Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ ngữ văn/ngôn ngữ học với đề tài "Đối chiếu ẩn dụ ý niệm trong khẩu hiệu tiếng Việt và tiếng Anh" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Phí Thị Thu Trang, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Trần Thị Phương Thu tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam (năm 2022). Luận án thuộc chuyên ngành Ngôn ngữ học so sánh – đối chiếu, mã số 9222024.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Ẩn dụ đã được nghiên cứu từ thời Aristotle như một biện pháp tu từ trong văn chương và thuật hùng biện. Tuy nhiên, từ năm 1980, với công trình Metaphors We Live By của George Lakoff và Mark Johnson, Lý thuyết Ẩn dụ Ý niệm (Conceptual Metaphor Theory - CMT) thuộc Ngôn ngữ học tri nhận ra đời, xác lập quan niệm mới: ẩn dụ không đơn thuần là hiện tượng ngôn từ bề mặt mà là một phương thức tư duy, phản ánh cách con người tri nhận, ý niệm hóa thế giới và tổ chức trải nghiệm.

Trong các thập niên cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI, các nghiên cứu ẩn dụ ý niệm phát triển mạnh mẽ trên nhiều loại hình diễn ngôn (chính trị, kinh tế, báo chí, văn học). Tuy nhiên, nghiên cứu về ẩn dụ ý niệm trong diễn ngôn khẩu hiệu (slogan) – đặc biệt là khẩu hiệu tuyên truyền chính trị - xã hội – vẫn còn là một khoảng trống lớn chưa được khai thác một cách hệ thống ở Việt Nam. Khẩu hiệu là thể loại diễn ngôn mang tính kêu gọi, cô đọng, có sức thuyết phục cao và định hướng tư duy cộng đồng. Việc sử dụng ẩn dụ trong khẩu hiệu chính trị - xã hội giúp chuyển tải các thông điệp trừu tượng, tác động trực tiếp đến nhận thức và hành động của công chúng. Do đó, việc nghiên cứu đối chiếu hệ thống ẩn dụ ý niệm trong khẩu hiệu tiếng Việt và tiếng Anh có tính cấp thiết cao về cả mặt lý luận tri nhận lẫn thực tiễn giao tiếp xã hội.

Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận án là phân tích, đối chiếu các mô hình ẩn dụ ý niệm phổ biến được sử dụng trong khẩu hiệu tiếng Việt và tiếng Anh, từ đó tìm ra các điểm tương đồng và khác biệt trong cấu trúc ánh xạ, biểu thức ngôn ngữ (dụ dẫn) và tần suất xuất hiện của các mô hình ẩn dụ đó.

Để đạt được mục đích trên, luận án xác lập 5 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến ẩn dụ ý niệm trên thế giới và tại Việt Nam.
  2. Hệ thống hóa cơ sở lý luận về ẩn dụ ý niệm, bao gồm các khái niệm, phân loại và phương thức nhận diện ẩn dụ ý niệm.
  3. Xác lập và phân loại các mô hình ẩn dụ được sử dụng trong khẩu hiệu tiếng Việt và tiếng Anh theo khung phân loại tri nhận.
  4. Miêu tả, phân tích, đối chiếu các mô hình ẩn dụ đã được xác lập trên ba bình diện: cấu trúc ánh xạ, biểu thức ngôn ngữ ẩn dụ (dụ dẫn) và tần suất xuất hiện.
  5. Đưa ra kiến giải về những điểm tương đồng và khác biệt được tìm thấy dựa trên cơ sở tri nhận và đặc trưng văn hóa - xã hội của hai cộng đồng ngôn ngữ.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Các ẩn dụ ý niệm được sử dụng trong khẩu hiệu tiếng Việt và tiếng Anh.
  • Phạm vi nghiên cứu: Khảo sát các mô hình ẩn dụ ý niệm trong khẩu hiệu tuyên truyền về các vấn đề chính trị - xã hội của Việt Nam và các quốc gia bản ngữ tiếng Anh (Anh, Mỹ, Úc). Luận án tiếp cận và phân loại ẩn dụ theo khung lý thuyết của Lakoff và Johnson (2003), bao gồm 3 loại: ẩn dụ cấu trúc, ẩn dụ định hướng và ẩn dụ bản thể.
  • Phạm vi tư liệu và thời gian: Ngữ liệu nghiên cứu gồm 1.200 khẩu hiệu chính trị - xã hội (600 khẩu hiệu tiếng Việt và 600 khẩu hiệu tiếng Anh). Đa số các khẩu hiệu được khảo sát có niên đại thuộc giai đoạn cuối thế kỷ XX đến đầu thế kỷ XXI, cập nhật các vấn đề chính trị - xã hội đương đại. Một số ít khẩu hiệu tranh cử tiếng Anh xuất hiện từ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX vẫn được đưa vào khảo sát do tính thời sự và giá trị ý niệm liên quan đến quyền con người, tự do và bình đẳng.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tình hình nghiên cứu ẩn dụ ý niệm

