lời mở đầu; 3) ý nghĩa; 4) chú giải; 5) các hình thái; 6) các kết cấu; 7) khả năng kết hợp; 8) ví dụ minh hoạ. Ngoài ra trong mục từ điển có thể chứa tới 9 khu vực tra cứu về các thông tin khác như: các đơn vị đồng nghĩa thành ngữ tính; các đơn vị tương tự; các từ trái nghĩa; các từ phái sinh, v. (Dẫn theo [66, tr. Năm 1975, ở Nga đã xuất bản cuốn "Từ điền từ đồng nghĩa tiếng Nga" của Z.
Cuốn từ điển này dày 600 trang; được biên soạn dựa 14 trên các phiếu. Nó phục vụ chủ yếu cho những người sử dụng tiếng Nga là tiếng mẹ đẻ khi viết và dịch từ các ngôn ngữ khác nhau sang tiếng Nga và biên tập các văn bản được viết bằng tiếng Nga. Điều này đã chi phối phương pháp biên soạn từ điển - chỉ cung cấp các từ đồng nghĩa trong dãy kèm theo chú sắc thái phong cách, phạm vi sử dụng, đặc điểm kết hợp mà không có lời giải thích ý nghĩa cho từng từ, cũng không chỉ ra những sắc thái nghĩa khác nhau trong ý nghĩa của các đơn vị đồng nghĩa của mỗi dãy. Từ điển cũng không dẫn ví dụ minh hoạ.
Quan niệm của tác giả về từ đồng nghĩa như sau: "Là những từ có cùng một ý nghĩa từ vựng, chỉ khác nhau về các sắc thái ý nghĩa, màu sắc biểu cảm và tính chất sở thuộc một lớp phong cách nào đó của ngôn ngữ và chúng có khả năng kết hợp trùng nhau dù chỉ là một phần, bởi vì chỉ trong trường hợp này chúng mới có thê thay thế nhau trong các ngữ cảnh thực tế". Tác giả cũng không coi các từ gắn bó với nhau theo quan hệ "loại - chủng" là những từ đồng nghĩa. (Dẫn theo [66, tr. về lồng nghĩa từ vựng ở,J.iên/Xôitrtớc đây cho phép quy tất cả các định nghĩa về từ đồng nghĩa được đưa ra trong các công trình khoa học vào hai loại: - Loại 1.
Định nghĩa các từ đồng nghĩa là những từ có âm khác nhau, gần gũi nhưng không đồng nhất về ý nghĩa của chúng. Loại định nghĩa từ đồng nghĩa nay đã được đưa ra từ cuối thé ki XVIII và vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay. Định nghĩa từ đồng nghĩa là những từ biểu thị cùng một hiện tượng của hiện thực khách quan, nhưng khác nhau về sắc thái ý nghĩa, thuộc tính phong cách, v.Nghién cứu về từ đồng nghĩa trong tiếng Anh Ở Anh -Mỹ cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu và biên soạn từ điển từ đồng nghĩa được xuất bản, trong đó có bàn về từ đồng nghĩa. Chẳng hạn, “Từ điển từ đồng nghĩa” (Dictionary of Synonyms) của Webster được xuất bản ở Mỹ năm 1984 quan niệm “từ đồng nghĩa là hai hoặc nhiều từ trong 15 tiếng Anh có nghĩa giống nhau hoặc nghĩa cơ bản rất gần giống nhau.
Thông thường các từ đồng nghĩa phân biệt nhau bởi một ý nghĩa bổ sung, hoặc chúng có thể khác nhau trong sự sử dụng thành ngữ hoặc trong cách chúng được sử dụng " [113, tr. Trong phan này, chúng tôi sẽ trình bày công trình của một số nhà ngôn ngữ học về các từ đồng nghĩa trong tiếng Anh, xác định mức độ chúng tương đồng với nhau trong sự sử dụng. Như chúng ta biết, tiếng Anh có nhiều biến thể được sử dụng ở các nước khác nhau, chẳng hạn, tiếng Anh Anh và tiếng Anh Mỹ là hai biến thể của cùng một ngôn ngữ, nhưng có sự khác biệt đáng kê trong từ vựng của chúng.113-117] đã phân tích sự cùng tồn tại và cạnh tranh giữa các từ đồng nghĩa Mỹ và Anh trong tiếng Anh Anh như là kết quả của sự vay mượn tiếng Anh Mỹ vào tiếng Anh Anh. Theo Filippov, khi một từ Mỹ du nhập vào tiếng Anh Anh mà gặp một từ có cùng một ý nghĩa đã tồn tại thì kết quả của cuộc gặp gỡ này có thể khác nhau.
