mở đầu cuốn sách, Raymond Gibbs dùng các từ nhƣ ―tuyệt vời, rối loạn, sáng tạo, anh hùng, thách thức‖ (wonderful, chaotic, creative, heroic and challenging) để miêu tả toàn cảnh nghiên cứu và ứng dụng ẩn dụ trong giai đoạn hiện nay. Tác giả tổng quan các thành tựu trí tuệ của các học giả nghiên cứu về ẩn 11 (Luan.anh TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.anh dụ trong mƣời năm qua, từ đó đƣa ra cái nhìn về tƣơng lai của nghiên cứu ứng dụng về ẩn dụ. Các tác giả trong tập sách này là các nhà nghiên cứu làm việc trong nhiều môi trƣờng khác nhau nên đã giải quyết vấn đề gắn với thực tiễn, trong các lĩnh vực nghiên cứu của mình nhƣ giảng dạy ngôn ngữ, ngôn ngữ học ứng dụng, ngôn ngữ học tâm lý, nghiên cứu văn học, ngôn ngữ học máy tính. Cuốn sách cũng khắc họa một số nghiên cứu tiêu biểu về ẩn dụ trong các loại hình diễn ngôn cụ thể, nhƣ diễn ngôn là các bài giảng ở đại học (Graham Low), tạp chí kinh tế (Hanna Skorczynska Sznajder), diễn thuyết chính trị (Ralph Mueller), v.
Các nghiên cứu cũng chú ý đến tính tin cậy của kết quả phân tích định lƣợng và các vấn đề về mối liên hệ giữa ngôn ngữ và tƣ duy, sự phức tạp của việc phân giới cơ thể, trí não, ngôn ngữ và văn hoá. Ngoài những chuyên luận nổi tiếng kể trên, các nghiên cứu về ẩn dụ ý niệm trên thế giới còn rất phong phú về cách tiếp cận và đối tƣợng nghiên cứu. Nhiều công trình khoa học đi sâu nghiên cứu ẩn dụ ý niệm trong một lĩnh vực cụ thể nhƣ chính trị [52], [60], [65], [68], [119], [121], [123], [125], kinh tế [54], [96], giáo dục [63], [78], quảng cáo [114], [115], [152], quyền phụ nữ [137], giao tiếp kỹ thuật [136], báo chí [82], [143], tài chính [86], giảng dạy ngoại ngữ [98], [126] v.; về các đối tƣợng tri nhận nhƣ cảm xúc [51], [131], [149], cuộc đời [55], cơ thể ngƣời [62], [71], ngƣời phụ nữ [142], hạnh phúc [69], v. với dữ liệu nghiên cứu là các ngôn bản, diễn ngôn thuộc nhiều thể loại.
Kết luận của các tác phẩm này đều cho thấy tác động mạnh mẽ của ẩn dụ ý niệm đến tƣ duy, hành động và hành vi ngôn ngữ của con ngƣời. Chẳng hạn, Charteris-Black (2004) cho rằng vào đầu thế kỉ 20, sự hiện đại hoá và toàn cầu hoá đang diễn ra trên thế giới một mặt đã đem lại một thế giới giàu có, tốt đẹp hơn nhƣng mặt khác lại đang chia rẽ con ngƣời, phá hoại môi trƣờng và làm cho bạo lực leo thang. Việc hiểu rõ mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tƣ duy có thể giúp chúng ta kiểm soát các nguồn lực đang bị khai thác quá mức của sự hiện đại. Với sức mạnh của mình, ẩn dụ đƣợc những ngƣời nắm quyền lực trong xã hội nhƣ chính trị gia, truyền thông, lãnh tụ tôn giáo và giới quản lý trong lĩnh vực kinh tế sử dụng để gây ảnh hƣởng đến chúng ta, thuyết phục chúng ta nhìn nhận thế giới theo cách họ muốn [67].anh TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.anh Các công trình nghiên cứu kể trên cho thấy xu hƣớng nghiên cứu ứng dụng ẩn dụ vào các lĩnh vực khác nhau của đời sống đang diễn ra mạnh mẽ và sẽ còn tiếp tục trong tƣơng lai [106].