  1. Nghiên cứu trên thế giới: Lý thuyết ẩn dụ ý niệm phát triển từ công trình nền tảng của Lakoff và Johnson (1980, 2003). Tiếp đó, Mark Johnson (1987) với The Body in the Mind đưa ra khái niệm "lược đồ hình ảnh" (image schema) và lý thuyết nghiệm thân (embodiment); George Lakoff (1987) với Women, Fire, and Dangerous Things phân tích phạm trù hóa và khung ý niệm. Raymond Gibbs (1994, 2008, 2011) chủ biên The Cambridge Handbook of Metaphor and Thought, làm rõ ảnh hưởng của ẩn dụ tới nhận thức và phản bác các luận điểm chống lại CMT. Zoltán Kövecses (2002, 2005, 2015) nghiên cứu sâu về văn hóa và ẩn dụ, xác định 13 miền nguồn và 13 miền đích phổ biến, giải thích tính phổ quát và đặc thù văn hóa. Graham Low (2010) với Researching and Applying Metaphor in the Real World thúc đẩy hướng nghiên cứu ứng dụng. Ngoài ra, các tác giả như Charteris-Black (2004), Turner (2008), Gentner và Bowdle, Giora, Quinn (1991) đã nghiên cứu ẩn dụ trong các diễn ngôn chuyên biệt.
  2. Nghiên cứu tại Việt Nam: Ngôn ngữ học tri nhận bắt đầu được nghiên cứu từ đầu thế kỷ XXI. Trần Văn Cơ (2007, 2009) giới thiệu tổng quan lý thuyết tri nhận và khảo luận ẩn dụ tri nhận; Phan Thế Hưng (2007) phân tích câu ẩn dụ dưới góc độ xếp loại; Nguyễn Đức Dân (2009) nghiên cứu ẩn dụ không gian qua các cặp từ chỉ phương hướng (trên-dưới, trước-sau, trong-ngoài); Nguyễn Văn Hiệp (2013) dùng thuyết nghiệm thân giải thích ngữ nghĩa của cặp từ ra-vào; Nguyễn Thị Bích Hạnh (2015) nghiên cứu cấu trúc ánh xạ và tính tầng bậc của ẩn dụ trong ca từ Trịnh Công Sơn; Hà Thanh Hải (2011) đối chiếu ẩn dụ trên báo chí kinh tế Anh - Việt; Nguyễn Thị Như Ngọc (2015) nghiên cứu ẩn dụ trong diễn ngôn chính trị Mỹ và đề xuất phương thức dịch thuật.

