Chương 1. Cơ sở lý luận về chính sách đổi mới công nghệ trong doanh nghiệp sản xuất thủy hải sản. Thực trạng chính sách đổi mới công nghệ trong doanh nghiệp sản xuất thủy hải sản tại huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh Chương 3. Giải pháp về chính sách thúc đẩy đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp sản xuất thủy hải sản tại huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh.
12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT THỦY HẢI SẢN 1.1 Hệ khái niệm 1.1 Chính sách Chính sách là một khái niệm chi phối sự hiểu biết của chúng ta về việc thực thi quyền lực. Việc hoạch định và thực thi có hiệu quả các chính sách, xét cho cùng, là tiêu chí căn bản. Chính sách được chia thành ba loại: Chính sách quốc gia ( áp dụng cho toàn đất nước), chính sách địa phương (cấp tỉnh, huyện, xã) và chính sách bên trong các cơ quan, tổ chức (chủ yếu là công tác cán bộ). Trong khi chính quyền trung ương quyết định các chính sách quốc gia cơ bản về đối nội và đối ngoại, về phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng an ninh, chính quyền địa phương cũng có quyền quyết định những chính sách thuộc thẩm quyền của mình để phát huy tiềm năng của địa phương và giải quyết các vấn đề kinh tế - văn hóa – xã hội khác có tính đặc thù của địa phương, chính sách bên trong cơ quan tổ chức là đặc thù của tổ chức đó.
Chính sách quốc gia luôn là tiêu điểm chủ yếu và quan trọng nhất trong lĩnh vực nghiên cứu chính sách quốc gia có thể áp dụng cho nghiên cứu phân tích chính sách địa phương. Do vậy, trong thực tế chính sách công cũng thường được gọi là chính sách quốc gia, ngắn gọn hơn là chính sách. Định nghĩa ở trên nhấn mạnh ba đặc tính căn bản của đối tượng nghiên cứu: Thứ nhất, chính sách công không đặt trọng tâm nghiên cứu vào các quyết định nhất thời, riêng biệt (mang tính tình thế) của Đảng, nhà nước mà là 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com vào các chương trình hoạt động được suy tính một cách khoa học, liên quan với nhau một cách hữu cơ và nhằm những mục đích tương đối cụ thể. Thứ hai, chủ thể hoạch định chính sách cũng là chủ thể nắm quyền lực nhà nước, và vì vậy có khả năng và công cụ để cưỡng chế hợp pháp.
Với nghĩa này, các chính sách, chương trình hành động của các đoàn thể, tổ chức chính trị xã hội và các tổ chức phi chính phủ, dù là hợp pháp, không phải là chính sách công. Thứ ba, chính sách công bao gồm những gì được thực sự thi hành chứ không chỉ những tuyên bố. Bởi vì đối với nhân dân kết quả thực tế của chính sách là quan trọng hơn ý định ban đầu của chính sách đó. Đây là nguyên tắc quan trọng xuyên suốt đối với các nhà nghiên cứu cũng như hoạch định chính sách.
Khoa học chính sách trên thế giới được hình thành tương đối có hệ thống từ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, một phần quan trọng nhờ vào sự phát triển của khoa học cận ngành có liên quan như kinh tế học, khoa học quản lý, xã hội học,… Do chi tiêu nhà nước tăng mạnh cho phục hồi kinh tế sau chiến tranh, phương Tây bắt đầu chú ý thực sự vào phân tích chính sách công từ giữa những năm 1940, (trước đó họ tập trung chủ yếu vào các quá trình chính trị chứ không phải là “sản phẩm” của các quá trình đó). Vào năm 1950, lĩnh vực nghiên cứu độc lập về chính sách mới trở nên rõ ràng sau một loạt các nghiên cứu cơ bản cũng như sự công nhận của giới khoa học và giới chính trị. Trong những năm 1960, các nghiên cứu chính sách ở phương Tây đã đạt được những thành tựu nhất định, đặc biệt trong việc ứng dụng thực tiễn. Những năm 1970 và 1980 đã chứng kiến sự phát triển nhanh chóng của lĩnh vực nghiên cứu này.
Các trường đại học đều đã thành lập chuyên ngành riêng về phân tích chính sách, cung cấp các chuyên gia tư vấn và đánh giá chính sách cho toàn bộ hệ thống chính trị. 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tại Việt Nam, các nghiên cứu về chính sách cũng đã được công bố nhiều trong các sách, báo và tạp chí chuyên ngành. Các nghiên cứu này tập trung vào nội dung cụ thể của chính sách từ góc độ chuyên ngành hẹp, ít khi xem xét nó từ góc độ chính trị học. Trong khi đó, việc nghiên cứu các vấn đề chính trị của một tiến trình chính sách nói chung có ý nghĩa căn bản cho việc thiết kế cũng như triển khai chính sách một cách có hiệu quả.