Nhiều lý thuyết đã có tiếp tục đƣợc củng cố, nhiều nhận xét mới mẻ đƣợc đƣa ra đã tạo một nền tảng vững chắc cho các nghiên cứu chuyên sâu hơn về ẩn dụ ý niệm nói riêng và khoa học tri nhận nói chung trong chặng đƣờng sắp tới. Tình hình nghiên cứu ẩn dụ ý niệm ở Việt Nam Ở Việt Nam, các vấn đề về ngôn ngữ học tri nhận nói chung và ẩn dụ ý niệm nói riêng mới bắt đầu đƣợc nghiên cứu từ đầu thế kỉ thứ 21. Tác giả chính thức đề cập đến các khái niệm và khung lý thuyết cơ bản của ngành nhƣ tri nhận, ý niệm, hình – nền, nguyên lý ―dĩ nhân vi trung‖, v. Tuy nhiên, tác giả không đi sâu nghiên cứu ẩn dụ ý niệm mà tập trung trình bày về đặc điểm tri nhận không gian của ngƣời Việt.
Đây là một công trình quan trọng của Ngôn ngữ học tri nhận ở Việt Nam, vừa có ý nghĩa lý luận khi giới thiệu một xu hƣớng nghiên cứu mới, vừa có giá trị thực tiễn khi áp dụng vào nghiên cứu tiếng Việt. Tuy nhiên, phải đến năm 2015, các vấn đề về ngôn ngữ học tri nhận mới đƣợc trình bày một cách có hệ thống trong giáo trình Ngôn ngữ học Tri nhận: Những nội dung quan yếu [44], trong đó tác giả đi từ tổng quan về tri nhận luận đến những nghiên cứu trƣờng hợp cụ thể về một số ý niệm nhƣ trên-dƣới, ý niệm lòng, và sự ý niệm hoá. Sau đó, các nghiên cứu trong nƣớc về ẩn dụ theo quan điểm tri nhận đƣợc chia thành hai hƣớng chính: nghiên cứu lý thuyết và nghiên cứu ứng dụng. Trong số các nghiên cứu hàn lâm về ẩn dụ ý niệm không thể không nhắc đến Trần Văn Cơ với Ngôn ngữ học tri nhận – Ghi chép và suy nghĩ (2007) [4] và Khảo luận ẩn dụ tri nhận (2009) [5].
Ngoài phần giới thiệu tổng quan về ngôn ngữ học tri nhận, tác giả tổng thuật lại toàn bộ các vấn đề cốt lõi của lý thuyết ẩn dụ ý niệm dựa trên hai tác phẩm Metaphors We Live By (Lakoff và Johnson, 1980), và Women, Fire and the 13 (Luan.anh TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.anh Dangerous Things: What Categories Reveal about the Mind (Lakoff, 1987). Các khái niệm chính đƣợc đề cập đến bao gồm ý niệm và ẩn dụ ý niệm, hoạt động sáng tạo của ẩn dụ ý niệm, kinh nghiệm luận – phƣơng pháp luận của lý thuyết ẩn dụ ý niệm và phạm trù hoá thế giới. Một trong những tác giả nghiên cứu ở giai đoạn sơ khởi về ẩn dụ ý niệm ở Việt Nam, Phan Thế Hƣng (2007) cũng cho rằng ―Chúng ta không hiểu ẩn dụ bằng chuyển ẩn dụ thành phép so sánh. Thay vì vậy, câu ẩn dụ là câu bao hàm xếp loại và do vậy hiểu ẩn dụ qua câu bao hàm xếp loại.
Theo tác giả, so sánh ẩn dụ bao hàm sự so sánh tầng bậc của loại theo hệ thống tôn ti, do đó mối quan hệ giữa hai sự vật trong ẩn dụ không thể đảo ngƣợc. Nhƣ vậy, có thể thấy trong những năm đầu thế kỉ 21, các nhà nghiên cứu trong nƣớc đã cố gắng tìm hiểu bản chất của ẩn dụ và dần dần đi đến sự phủ nhận những quan điểm truyền thống về ẩn dụ nhƣ coi ẩn dụ chỉ là cách dùng từ, một phƣơng thức chuyển nghĩa hoặc một cách nói văn chƣơng hoa mĩ. Sau khi khung lý thuyết về ẩn dụ ý niệm ở Việt Nam đƣợc xác lập, nhiều tác giả đã thực hiện nghiên cứu ứng dụng dƣới các góc độ và trong các lĩnh vực khác nhau. Trong hơn mƣời năm qua, ngoài các công trình chuyên khảo và bài báo khoa học đăng trên các tạp chí chuyên ngành còn có rất nhiều các luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ và các bài viết của các tác giả về những ứng dụng cụ thể của lý thuyết ẩn dụ ý niệm trên cơ sở thực tiễn tiếng Việt.