Tình hình nghiên cứu về khẩu hiệu và ẩn dụ trong khẩu hiệu

  • Nghiên cứu về khẩu hiệu: Trên thế giới, Bernstein (1928) khảo sát diễn văn chính trị của Mỹ; Fukunaga và Zhang (2007) so sánh khẩu hiệu chính trị Mỹ và Trung Quốc qua phân tích diễn ngôn phê phán (CDA); Duffy (2013) nghiên cứu tác động nhận thức của khẩu hiệu; Adam Hodges (2014) khảo sát đời sống xã hội của khẩu hiệu "Yes, We Can" (Barack Obama, 2008). Tại Việt Nam, Trương Thành Khải (2011), Đỗ Thị Xuân Dung (2014) khảo sát đặc điểm ngôn ngữ của khẩu hiệu theo CDA; Đinh Kiều Châu (2016) nghiên cứu khẩu hiệu dưới góc độ truyền thông.
  • Nghiên cứu về ẩn dụ trong khẩu hiệu: Đa số các nghiên cứu tập trung vào khẩu hiệu quảng cáo thương mại (Yu, 2009; Dubovičienė & Skorupa, 2014; Nguyễn Thị Chi Mai, 2010; Phạm Thị Hằng, 2012). Trong lĩnh vực chính trị - xã hội, khẩu hiệu thường chỉ được nhắc đến như một bộ phận của diễn ngôn chính trị (Penninck, 2014) hoặc được tiếp cận theo quan điểm tu từ truyền thống (Đỗ Thị Xuân Dung, 2014).

Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết

Chưa có công trình nào ở Việt Nam đi sâu nghiên cứu đối chiếu một cách có hệ thống các mô hình ẩn dụ ý niệm trong khẩu hiệu chính trị - xã hội tiếng Việt và tiếng Anh theo lý thuyết ngôn ngữ học tri nhận, làm rõ cấu trúc ánh xạ, xác định hệ thống dụ dẫn và phân tích cơ sở văn hóa - xã hội của sự tương đồng và khác biệt giữa hai ngôn ngữ.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết

  1. Lý thuyết Ẩn dụ Ý niệm (Conceptual Metaphor Theory):

    • Khái niệm: Ẩn dụ ý niệm là sự hiểu và trải nghiệm một miền ý niệm này (miền đích - trừu tượng) qua một miền ý niệm khác (miền nguồn - cụ thể). Mô hình khái quát có dạng: MIỀN Ý NIỆM A LÀ MIỀN Ý NIỆM B.
    • Miền nguồn và Miền đích: Kövecses (2002) chỉ ra 13 miền nguồn phổ biến (cơ thể, động vật, thực vật, công trình xây dựng, máy móc, trò chơi, hành trình...) và 13 miền đích phổ biến (chính trị, xã hội, kinh tế, cảm xúc, thời gian...).
    • Cơ chế ánh xạ (Mapping): Là sự phóng chiếu có hệ thống các yếu tố, thuộc tính, quan hệ từ miền nguồn sang không gian tinh thần của miền đích. Ánh xạ mang tính hệ thống, tính bộ phận (highlighting và hiding), tính đơn tuyến và có cơ sở từ tính nghiệm thân (embodiment).
    • Cấu trúc của ẩn dụ ý niệm: Gồm 10 yếu tố tương tác theo Kövecses (2003): cơ sở kinh nghiệm, miền nguồn, miền đích, quan hệ nguồn - đích, biểu thức ngôn ngữ (dụ dẫn), ánh xạ, sự kế thừa, pha trộn, hiện thực hóa phi ngôn ngữ.
    • Phân loại ẩn dụ (Lakoff & Johnson, 2003):
      • Ẩn dụ cấu trúc (Structural metaphor): Một ý niệm được cấu trúc chi tiết bằng một ý niệm khác (ví dụ: TRANH LUẬN LÀ CHIẾN TRANH, CHÍNH TRỊ LÀ XÂY DỰNG).
      • Ẩn dụ định hướng (Orientational metaphor): Tổ chức hệ thống ý niệm dựa trên các định hướng không gian vật lý (LÊN - XUỐNG, TRƯỚC - SAU, TRONG - NGOÀI, DÍNH LIỀN - TÁCH RỜI).
      • Ẩn dụ bản thể (Ontological metaphor): Gán cho các ý niệm trừu tượng tính chất thực thể hữu hình (vật thể, chất liệu, vật chứa, sinh vật) để nhận diện, định lượng và định vị.
    • Ẩn dụ và văn hóa: Trải nghiệm cơ thể tạo ra các ẩn dụ tiềm năng mang tính phổ quát, nhưng các mô hình văn hóa, hoàn cảnh lịch sử - xã hội quy định việc lựa chọn và tạo ra các ẩn dụ bậc thấp mang tính đặc thù dân tộc.
  2. Lý thuyết Ngôn ngữ học đối chiếu:

