Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN Trong chương này, chúng tôi trình bày các đường hướng Ngôn ngữ học tiếp cận, nghiên cứu kết cấu mệnh lệnh tiếng Anh và tiếng Việt. Đồng thời, xác lập hệ thống cơ sở lý thuyết và các luận cứ khoa học về tiếp cận kết cấu mệnh lệnh tiếng Anh dưới góc độ Ngôn ngữ học Tri nhận. Chương 2: ĐẶC ĐIỂM TRI NHẬN TRONG KẾT CẤU MỆNH LỆNH TIẾNG ANH Dựa trên nguyên tắc đối chiếu một chiều được xác lập trong cơ sở lý thuyết, kết cấu mệnh lệnh tiếng Anh được xem là cơ sở (ngôn ngữ) nguồn trong đối chiếu. Chương 2, dựa trên cơ sở là kết quả ngữ liệu thống kê, các cứ luận lý thuyết kết hợp với một số đường hướng tiếp cận xuyên ngôn, thể hiện toàn bộ thao tác phân tích, mô tả đặc điểm tri nhận về ngữ nghĩa, ngữ dụng và cú pháp kết cấu mệnh lệnh, khu biệt kết cấu mệnh lệnh gián tiếp dựa trên lý thuyết mô hình tri nhận ý tưởng hoá (ICM) với kết cấu mệnh lệnh trực tiếp trong tiếng Anh.
Từ kết quả đó, chúng tôi thực hiện phân tích định lượng và định tính các tiêu chí biểu lực và các kiểu kết cấu trong kết cấu mệnh lệnh tiếng Anh nhằm giải đáp các đặc điểm tri nhận qua lược đồ và điển mẫu kết cấu mệnh lệnh tiếng Anh trong vai trò là ngôn ngữ nguồn của đối chiếu một chiều. 6 Chương 3: ĐỐI CHIẾU KẾT CẤU MỆNH LỆNH TIẾNG VIỆT DỰA TRÊN KẾT CẤU MỆNH LỆNH TIẾNG ANH Trong chương này, chúng tôi thực hiện phân tích, mô tả và khu trú kết cấu mệnh lệnh tiếng Việt dựa trên cơ sở là ngữ liệu được thu thập thống kê từ 05 tác phẩm văn học, điện ảnh Việt Nam và, với, hoặc một số ngữ liệu chứa kết cấu mệnh lệnh minh hoạ hoặc được sử dụng như vai trò đối chứng có nguồn tham khảo được trích dẫn từ các bài viết trong báo điện tử (online) mạng xã hội facebook, trang biên dịch phụ đề online http://www.org và/ hoặc từ kho tài liệu điện tử COCA (Corpus of Contemporary American English), v. Để thực hiện nhiệm vụ đối chiếu, chương 3 của luận án thực hiện mô tả, phân tích tích hợp đối chiếu một chiều kết cấu mệnh lệnh tiếng Việt dựa trên ngôn ngữ nguồn là kết quả trong chương 2: các đặc điểm tri nhận về ngữ nghĩa, ngữ dụng và ngữ pháp kết cấu trong kết cấu mệnh lệnh tiếng Anh. Từ kết quả đó, xây dựng và xác lập lược đồ và điển mẫu của kết cấu mệnh lệnh tiếng Việt trong mối quan hệ tương đồng và dị biệt với kết cấu mệnh lệnh tiếng Anh.
Kết luận của luận án là sự tổng hợp các kết quả nghiên cứu nhằm chứng minh, giải thích, phản biện, trả lời câu hỏi nghiên cứu và đi đến kết luận dựa trên mục đích, nhiệm vụ và đối tượng nghiên cứu đặt ra. Bên cạnh những kết quả đạt được, phần kết luận, trong mức độ hạn chế nhất định về mặt chủ quan và khách quan, nêu ra những vấn đề nghiên cứu còn để ngỏ, chưa được tiếp cận và gợi mở hướng nghiên cứu mới. Phần cuối cùng của luận án bao gồm các danh mục tài liệu tham khảo và nguồn tư liệu trích dẫn, các phụ lục về tài liệu phục vụ thu thập ngữ liệu tiếng Anh và tiếng Việt được sử dụng trong luận án. 7 Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.
