Tổng quan luận án
Đề tài luận án tiến sĩ "Đọc thẩm mĩ trong dạy học thơ trữ tình ở trường THPT" thuộc chuyên ngành Lý luận và Phương pháp dạy học bộ môn Ngữ văn (Khoa học Giáo dục). Nghiên cứu tiếp cận vấn đề theo định hướng nghiên cứu lý luận kết hợp khảo sát và đề xuất giải pháp phương pháp luận dạy học, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi căn bản của giáo dục Việt Nam từ tiếp cận nội dung sang phát triển phẩm chất và năng lực người học theo Chương trình Giáo dục phổ thông 2018.
Tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ hai bình diện cơ bản:
- Bối cảnh đổi mới giáo dục: Thế kỷ XXI đặt ra yêu cầu giáo dục phải chuyển dịch trọng tâm sang cách dạy và cách học, bồi dưỡng năng lực tự học, tự tiếp nhận và tự chiêm nghiệm. Môn Ngữ văn ở trường phổ thông giữ vai trò then chốt trong việc bồi dưỡng 5 phẩm chất chủ yếu (yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm), phát triển các năng lực chung cùng năng lực đặc thù (ngôn ngữ và văn học). Trong đó, hoạt động đọc hiểu được xác định là khâu khởi điểm, có tính quyết định để hình thành năng lực giao tiếp và cảm thụ thẩm mỹ.
- Thực trạng và khoảng trống nghiên cứu: Thực tế dạy học Ngữ văn cấp Trung học phổ thông (THPT) trong thời gian dài chủ yếu tập trung vào việc nhận thức văn bản, tiếp nhận thông tin và giải thích ý nghĩa nội dung - tức vận dụng chủ yếu cách "đọc trừu xuất" (efferent reading). Giáo viên thường áp đặt kiến thức có sẵn, biến giờ học văn thành giờ giáo dục đạo đức hoặc chính trị một cách gượng ép, khiến học sinh thụ động, thờ ơ trước tác phẩm văn học. Cho đến thời điểm đề tài được thực hiện, chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu một cách đầy đủ, cụ thể, chuyên sâu và có hệ thống về vấn đề đọc thẩm mĩ (aesthetic reading) trong dạy học tác phẩm văn học nói chung và thể loại thơ trữ tình ở trường THPT nói riêng.
Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của luận án bao gồm:
- Nghiên cứu một cách toàn diện các vấn đề lý luận và thực tiễn về dạy học đọc thẩm mĩ thể loại thơ trữ tình trong môn Ngữ văn cấp THPT.
- Đề xuất hệ thống các biện pháp tổ chức dạy học đọc thẩm mĩ thơ trữ tình ở trường THPT nhằm bổ sung, hiện thực hóa lý luận phương pháp dạy học Ngữ văn, nâng cao chất lượng dạy học tác phẩm văn học theo định hướng phát triển năng lực và phẩm chất người học.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động dạy học đọc thẩm mĩ thể loại thơ trữ tình trong môn Ngữ văn.
- Phạm vi nghiên cứu: Cấp học Trung học phổ thông tại Việt Nam; hệ thống ngữ liệu tập trung vào các văn bản thơ trữ tình được giảng dạy theo định hướng Chương trình Giáo dục phổ thông môn Ngữ văn.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án tiến hành tổng quan hệ thống tư liệu học thuật liên quan theo bốn trục nội dung chính:
- Nghiên cứu về hoạt động đọc và đọc hiểu văn bản:
- Định nghĩa quốc tế và trong nước: UNESCO (2003) xem đọc là khả năng nhận biết, thấu hiểu, sáng tạo và sử dụng tài liệu trong nhiều bối cảnh khác nhau. PISA (2003, 2012) và OECD xác định năng lực đọc hiểu (reading literacy) là sự hiểu biết, sử dụng và phản hồi trước văn bản viết nhằm phát triển tri thức, tiềm năng cá nhân và khả năng tham gia xã hội. Anderson & Pearson (1984) nhấn mạnh đọc hiểu là năng lực tích hợp thông tin văn bản với tri thức có trước; Durkin (1993) coi đọc hiểu là quá trình tư duy có chủ tâm để kiến tạo nghĩa.