    • Dựa trên khung lý thuyết của Bùi Mạnh Hùng (2008), tuân thủ 5 nguyên tắc đối chiếu ngôn ngữ. Luận án thực hiện đối chiếu hai chiều ở bình diện từ vựng (dụ dẫn) và cấp độ vĩ mô (mối quan hệ giữa ngôn ngữ, tri nhận và văn hóa).
  3. Lý thuyết về Khẩu hiệu:

    • Khẩu hiệu chính trị - xã hội được định nghĩa là thể loại diễn ngôn đơn, súc tích, ngắn gọn, dễ nhớ, được các tổ chức chính trị - xã hội sử dụng nhằm kêu gọi, tuyên truyền, vận động, thuyết phục công chúng làm theo đường lối, chính sách.
    • Ba đặc điểm cơ bản: (1) Là sản phẩm của ngôn ngữ truyền thông; (2) Là một thể loại diễn ngôn đặc biệt (tính đại chúng, tính tác động, gắn với ngữ cảnh); (3) Là phương tiện hùng biện súc tích chứa đựng tam giác hùng biện của Aristotle: Ethos (sự chuẩn mực, tín nhiệm của tác giả), Pathos (sự truyền cảm, kết nối cảm xúc) và Logos (tính hợp lý của lập luận và ngữ cảnh).

Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp với thủ pháp thống kê:

  • Phương pháp miêu tả kết hợp phân tích ý niệm: Thực hiện qua hai giai đoạn: (1) Nhận diện ẩn dụ và (2) Thuyết giải ẩn dụ dựa trên kinh nghiệm nghiệm thân và cấu trúc ánh xạ.
  • Quy trình nhận diện ẩn dụ: Kết hợp quy trình nhận diện ẩn dụ MIP (Metaphor Identification Procedure) của nhóm Pragglejaz (2007) với quy trình 5 bước của Gerard Steen (1999, 2011):
    • Bước 1: Nhận diện trọng tâm ẩn dụ (xác định các đơn vị từ vựng mang nghĩa ẩn dụ - dụ dẫn qua MIP).
    • Bước 2: Nhận diện ý niệm ẩn dụ (xác định quan hệ giữa dụ dẫn và dụ thể trong mệnh đề).
    • Bước 3: Nhận diện so sánh ẩn dụ (thiết lập cấu trúc so sánh phi tường minh).
    • Bước 4: Nhận diện tương đồng ẩn dụ (tìm từ ngữ thay thế theo nghĩa đen và kích hoạt các thuộc tính miền nguồn).
    • Bước 5: Nhận diện ánh xạ ẩn dụ (thiết lập mô hình ánh xạ giữa miền nguồn và miền đích).
  • Phương pháp đối chiếu hai chiều: So sánh cấu trúc ánh xạ, dụ dẫn và tần suất xuất hiện giữa tiếng Việt và tiếng Anh.
  • Thủ pháp thống kê: Xác định tần suất và số lượt xuất hiện của dụ dẫn dựa trên 3 nguyên tắc: (1) Một dụ dẫn có thể xuất hiện trong nhiều khẩu hiệu; (2) Một khẩu hiệu có thể chứa nhiều dụ dẫn; (3) Một dụ dẫn có thể thể hiện nhiều hơn một ẩn dụ ý niệm.