Các quan điểm và đường hướng tiếp cận kết cấu mệnh lệnh 1. Cú pháp trong kết cấu mệnh lệnh Sadock và Zwicky [120] phân loại kết cấu mệnh đề mệnh lệnh là một loại câu cơ bản cùng với câu trần thuật và nghi vấn, được khu biệt với nhau dựa trên tiêu chí chức năng giao tiếp như: mệnh lệnh (orders), trần thuật (statements), câu hỏi (questions). Về mặt cú pháp, kết cấu mệnh lệnh không cần thể hiện một chủ thể tường định như trong ví dụ: “Go!” khi so sánh với loại câu hỏi - biểu thị qua mối quan hệ đảo ngữ giữa chủ ngữ như trong “Are you a teacher?” hoặc như “Do you like it?”. Những câu hỏi có từ hỏi bắt đầu bằng WH (where, when, what…) trong tiếng Anh, thường có sự di chuyển của đại từ nghi vấn đến vị trí đầu câu cùng với trợ động từ (auxiliary), ngoại trừ trường hợp câu hỏi láy (echo-question), các đại từ nghi vấn bắt đầu với WH không di chuyển lên đầu câu như: You love who?.
Vai trò đảo ngữ giữa chủ ngữ với động từ/ trợ động từ không xuất hiện trong câu trần thuật, và chủ ngữ trong hầu hết các trường hợp được diễn đạt một cách bắt buộc, chẳng hạn như: “His dad watched a film.”, nhờ những khác biệt về hình thái cú pháp này, các kiểu câu cơ bản trong tiếng Anh được nhận biết và xác định dễ dàng. Đặc trưng cơ bản và khu biệt của kết cấu mệnh đề mệnh lệnh được xác định dựa trên tổ hợp các đặc tính cú pháp luôn là một thách thức với các nhà lý thuyết ngôn ngữ, đặc biệt là các nhà nghiên cứu tiếp cận phạm trù mệnh lệnh tiếng Anh dưới góc độ lý thuyết Tạo sinh của Chomsky [35]. Rất nhiều quan điểm nhìn nhận rằng kết cấu mệnh đề mệnh lệnh bao gồm sự hiện diện đa dạng của chủ thể/ chủ ngữ và vai trò của các yếu tố phủ định. Điều khiến các thuộc tính của mệnh lệnh trở nên đặc biệt khó hiểu được nhìn nhận trong sự không thống nhất và thậm chí hơi mâu thuẫn, không những ngay cả trong nội hàm- sự đa dạng về cấu trúc kết cấu mệnh lệnh, mà còn ở ngoại diên khi so sánh với các đặc điểm cú pháp của các kiểu kết cấu mệnh đề khác trong tiếng Anh.
Khi áp dụng mô hình Thể (Aspects model) của Chomsky [36]; Katz và Potstal [81]; Culicover [49]; Stockwell và cộng sự [131], những đại diện tiêu biểu trong số những nhà lý thuyết ngôn ngữ học hiện đại cho rằng phương án khả dĩ khu biệt kết cấu mệnh đề mệnh lệnh từ các kết cấu cú pháp cơ bản dựa trên quy tắc loại bỏ chủ ngữ You' và đảo ngữ trợ động từ với chủ ngữ mệnh lệnh. 8 Sau khi nghiên cứu và phân tích các dữ liệu dựa trên các luận thuyết theo quan điểm Chomsky, Laura [95] với trọng tâm nghiên cứu là các thuộc tính kết cấu cú pháp mệnh lệnh tiếng Anh, đúc kết như sau: a.Các kết cấu cú pháp mệnh lệnh trong tiếng Anh mang đặc điểm cơ bản đầu tiên dựa trên sự triệt tiêu về thì (tense), và do đó, cũng không thể hiện các chỉ dấu về sự tương hợp giữa chủ ngữ và động từ hay sự tương phản về mặt hình thái học: Không có sự thay đổi về hình thái ở động từ trong mối quan hệ với thì, số - số ít số nhiều của chủ ngữ, v. Về mặt cấu trúc, kiểu loại này tương đồng với kết cấu mệnh đề không hạn định (infinite) nhưng khác với kết cấu mệnh đề trần thuật hạn định, như trong: (You) stay / *stayed there! We would like [you to stay / *stayed there] You usually