Thứ nhất; ede từ này [ed thẻ, cling tn tai, Nhung yới hức độ sử dụng khác nhau, các từ Anh Mỹ thường có tần số sử dụng thấp hơn các từ đồng nghĩa Anh tương ứng: ví dụ BE (British English) /uggage (hành ly) và AE (tiếng Anh Mỹ) baggage (hành lý), BE stones (soi) và AE rock (đá), BE lorry (xe tai) và AEtruck (xe tai), BE government (chính phử) và AE administration (chính phi), BE team (đội) và AE squad (đội). Thứ hai, hai từ đồng nghĩa có thé khác nhau về mặt phong cách, từ Anh Mỹ thường được sử dụng như một từ thông tục hoặc tiếng lóng, và từ Anh như là một từ trung tính, ví dụ: intellectual - trí tué và AE: egghead - đâu vỏ trứng; excuse- bào chữa và AE: abili - chứng cứ ngoại phạm; averse- không thích va AE: allergic — di ứng; to advertise - dé quảng cáo và AE: to sell— để bán. Thứ ba, chúng cũng có thé khác biệt về tính cộng sinh từ vựng, với một số hạn chế áp dụng cho từ tiếng Anh Anh: ví dụ: the Americanism merchant 16 (thương nhân Mỹ ) thay cho the traditional British shopkeeper (người chi hiệu Anh truyền thống va dealer (đại lý ) ở kết hợp đặc biệt như coal merchant (hãng buôn than) hoặc wine merchant (hãng buôn rượu vang). Cuối cùng, hai từ đồng nghĩa có thể khác nhau theo các giá trị xã hội học, nghĩa là sự đồng hóa của một từ Mỹ vào tiếng Anh Anh có thé thay đổi theo tuổi người sử dụng nó: ví dụ: thế hệ trẻ có nhiều khả năng sử dụng tiếng Anh kiểu Mỹ, trong khi thế hệ lớn tuổi thích các từ ngữ truyền thống.
Cũng trong cùng một loại tiếng Anh, tức là tiếng Anh Mỹ, từ (gần) đồng nghĩa rất nhiều. Von Schneidemesser [132, tr.74-76] đã chú ý đến từ vi (purse) và từ đồng nghĩa của nó, và bằng cách tham khảo tir điển của Mỹ trong khu vực Anh và bằng cách phân tích bình luận thông tin về việc sử dụng các từ đồng nghĩa như vậy, tác giả Von Schneidemesser thấy rằng purse - ví đồng nghĩa với pocketbook - vi tiền, handbag - túi xách , wallet - vi, change purse - vi dung tiên lẻ va coin purse — ví đựng tiền xu dao động theo sự phân bố địa lý của việc sử dụff#:chúng:;; Von Sehneidemésser hhấn jmanh| fing các từ đồng nghĩa trên được coi là chuẩn mực và do đó chúng đã được dùng khắp đất nước: đặc biệt là từ purse - vi được dùng thường xuyên hơn trên bờ biển phía Tây và từ pocketbook - ví tién thì lại được dùng trên bờ biển phía Đông, trong khi từ handbag —túi xách được sử dụng thường xuyên hơn ở Maryland, và việc sử dụng nó liên quan đến tuổi của người nói (phd biến hơn ở người từ sáu mươi tuổi trở lên). Wallet (vi) được sử dụng nhiều hơn ở California và khu vực Đông Bắc của Liên bang, thông thường truyền tải ý nghĩa 'bưu phẩm bằng da' (leather billfold); tuy nhiên, từ billfold - ví được một số người cung cấp thông tin coi là thuật ngữ lâu đời nhất đề cập đến cái gì đó có thể được mang bên trong pocketbook - ví tiền hoặc handbag -túi xách và chỉ trong một số trường hợp đã cung cấp thông tin nó có nghĩa chồng chéo với handbag - tii xách. Cudi cùng, tần suất sử dụng của coin purse — vi dung tien xu và change purse — vi đựng tiên lẻ được coi là gần bằng sau từ.