Có thể chia các công trình nghiên cứu liên quan đến ẩn dụ ý niệm thành hai loại: 1) Các nghiên cứu về một nội dung nhất định dƣới góc độ tri nhận có liên quan đến ẩn dụ và 2) Các nghiên cứu thuần tuý về ẩn dụ ý niệm trong các lĩnh vực khác nhau. Nghiên cứu dƣới góc độ tri nhận, điển hình nhất phải kể đến là các nghiên cứu về ý niệm không gian, thời gian, trong đó các tác giả chỉ ra đƣợc mối quan hệ giữa không gian và thời gian trong cơ sở tri nhận của con ngƣời, có liên quan đến các loại ẩn dụ ý niệm. Chẳng hạn, năm 2009, Nguyễn Đức Dân nghiên cứu sự chuyển nghĩa và ẩn dụ qua các cặp từ chỉ không gian trong tiếng Việt nhƣ trên- dƣới, trƣớc-sau, trong-ngoài và đã chứng minh rằng sự chuyển nghĩa của các từ vựng này mang đậm đặc trƣng tƣ duy và văn hoá Việt [7]. Nguyễn Văn Hiệp (2013) 14 (Luan.anh TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.anh lấy thuyết nghiệm thân (embodiment) làm cơ sở giải thích cho sự phát triển ngữ nghĩa của từ ra và vào trong tiếng Việt.
Tác giả tìm thấy bảy lớp nghĩa khác nhau của cặp từ này và việc chuyển nghĩa không chỉ dựa trên sự chuyển động trong không gian vật lý mà còn cả không gian tâm lí [16]. Về các nghiên cứu thuần tuý về ẩn dụ ý niệm, những công trình tiêu biểu nhất có thể kể đến bao gồm nghiên cứu về một phạm trù cụ thể nhƣ cuộc sống [27], [36], [37], thực vật [28], miền đồ ăn [18], [19], quê hƣơng đất nƣớc [49], nƣớc, lửa [45], vàng [40], phạm trù ăn uống [23], cảm xúc [25], [26], v. Trong các công trình này, các tác giả tìm cách lý giải cấu trúc tri nhận của ẩn dụ ý niệm thông qua cơ sở nghiệm thân và đặc trƣng văn hoá dân tộc. Hƣớng nghiên cứu tiếp theo là về ẩn dụ ý niệm trong thơ ca hoặc các tác phẩm nghệ thuật, với mục đích phân tích, lý giải các mô hình ẩn dụ đặc trƣng của các tác gia lớn nhƣ Trịnh Công Sơn [13], [14], Xuân Quỳnh [38], Lƣu Quang Vũ [1], Huy Cận [42], Nguyễn Du [39] v., tìm hiểu cơ sở tri nhận dựa trên kiến thức, tƣ duy và cả tƣ tƣởng của các nghệ sĩ, chứng minh đƣợc sức mạnh của ẩn dụ trong nghệ thuật.
Tuy nhiên đối với hƣớng nghiên cứu về các mô hình ẩn dụ ý niệm, một số công trình mới chỉ nêu ra mô hình mà chƣa lý giải đƣợc cấu trúc ánh xạ, một số khác chƣa đƣa ra đƣợc cấu trúc tầng bậc của ẩn dụ. Công trình tiêu biểu làm đƣợc cả hai điều này là chuyên khảo Ẩn dụ tri nhận trong ca từ Trịnh Công Sơn của Nguyễn Thị Bích Hạnh (2015), trong đó tác giả đi sâu khai thác và giải mã các mô hình ẩn dụ tri nhận nhƣ CON NGƢỜI LÀ CÂY CỎ, ĐỜI NGƢỜI LÀ MỘT NGÀY, CUỘC ĐỜI LÀ MỘT HÀNH TRÌNH, v. Tác giả đã mô hình hoá khung tri nhận của các ẩn dụ tìm thấy trong ca từ Trịnh Công Sơn, chỉ ra các tƣơng đồng ánh xạ và tính tầng bậc của ẩn dụ bằng cách phân tích các ẩn dụ bậc sâu, tạo nên sự phong phú, đa dạng trong kết quả nghiên cứu [14].anh TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.anh Cuối cùng, có thể kể đến hƣớng nghiên cứu tƣơng đối mới mẻ: tìm hiểu ẩn dụ thông qua các thể loại diễn ngôn.