- Quan điểm các nhà nghiên cứu Việt Nam: Nguyễn Thanh Bình (2010) xem đọc là hành động nhận thức nhằm hình thành và nắm vững ý nghĩa; Nguyễn Thanh Hùng (2008, 2014) coi bản chất đọc hiểu là quá trình lao động sáng tạo mang tính thẩm mỹ nhằm phát hiện giá trị tác phẩm qua đặc trưng văn bản, đồng thời phân chia người đọc thành ba nhóm (người đọc thực tế/phổ biến, người đọc tinh hoa/phát triển, bạn đọc - học sinh trong nhà trường); Nguyễn Thái Hòa (2004) nhấn mạnh đọc hiểu là yêu cầu giải mã thông tin thời hiện đại; Đỗ Ngọc Thống (2009, 2017) xác định đọc hiểu là quá trình giải mã, thấu hiểu, phản hồi, kiến tạo nghĩa từ ký hiệu vật chất; Phạm Thị Thu Hương (2012, 2018) đề xuất hệ thống 10 chiến thuật đọc hiểu; Hoàng Hòa Bình (2014) và Nguyễn Trọng Hoàn (2004, 2019) khẳng định bản chất chuyển mã từ tín hiệu ngôn ngữ sang hình tượng và biểu tượng cảm xúc; Trần Đình Sử (2004) xem đọc hiểu là sự giải phóng tri thức thông qua phản ứng với hình thức ngôn ngữ; Đỗ Huy Quang (2009) tiếp cận đọc hiểu từ hoạt động học của học sinh; Trịnh Thị Lan (2017) phân tích đọc hiểu qua 3 hành động kế tiếp (nhận diện ngôn ngữ, làm rõ nghĩa, hồi đáp); Nguyễn Thị Hồng Nam và Dương Thị Hồng Hiếu (2017) chỉ ra 5 đặc điểm của hoạt động đọc (sự tương tác hai chiều, quá trình tiếp diễn, giải mã và kiến tạo nghĩa, khơi gợi kiến thức nền, chịu sự chi phối của bối cảnh xã hội).
- Nghiên cứu về năng lực và phát triển năng lực đọc hiểu trong môn Ngữ văn:
- Quan niệm về năng lực: Denyse Tremblay (2002), DeSeCo (2002), Chương trình Quesber (2001), Trần Trọng Thủy và Nguyễn Quang Uẩn (1998), Mạc Văn Trang (2016), Đặng Thành Hưng (2012) đều xem năng lực là tổ hợp thuộc tính tâm lý, khả năng huy động kiến thức, kỹ năng, thái độ để thực hiện thành công hoạt động.
- Năng lực Ngữ văn: Đỗ Ngọc Thống (2011) xác định gồm năng lực tiếp nhận và tạo lập văn bản; Nguyễn Thị Hạnh (2013, 2014) phân định hai năng lực chuyên biệt là làm chủ tiếng Việt và năng lực văn học; Lê Ngọc Trà (2017) phân tích lịch sử dạy văn qua các thời kỳ (từ bình giảng lấy người thầy làm trung tâm, giảng văn nhấn mạnh tri thức tác phẩm, đến đọc hiểu lấy người học làm trung tâm) và xác định năng lực văn học gồm năng lực nhìn, năng lực nghĩ, năng lực cảm; Đoàn Thị Thanh Huyền (2017) nghiên cứu phát triển năng lực cho học sinh phổ thông; Nguyễn Lộc và cộng sự (2015) xác lập 5 mức độ phát triển năng lực đọc hiểu.
- Nghiên cứu về đọc thẩm mĩ và giáo dục thẩm mĩ:
- Nghiên cứu quốc tế: Louise Michelle Rosenblatt (1938, 1963, 1978) đặt nền móng với Lý thuyết thâm nhập/giao thoa (Transactional Theory of Reading), phân biệt rạch ròi giữa đọc trừu xuất (efferent reading - tập trung vào thông tin thu nhận mang đi) và đọc thẩm mĩ (aesthetic reading - tập trung vào trải nghiệm sống với tác phẩm trong sự kiện đọc thực tế); Kim L. Alayne Sullivan (2013) cụ thể hóa khung phân tích đọc thẩm mĩ từ lý thuyết của Rosenblatt; Langer (1992) phân loại hai mục đích đọc (lấy thông tin và trải nghiệm thưởng thức).
- Nghiên cứu trong nước: Đỗ Xuân Hà (1997) nghiên cứu về giáo dục thẩm mĩ; Phan Trọng Luận (1978, 1983, 1998) nhấn mạnh nội dung tình cảm thẩm mĩ trong tiếp nhận văn học; Nguyễn Thị Hồng Vân (2017) mô tả cấu trúc năng lực thẩm mĩ gồm 4 thành tố và đường phát triển 5 mức độ trong môn Ngữ văn; Trần Quốc Khả (2017) phân tích lập trường đọc trừu xuất và đọc thẩm mĩ.