Nguồn tư liệu nghiên cứu

Tổng số 1.200 khẩu hiệu chính trị - xã hội được thu thập ngẫu nhiên từ báo chí, văn bản cơ quan nhà nước, băng rôn thực tế, từ điển chuyên ngành (Collins Dictionary of Slogans) và Internet:

Ngôn ngữ Khẩu hiệu chính trị Khẩu hiệu xã hội Tổng số Nội dung khảo sát chính
Tiếng Việt 235 365 600 Mục tiêu chính trị của Đảng và Nhà nước, quốc phòng, biển đảo, pháp luật, nghĩa vụ quân sự, phát triển kinh tế; xây dựng nông thôn mới, an toàn giao thông, môi trường, giáo dục, y tế, trật tự văn minh, hành động cách mạng.
Tiếng Anh 250 350 600 Khẩu hiệu tranh cử của các đảng phái tại Anh, Mỹ, Úc; an toàn lao động, giao thông, nữ quyền, trẻ em, hiến máu, giáo dục, văn hóa đọc, bảo vệ môi trường, phòng chống tệ nạn (ma túy, bạo lực, buôn người, khủng bố, phân biệt chủng tộc).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận

Chương 1 hệ thống hóa toàn diện các công trình nghiên cứu về ẩn dụ ý niệm trên thế giới và tại Việt Nam, từ các nghiên cứu lý thuyết nền tảng đến các ứng dụng chuyên ngành. Chương này làm rõ cơ sở lý thuyết ngôn ngữ học tri nhận, các khái niệm miền nguồn, miền đích, ánh xạ, nghiệm thân; xác lập quy trình nhận diện ẩn dụ 5 bước của Steen kết hợp MIP; trình bày khung lý thuyết ngôn ngữ học đối chiếu của Bùi Mạnh Hùng và lý thuyết về diễn ngôn khẩu hiệu chính trị - xã hội.

Chương 2: Đối chiếu ẩn dụ cấu trúc trong khẩu hiệu chính trị-xã hội tiếng Việt và tiếng Anh

Chương 2 phân tích, so sánh và đối chiếu các mô hình ẩn dụ cấu trúc trong hai ngôn ngữ dựa trên các miền nguồn chủ đạo:

  • Miền nguồn XÂY DỰNG: Khảo sát mô hình CHÍNH TRỊ LÀ XÂY DỰNG. Luận án lập bảng thống kê dụ dẫn và cấu trúc ánh xạ giữa các yếu tố xây dựng (nền móng, vật liệu, người thợ, công trình) và hoạt động chính trị - xã hội trong khẩu hiệu tiếng Việt và tiếng Anh.
  • Miền nguồn ĐẤU TRANH: Khảo sát các mô hình ẩn dụ: CHÍNH TRỊ LÀ ĐẤU TRANH (tiếng Việt), TRANH CỬ LÀ CHIẾN TRANH, CHỐNG VẤN NẠN XÃ HỘI LÀ MỘT CUỘC CHIẾN, CHÍNH TRỊ LÀ TRÒ CHƠI (tiếng Anh). Luận án phân tích chi tiết mô hình ánh xạ giữa các yếu tố chiến trận (chiến sĩ, mặt trận, kẻ thù, vũ khí, thắng lợi) với các mục tiêu xã hội.
  • Miền nguồn HÀNH TRÌNH: Khảo sát các mô hình CHÍNH TRỊ LÀ HÀNH TRÌNH và CUỘC SỐNG LÀ HÀNH TRÌNH trong cả hai ngôn ngữ. Phân tích sự ánh xạ từ các thành tố hành trình (người đi đường, phương tiện, chặng đường, chướng ngại vật, đích đến) sang các tiến trình phát triển chính trị - xã hội.
  • Các ẩn dụ cấu trúc đặc trưng: Phân tích các mô hình ẩn dụ chỉ xuất hiện riêng biệt trong khẩu hiệu tiếng Việt (gắn liền với kinh nghiệm lịch sử cách mạng, xây dựng nông thôn mới) hoặc chỉ xuất hiện trong khẩu hiệu tiếng Anh (gắn với tranh cử đa đảng, thể thao, trò chơi cạnh tranh).