handbag - ti xách Gottschlank [102, tr.237-255] so sánh hai cấu trúc câu hỏi tiếng Anh thường xuyên được sử dụng hoặc dé dé nghị một cái gì đó hoặc hỏi về một cái gì đó, cụ thé là what about (cái gì) và how about (theo cách gì). Trong nghiên cứu của mình, tác giả đã kiểm tra khả năng nói tiếng mẹ đẻ bằng tiếng Anh để chọn cụm từ tốt nhất điền vào khoảng trống trong một số câu phù hợp. Theo những cách hiểu khác nhau của học sinh đối với các câu theo lực ngôn trung mà họ suy đoán, các học sinh đã nói rằng ho phân biệt được giữa what about (cái gi) và how about (theo cách gì) và cũng không phải tat cả trong số họ đều đã chọn cùng một cụm từ trong cùng một loại phát ngôn. Những sự khác biệt chính mà ông nhận thay là how about (theo cách gi) chủ yếu được lựa chọn khi theo sau là mạo từ xác định, tên riêng, đại từ sở hữu, trong khi what about (cdi gì) được chọn khi tiếp sau là mạo từ bất định, số từ và mệnh đề không xác định (ví dụ như nguyên mẫu hoặc gerund).
Hơn nữa, how about (theo cách gì) thường được sử dụng như một lời nhắc nhở về một cái gì đó goiycho ¡ithoại (trong, Khiwhat about (cái gi) được sử dụng để cung cấp Sngtin mới hoặc dé bày tỏ sự gợi ý, thuyết phục hoặc lời mời làm việc gì đó. Hai cấu trúc cũng thường được sử dụng để đặt câu hỏi; đặc biệt, vi what about (cái gì) được sử dụng trong câu hỏi thé hiện các gợi ý, đưa ra các lựa chọn cho người nhận, câu trả lời phổ biến nhất cho nó là một sự đồng ý hay không trả lời. Mặt khác, how about (theo cách gì) được sử dụng để xin ý kiến, vì vậy phản ứng phổ biến nhất là thông tin bắt buộc. Hơn nữa, tác giả đã phân tích việc sử dụng các cấu trúc nêu trên trong các văn bản văn học và chỉ ra rằng trong các tài liệu nghiên cứu, sự lựa chọn giữa how about (theo cách gi) và what about (cái gì) chủ yêu được xác định bởi các đặc điểm phong cách và liên quan đến cấu trúc của cốt truyện; ví dụ, trong cuốn tiểu thuyết của Scott Turow “ Coi là vô tội”, how about (theo cách gì) được sử dụng trong100 trang đầu tiên như là một thiết bị tạo kiểu để mô tả các phương pháp tiếp cận rập khuôn xác định kẻ giết người thực sự, nhưng từ chương 23 trở di, how about (theo cách gì) được sử dụng dé thực hiện yêu 18 cầu và phát ngôn nhắc nhở.
Vẫn đối với những văn bản này, ông cũng nhấn mạnh những khó khăn gặp phải bởi các dịch giả khi xây dựng các cấu trúc này bằng tiếng Đức. Vi vậy, Gottschlank cho thấy chỉ đôi khi mới có thể nhận thấy sự chồng chéo trong cuộc đối thoại và đưa ra nghĩa của các cụm từ và người nói ưa lựa chọn sử dụng what about (cái gì) hơn là how about (theo cách gi) dé truyền đạt sắc thái nghĩa khác nhau. Church và các cộng sự [87, tr.1-35] đã nghiên cứu các từ đồng nghĩa ask for (yêu cầu) và request (yêu câu), họ so sánh bằng cách sử dụng thesauri và corpora.