stay / stayed there.Một thuộc tính khác của kết cấu cú pháp mệnh lệnh thể hiện sự triệt thoái chức năng trợ động từ tình thái, điều này có nghĩa là, động từ khiếm khuyết/ tình thái (modals) tiếng Anh không có hình thức không hạn định và thường được coi là các thành tố hữu hạn tự thân như cách Roberts [117]; Pollock [112] luận giải và phân tích, chẳng hạn như: *(You) must / can / may leave! *We would like [you to must / can / may leave] You must / can / may leave.Không chỉ thiếu các phương thức hình thái đặc tả về thì (tense)- đặc trưng của kết cấu cú pháp mệnh đề hạn định, kết cấu mệnh lệnh còn thể hiện sự khuyết thiếu các yếu tố liên quan đến động từ nguyên thể- nguyên mẫu (Infinitives). Ngược lại, các nguyên thể như trong: We would like [you to go away] có tiểu từ TO- theo quy chuẩn của Chomsky [37]; Stowell [132] luật hóa khi quy ước tiêu chí xác định hạn định (finite).Các kết cấu mệnh lệnh không có dấu hiệu rõ ràng mối quan hệ tương hợp chủ -vị, như: (You) be quiet! cho thấy rằng các động từ có hình thái gốc (root), giống như trong các động từ nguyên thể.Trong kết cấu mệnh lệnh, trợ động từ biểu thể (aspect) HAVE và BE có thể được sử dụng nhưng trợ động từ DO chiếm ưu thế hơn ngay cả trong hình thức phủ định.Trong kết cấu mệnh lệnh, tân ngữ/ bổ ngữ không tường minh hoặc ngầm định, ví dụ: 9 Hand over your driving licence! The judge said [(*that/*for) hand over my driving licence!] The judge said [(that) I should hand over my driving licence] The judge said [(to/for me) to hand over my driving licence] Ngoài ra, đặc điểm dễ nhận thấy của kết cấu mệnh lệnh thể hiện ở sự triệt tiêu chủ ngữ, ví dụ: be quiet! một phần do phạm vi từ vựng về chủ ngữ được sử dụng trong kết cấu mệnh lệnh tiếng Anh bị hạn chế, ngoài sự phổ biến của đại từ nhân xưng ngôi thứ hai.
Các chủ thể khác có thể bao gồm tân/ bổ ngữ trực tiếp và các đại từ là tân ngữ ngôi thứ ba không xác định. Các ví dụ: You behaved yourself. *You said [John behaved yourself]; Behave yourself; Don’t hurt each other! cho thấy rằng mệnh lệnh thức rõ ràng "không có chủ ngữ" nhưng ẩn chứa một số chủ thể, vì đại từ phản thân và đối ứng thường được các yếu tố tiền định gắn kết trong cùng một miền quy chiếu theo nguyên tắc A của lý thuyết ràng buộc (Principle A of Binding Theory) mà Chomsky [37] đưa ra.Một số nghiên cứu gần đây vẫn theo xu hướng sử dụng các giả thuyết được thiết lập chặt chẽ về trường hợp đảo ngữ của câu hỏi để làm cơ sở phân tích, qua đó, đã đi đến lập luận rằng các phương thức biểu đạt khác nhau của kết cấu mệnh đề mệnh lệnh có mối quan hệ đặc trưng với DO/ DONOT. Beukema và Coopmans [25]; Zanuttini [141] thừa nhận DO/ DONOT như một kết cấu cú pháp.
Tuy nhiên, quan điểm nhìn nhận về mệnh lệnh thức trong tiếng Anh, theo Zhang [142], hình thức của DO/ DONOT không phải là đặc trưng của trợ từ mà hàm chỉ như một tiểu từ trong kết cấu mệnh lệnh phủ định. Dù theo bất kỳ lý thuyết ngôn ngữ nào, phần đa những nghiên cứu đương đại -từ sau 1990 đến nay, trên thế giới chuyển dịch thuật ngữ “Imperative” khá đa dạng: pham trù mệnh lệnh, mệnh đề mệnh lệnh, mệnh lệnh thức, câu mệnh lệnh, hình thức mệnh lệnh, v.