Chương 3: Đối chiếu ẩn dụ định hướng trong khẩu hiệu chính trị-xã hội tiếng Việt và tiếng Anh

Chương 3 khảo sát các mô hình ẩn dụ dựa trên các trục không gian đối xứng:

  • Ẩn dụ định hướng LÊN - XUỐNG: Khảo sát các tiểu loại ẩn dụ không gian theo trục dọc (ví dụ: PHÁT TRIỂN LÀ LÊN, SUY THOÁI LÀ XUỐNG; TỐT LÀ LÊN, XẤU LÀ XUỐNG) trong các biểu đạt khẩu hiệu vận động kinh tế và xã hội.
  • Ẩn dụ định hướng TRƯỚC - SAU: Khảo sát hai mô hình chính:
    • TỐT Ở PHÍA TRƯỚC - XẤU Ở PHÍA SAU
    • TƯƠNG LAI Ở PHÍA TRƯỚC - QUÁ KHỨ Ở PHÍA SAU (kết hợp phân tích lược đồ THỜI GIAN LÀ VẬT CHUYỂN ĐỘNG).
  • Ẩn dụ định hướng TRONG - NGOÀI: Khảo sát cấu trúc vật chứa và các ranh giới xã hội, sự hòa nhập hay loại trừ trong cộng đồng chính trị - xã hội.
  • Ẩn dụ định hướng DÍNH LIỀN - TÁCH RỜI: Phân tích các biểu thức thể hiện tính đoàn kết, gắn bó cộng đồng hoặc sự phân tách đối kháng.

Chương 4: Đối chiếu ẩn dụ bản thể trong khẩu hiệu chính trị-xã hội tiếng Việt và tiếng Anh

Chương 4 khảo sát sự tri nhận các ý niệm chính trị - xã hội trừu tượng thông qua các thực thể:

  • Ẩn dụ bản thể có miền nguồn SINH VẬT: Khảo sát mô hình nhân hóa và sinh vật hóa, trong đó các tổ chức chính trị, quốc gia, phong trào xã hội được tri nhận như các cơ thể sống có quá trình sinh trưởng, phát triển, nuôi dưỡng và bảo vệ. Lập bảng thống kê dụ dẫn và mô hình ánh xạ tương ứng trong tiếng Việt và tiếng Anh.
  • Ẩn dụ bản thể có miền nguồn VẬT THỂ: Khảo sát cách ý niệm hóa các hiện tượng xã hội, chính trị thành vật thể cụ thể (có thể đo đếm, cầm nắm, trao đổi), vật chất hoặc vật chứa (container). Phân tích bảng thống kê số lượng dụ dẫn và mô hình tri nhận vật thể trong khẩu hiệu hai ngôn ngữ.
  • Tính tầng bậc của ẩn dụ bản thể: Phân tích cách thức các ẩn dụ bản thể được cụ thể hóa và nâng cấp thành các ẩn dụ cấu trúc chi tiết hơn.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về khoa học và lý luận

  1. Luận án là công trình đầu tiên ở Việt Nam nghiên cứu đối chiếu ẩn dụ ý niệm trong khẩu hiệu chính trị - xã hội một cách hệ thống, chi tiết và khoa học trên cơ sở ngữ liệu thực tế của hai ngôn ngữ.
  2. Luận án góp phần củng cố lý thuyết ngôn ngữ học tri nhận, làm sáng rõ cơ chế ánh xạ ý niệm, tính nghiệm thân và mối quan hệ biện chứng giữa ngôn ngữ, tư duy và văn hóa.
  3. Bổ sung và làm phong phú thêm danh sách các mô hình ẩn dụ ý niệm phổ quát, đồng thời xác lập hệ thống các ẩn dụ bậc thấp phản ánh đặc trưng tư duy, văn hóa và thể chế chính trị riêng biệt của cộng đồng người Việt và người bản ngữ tiếng Anh (Anh, Mỹ, Úc).

