các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước” [11; tr.
Đến Đại hội XI của Đảng, hoạt động phản biện xã hội được chú trọng và đề cao hơn: “Đảng, Nhà nước có cơ chế, chính sách, tạo điều kiện để Mặt trận và các đoàn thể nhân dân hoạt động có hiệu quả, thực hiện vai trò giám sát, phản biện xã hội” [12; tr. Bên cạnh đó, trong các cuốn sách và bài viết đăng trên các tạp chí, nhiều nhà nghiên cứu cũng bàn luận về khái niệm phản biện xã hội. Theo tác giả Nguyễn Trần Bạt: “Phản biện xã hội là sự tranh luận một cách chuyên nghiệp giữa các 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com lực lượng xã hội với nhau hoặc với nhà cầm quyền để tạo sự chính xác chính trị của mỗi hành động có chất lượng chính sách hoặc định hướng, cho nên, nếu không có sự tham gia của hai lực lượng này thì quá trình còn lại là quá trình phản ứng xã hội chứ không phải là phản biện xã hội” [1]. Tác giả Phan Văn Kiền trong cuốn Phản biện xã hội của tác phẩm báo chí Việt Nam qua một số sự kiện tiêu biểu (Nxb Thông tin và Truyền thông, 2012) thì đưa ra quan điểm: “Phản biện xã hội là phản biện với những vấn đề có ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống con người, ý nghĩa cuối cùng của nó thường có ảnh hưởng đối với một vấn đề có phạm vi rộng, tác động đến nhiều cá nhân” [19; tr.
Bàn về khái niệm phản biện xã hội, PGS. TS Đặng Thị Thu Hương, trong đề án nghiên cứu cùng nhóm cộng sự, Hoạt động của báo, tạp chí khoa học ở Việt Nam với tư cách là diễn đàn khoa học cho trí thức trong các hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội cho rằng: “Là một khái niệm chính trị - xã hội, phản biện xã hội về thực chất là sự phản biện của nhân dân. Nhân dân là chủ thể của phản biện xã hội với hai tư cách. Thứ nhất, với tư cách là người chủ, nhân dân có quyền giám sát đối với mọi hoạt động của Nhà nước.
Bằng hình thức phản biện xã hội, nhân dân có công cụ hữu hiệu, có điều kiện tốt hơn thực hiện quyền giám sát các hoạt động của Nhà nước. Thứ hai, với tư cách là đối tượng chịu sự quản lý của Nhà nước, nhân dân có quyền bảo vệ những lợi ích, quyền lợi chính đáng, hợp pháp của mình trước những chủ trương, chính sách, đề án của Nhà nước chưa đáp ứng đầy đủ hoặc xâm phạm các quyền lợi đó” [17; tr. Để phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, thu hút và động viên quần chúng nhân dân tham gia quản lý Nhà nước, quản lý xã hội; tham gia hoạch định, thực thi chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước thì cần phải tạo điều kiện để nhân dân thực hiện tốt quyền phản biện xã hội của họ. Quá trình phản biện xã hội diễn ra theo các bước: 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - B1: Xuất hiện đối tượng phản biện (là các chủ trương, dự thảo, chính sách, đề án…) do khách thể phản biện đưa ra.
- B2: Đối tượng phản biện tác động đến chủ thể phản biện (là các tổ chức, cá nhân…) theo hướng tích cực hay tiêu cực. - B3: Chủ thể phản biện hình thành thông điệp phản biện để góp ý, bổ sung, phản hồi về vấn đề. - B4: Thông điệp phản biện được chuyển đến kênh truyền thông, là các phương tiện thông tin đại chúng. - B5: Kênh truyền thông truyền tải thông điệp phản biện của chủ thể tới khách thể.
- B6: Khách thể phản biện tiếp nhận thông điệp và giải thích, tranh luận lại với chủ thể phản biện. Ở giai đoạn này, có thể tiếp tục xuất hiện những thông điệp tranh biện giữa các bên. - B7: Sau quá trình tranh luận, khách thể phản biện đưa ra những giải pháp, điều chỉnh để xử lý vấn đề. Quá trình phản biện xã hội chỉ thu hút được đông đảo chủ thể phản biện tham gia khi nó có ý nghĩa rộng lớn, có ảnh hưởng, liên quan đến lợi ích chung của nhiều người trong xã hội.
Giá trị của phản biện xã hội là nhằm phát huy dân chủ, là để Nhà nước lắng nghe tiếng nói của nhân dân. Chính vì vậy, phản biện xã hội được coi là nhu cầu bức thiết, là đòi hỏi bắt buộc của quá trình lãnh đạo, điều hành đất nước. Phản biện xã hội còn có tác dụng hạn chế sự lạm dụng quyền lực, sự độc đoán chuyên quyền, quan liêu, tham nhũng trong cơ quan Đảng, cơ quan Nhà nước. Về chức năng của phản biện xã hội, tác giả Phạm Quang Tú, trong bài viết Phản biện xã hội: Khái niệm, chức năng và điều kiện hình thành [35] đã chỉ ra 3 chức năng chính của phản biện xã hội: Thứ nhất, phản biện xã hội giúp điều tiết xung đột lợi ích giữa các nhóm xã hội để tạo ra đồng thuận xã hội.
Bởi xã hội là một tập hợp nhiều lực lượng xã hội, 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nhóm xã hội khác nhau, và trong quá trình phát triển của mình, các nhóm tất yếu có sự mâu thuẫn, xung đột với nhau về lợi ích. Khi đó, quá trình phản biện xã hội sẽ giúp điều hòa mâu thuẫn, giải quyết các xung đột này thông qua con đường tranh luận, đối thoại một cách công khai, để từ đó tạo nên sự đồng thuận, thống nhất trong xã hội. Thứ hai, phản biện xã hội góp phần khắc phục những khiếm khuyết của các kiến tạo chính sách - thể chế, qua đó nâng cao chất lượng quản trị của bộ máy Nhà nước. Phản biện xã hội không phải là sự phủ định, bác bỏ hoàn toàn những chính sách của cơ quan công quyền.
Ngược lại, nó giúp cơ quan Nhà nước nhận ra những lỗ hổng, khiếm khuyết, hạn chế của các chính sách, để từ đó đề xuất những hướng đi mới hay giải pháp khắc phục, thay thế hợp lý. Thứ ba, phản biện xã hội góp phần nâng cao trách nhiệm xã hội của cộng đồng, phát triển ý thức về quyền và nghĩa vụ của người công dân, qua đó từng bước hình thành môi trường xã hội dân chủ, tiến bộ. Phản biện xã hội phát huy tiếng nói của người dân, tạo điều kiện để nhân dân tham gia thảo luận, góp ý vào các vấn đề lớn của đất nước. Từ đó, phản biện xã hội đóng vai trò ngày càng quan trọng trong sự phát triển, tiến bộ của xã hội.