Để làm được điều này, nghiên cứu chính sách không thể tách rời việc mô tả và phân tích ba mảng vấn đề lớn: Các thiết chế chính trị, các quy trình chính trị và các hành vi chính trị. Mục đích của nghiên cứu chính sách như vậy có thể quy về ba điểm lớn: i) Quá trình hoạch định chính sách công; ii) nội dung căn bản của các chính sách công; iii) tác động và hậu quả của các chính sách công. Vai trò đó có thể được khái quát qua năm nội dung chủ yếu sau: - Đảm bảo sự ổn định về chính trị, xã hội và các định hướng chính sách, đặc biệt chính sách kinh tế vĩ mô; - Xây dựng các khuôn khổ pháp lý, hệ thống luật; - Đầu tư phát triển và cung cấp các dịch vụ xã hội căn bản trong giáo dục, y tế và hạ tầng cơ sở; - Xóa đói giảm nghèo, đảm bảo công bằng xã hội; - Bảo vệ môi trường, gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc. Tùy theo cách tiếp cận mà các tác giả đưa ra khái niệm về chính sách khác nhau, mỗi cách tiếp cận giúp người chuẩn bị quyết định chính sách một cách tư duy.
Có thể định nghĩa về chính sách như sau: Chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế hóa, mà một chủ quyền lực, hoặc chủ thể quản lý đưa ra, trong đó tạo sự ưu đãi một số nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của nhóm này, định hướng hoạt 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com động của của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó trong chiến lược phát triển của một hệ thống xã hội"[5;11-13]. Như vậy nói về một quyết định chính sách người quản lý có thể hiểu như sau: - Chính sách là một tập hợp biện pháp. Do đó có thể là một biện pháp khuyến khích kinh tế, biện pháp động viên tinh thần, một biện pháp mệnh lệnh hành chính hoặc một biện pháp ưu đãi đối với các cá nhân hoặc các nhóm xã hội. - Chính sách là một tập hợp biện pháp, thể chế hóa dưới dạng các của đạo Luật; Sắc lệnh; các văn bản dưới luật như: Nghị định, Thông tư, Chỉ thị của Chính phủ; hoặc các văn bản quy định nội bộ của các tổ chức (doanh nghiệp, trường học) - Chính sách phải tác động hướng vào động cơ của các cá nhân và nhóm xã hội.
Đây phải là nhóm đóng vai trò động lực trong việc thực hiện một mục tiêu nào đó. Cụ thể như chính sách về tài chính. Chính sách tài chính( chính sách tài khóa) trong kinh tế học vĩ mô là chính sách thông qua chế độ thuế và đầu tư công cộng để tác động tới nền kinh tế. Chính sách tài chính cùng với chính sách tiền tệ là các chính sách ổn định kinh tế vĩ mô quan trọng.
(Theo http;/vi.org) Chính sách tài chính là tập hợp những biện pháp tài chính nhằm thúc đẩy thực hiện một hoặc một số mục tiêu kinh tế và/hoặc xã hội. Chính sách tài chính có thể bao gồm chính sách vốn cho khoa học và công nghệ, chính sách giá cả đối với sản phẩm khoa học và công nghệ, chính sách lợi nhuận đối với sản phẩm khoa học và công nghệ, chính sách thuế đối với sản phẩm khoa học và công nghệ, chính sách thu nhập với những người 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hoạt động khoa học và công nghệ, chính sách khấu hoa thiết bị trong hoạt động koa học và công nghệ. Chẳng hạn, trong chính sách tạo nguồn vốn, Nhà nước (hoặc một chủ thể chính sách bất kỳ) có thể có các biện pháp ưu đãi để kích thích tạo nguồn lực vốn hoặc có các biện pháp hạn chế tạo nguồn vốn. cũng có những nguồn vốn tương tự đối với chính sách giá cả, chính sách lợi nhuận, chính sách thuế, chính sách khấu hao và chính sách thu nhập.
Tuy nhiên , tùy loại hoạt động, mà chính sách tài chính có thể bao gồm một hoặc một số loại chính sách trong danh mục trên đây. Trong khoa học và công nghệ, có lẽ quan trọng nhất là chính sách vốn và chính sách thuế. Công nghệ Công nghệ được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau. Điều quan trọng là phải nhận diện sự khác biệt trong mỗi cách tiếp cận.
Hiện tại, có hàng loạt định nghĩa minh họa các khía cạnh khác nhau về công nghệ. Nhưng đa số các định nghĩa công nghệ đều đề cập đến: 1/ Các quy trình làm thay đổi đầu vào và đầu ra 2/ Vận dụng tri thức để thực hiện công việc 3/ Kiến thức lý thuyết và thực tiễn, và kỹ năng vận dụng để phát triển sản phẩm cũng như sản xuất và hệ thống phân phối 4/ Công cụ kỹ thuật để mọi người cải thiện những thứ xung quanh 5/ Ứng dụng khoa học, đặc biệt theo đuổi mục tiêu công nghiệp và thương mại; bao gồm toàn bộ các phương pháp và công cụ để đạt được mục tiêu đó. Mặc dầu có nhiều các định nghĩa khác nhau về công nghệ. Tuy nhiên, các định nghĩa này lại có chung một số đặc trưng.
Mỗi định nghĩa đều đề cập đến tiến trình liên quan đến công nghệ, mà sự thay đổi là do kết quả của công 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nghệ, và công nghệ đó bao gồm cả cách tiếp cận hệ thống để đem lại đầu ra mong muốn (sự cải tiến, mục tiêu, đầu ra). Công nghệ được định nghĩa như sau: Công nghệ như là sự thực thi tiến trình học hỏi và tri thức của cá nhân và tổ chức để hỗ trợ nỗ lực của con người. Công nghệ là tri thức, sản phẩm, quy trình, công cụ, và hệ thống vận dụng để tạo ra hàng hóa hay cung cấp dịch vụ.