Ý nghĩa thực tiễn và giải pháp đề xuất

  1. Trong nghiên cứu và giảng dạy ngôn ngữ: Cung cấp nguồn tư liệu và khung phân tích tham khảo cho việc giảng dạy ngôn ngữ học tri nhận, ngôn ngữ học đối chiếu và ngoại ngữ (tiếng Anh).
  2. Trong biên dịch tài liệu chính trị - xã hội: Hỗ trợ các dịch giả nhận diện cấu trúc ẩn dụ ý niệm để chuyển dịch thông điệp khẩu hiệu một cách chính xác, bảo toàn giá trị tác động nhận thức và phù hợp với văn hóa tiếp nhận.
  3. Trong thiết kế khẩu hiệu và truyền thông chính sách: Cung cấp cơ sở khoa học giúp các nhà hoạch định chính sách, cơ quan truyền thông lựa chọn các miền nguồn và biểu thức ngôn ngữ ẩn dụ thích hợp, nâng cao hiệu quả thuyết phục, định hướng nhận thức và thúc đẩy hành động của quần chúng nhân dân.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu

  • Đặc điểm ngữ liệu: Khẩu hiệu là thể loại diễn ngôn ngắn gọn, súc tích và có tính lặp lại, do đó hệ thống dụ dẫn có thể thiếu tính đa dạng so với các văn bản diễn ngôn dài hoặc khối liệu ngôn ngữ tự nhiên quy mô lớn (corpus).
  • Khác biệt thể chế chính trị: Thể chế chính trị khác nhau giữa Việt Nam và các nước bản ngữ tiếng Anh dẫn đến sự không đồng nhất hoàn toàn về phân loại nội dung chính trị (tiếng Việt tập trung vào sự lãnh đạo của Đảng, các phong trào thi đua, chính sách nhà nước; tiếng Anh tập trung nhiều vào khẩu hiệu tranh cử giữa các đảng phái).

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Mở rộng phân tích ẩn dụ ý niệm trên các khối liệu ngôn ngữ lớn (corpus linguistics) trong các thể loại diễn ngôn công cộng khác.
  • Nghiên cứu sâu hơn về tính tương tác đa phương thức (multimodal metaphor) của khẩu hiệu khi kết hợp ngôn từ với hình ảnh, màu sắc và biểu tượng trực quan trên các phương tiện truyền thông hiện đại.

Giá trị tham khảo

Luận án có giá trị tham khảo chuyên môn đối với các nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và nhà nghiên cứu ngôn ngữ học: Tham khảo khung lý thuyết ngôn ngữ học tri nhận, quy trình nhận diện ẩn dụ 5 bước của Steen kết hợp MIP và phương pháp đối chiếu ngôn ngữ hai chiều.
  • Giảng viên đại học ngành Ngôn ngữ học và Tiếng Anh: Sử dụng làm tài liệu giảng dạy các học phần Ngôn ngữ học tri nhận, Ngôn ngữ học đối chiếu, Phân tích diễn ngôn và Dịch thuật chuyên ngành.
  • Chuyên viên truyền thông, cán bộ tuyên giáo và người làm chính sách: Tham khảo cấu trúc hùng biện và cơ chế tác động tâm lý - tri nhận của ẩn dụ nhằm thiết kế các khẩu hiệu tuyên truyền chính trị - xã hội có sức lan tỏa và thuyết phục cao.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án khảo sát bao nhiêu ngữ liệu và được thu thập từ những nguồn nào?

Luận án khảo sát tổng cộng 1.200 khẩu hiệu thuộc lĩnh vực chính trị - xã hội, chia đều gồm 600 khẩu hiệu tiếng Việt và 600 khẩu hiệu tiếng Anh. Ngữ liệu được thu thập từ báo chí, văn bản của cơ quan nhà nước, băng rôn khẩu hiệu thực tế, từ điển chuyên ngành (Collins Dictionary of Slogans) và mạng Internet.

2. Luận án áp dụng quy trình nào để nhận diện biểu thức ngôn ngữ ẩn dụ (dụ dẫn) và ánh xạ ý niệm?

Luận án kết hợp quy trình nhận diện ẩn dụ MIP (Metaphor Identification Procedure) của nhóm Pragglejaz (2007) với quy trình 5 bước của Gerard Steen (1999, 2011), bao gồm: (1) Nhận diện trọng tâm ẩn dụ qua MIP; (2) Nhận diện ý niệm ẩn dụ; (3) Nhận diện so sánh ẩn dụ; (4) Nhận diện tương đồng ẩn dụ; (5) Nhận diện ánh xạ ẩn dụ.

3. Ba nhóm ẩn dụ ý niệm chính được khảo sát trong luận án là gì?

Dựa theo khung phân loại của Lakoff và Johnson (2003), luận án phân loại và đối chiếu 3 nhóm ẩn dụ ý niệm chính trong khẩu hiệu: (1) Ẩn dụ cấu trúc (Chương 2); (2) Ẩn dụ định hướng (Chương 3); (3) Ẩn dụ bản thể (Chương 4).

4. Những miền nguồn chủ đạo nào xuất hiện trong ẩn dụ cấu trúc của khẩu hiệu tiếng Việt và tiếng Anh?

Trong Chương 2, luận án tập trung phân tích 3 miền nguồn cấu trúc phổ biến nhất trong cả hai ngôn ngữ là: XÂY DỰNG (ví dụ: Chính trị là xây dựng), ĐẤU TRANH (ví dụ: Chính trị là đấu tranh, Tranh cử là chiến tranh, Chống vấn nạn xã hội là một cuộc chiến) và HÀNH TRÌNH (ví dụ: Chính trị là hành trình, Cuộc sống là hành trình), bên cạnh các ẩn dụ cấu trúc đặc thù riêng của từng ngôn ngữ.

5. Khẩu hiệu chính trị - xã hội được luận án tiếp cận dưới những đặc điểm bản chất nào?

Luận án xác định khẩu hiệu chính trị - xã hội có 3 đặc điểm nổi bật: (1) Là một sản phẩm của ngôn ngữ truyền thông mang tính định hướng nhận thức; (2) Là một thể loại diễn ngôn đặc biệt có tính đại chúng và ngắn gọn; (3) Là phương tiện hùng biện súc tích hội tụ đủ ba yếu tố của tam giác hùng biện Aristotle gồm Ethos (chuẩn mực người nói), Pathos (truyền cảm xúc) và Logos (tính hợp lý logic).

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Phí Thị Thu Trang là công trình nghiên cứu chuyên sâu về ẩn dụ ý niệm trong diễn ngôn khẩu hiệu chính trị - xã hội tiếng Việt và tiếng Anh dưới góc nhìn ngôn ngữ học tri nhận và ngôn ngữ học đối chiếu. Thông qua việc phân tích ngữ liệu 1.200 khẩu hiệu, luận án đã xác lập hệ thống mô hình ánh xạ, nhận diện các biểu thức dụ dẫn và chỉ ra các điểm tương đồng mang tính phổ quát cũng như các điểm khác biệt mang tính đặc thù văn hóa - thể chế giữa hai cộng đồng ngôn ngữ. Công trình đóng góp tích cực vào việc củng cố lý thuyết ngôn ngữ học tri nhận tại Việt Nam và mang lại giá trị ứng dụng thiết thực trong dịch thuật, giảng dạy ngoại ngữ cũng như thiết kế khẩu hiệu truyền thông chính sách.