Khoảng trống học thuật: Luận án định vị nghiên cứu vào khoảng trống còn bỏ ngỏ khi các nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung vào kỹ thuật đọc hiểu thông tin chung hoặc các khái niệm lý luận tiếp nhận rời rạc, chưa có một công trình nào tích hợp hoàn chỉnh lý thuyết đọc thẩm mĩ vào quy trình dạy học thể loại thơ trữ tình tại trường THPT Việt Nam.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án xây dựng nền tảng nghiên cứu dựa trên các lý thuyết và khái niệm khoa học chuẩn xác:
- Hệ thống lý thuyết nền tảng:
- Lý thuyết giao thoa hồi ứng (Transactional Theory of Reading): Khởi xướng bởi L. Rosenblatt, xem quá trình đọc là sự giao thoa (transaction) - mối quan hệ hữu cơ tương hỗ, hòa quyện giữa người đọc và văn bản, chứ không phải là sự tương tác cơ học (interaction) giữa hai thực thể độc lập. Nhờ đọc thẩm mĩ, văn bản trở thành tác phẩm văn học sống động và người đọc được biến đổi thế giới tinh thần.
- Lý thuyết tiếp nhận văn học: Xem học sinh là chủ thể tiếp nhận tích cực, là "bạn đọc sáng tạo" tham gia lấp đầy những "khoảng trống", cấu trúc mời gọi của tác phẩm văn chương.
- Các khái niệm công cụ:
- Thẩm mĩ và Cảm xúc thẩm mĩ: Thẩm mĩ là khả năng cảm thụ, hiểu biết về cái đẹp và các phạm trù liên quan (cái cao cả, cái bi, cái hài, cái chân, cái thiện). Cảm xúc thẩm mĩ là trạng thái rung động trực tiếp của con người trước hiện tượng thẩm mĩ khách quan trong đời sống và nghệ thuật.
- Năng lực thẩm mĩ trong môn Ngữ văn: Theo Chương trình GDPT 2018 và nghiên cứu của Nguyễn Thị Hồng Vân, năng lực thẩm mĩ gồm: nhận thức các yếu tố thẩm mĩ, phân tích đánh giá, tái hiện sáng tạo. Đường phát triển gồm 5 mức độ: 1) Nhận diện các yếu tố thẩm mĩ; 2) Bày tỏ tình cảm thẩm mĩ; 3) Khái quát giá trị thẩm mĩ; 4) Làm chủ, lan tỏa cảm xúc thẩm mĩ; 5) Khám phá, sáng tạo thẩm mĩ.
- Phân biệt Đọc thẩm mĩ và Đọc trừu xuất: Luận án kế thừa cách dịch thuật ngữ của Lê Ngọc Trà để đối chiếu hai lập trường đọc:
- Đọc trừu xuất (Efferent reading): Tập trung vào khách thể (văn bản), hướng tới thu nhận dữ kiện, thông tin, nghĩa bề mặt để sử dụng cho mục đích thực tế.
- Đọc thẩm mĩ (Aesthetic reading): Tập trung vào chủ thể (người đọc), hướng tới trải nghiệm cảm xúc, thái độ, sự rung động trong suốt quá trình đọc, nhận diện thế giới tâm hồn của tha nhân và bản ngã.
| Tiêu chí phân tích mô tả |
Cơ sở lý thuyết từ L. Rosenblatt |
Lời nhắc về phản hồi của người đọc (Kim L. Alayne Sullivan) |
| Người đọc chủ động tham gia trải nghiệm |
Hoạt tính cao; tâm điểm chú ý của người đọc; người đọc phản hồi; tập trung vào trải nghiệm thực tế mà bản thân trải nghiệm; tham gia từng thời điểm. |
- Điều gì khiến tôi chú ý tới? - Cảm xúc của tôi là gì? - Cảm nhận của tôi như thế nào? |
| Tầm quan trọng của kinh nghiệm cá nhân |
Phản ứng cảm xúc; chủ động rút kinh nghiệm từ quá khứ và nêu ý nghĩa từ ký hiệu mã hóa; ý thức cá nhân làm trung gian giữa biểu tượng và điều ám chỉ. |
- Quan điểm của tôi như thế nào? - Đâu là điều mà văn bản đang "khuấy động"? - Tôi thích các nhân vật như thế nào? |
| Phạm vi cảm xúc và ý tưởng |
Chú ý tới mối liên kết, cảm xúc, quan điểm, ý tưởng do từ ngữ khơi gợi; cảm nhận, tưởng tượng, suy nghĩ; các từ mang tính "khuấy động" thị giác, thính giác, tư duy. |
- Tôi khác các nhân vật như thế nào? - Đâu là mối liên kết giữa bản thân tôi và văn bản? |
| Cấu trúc phản hồi ban đầu |
Giao thoa giữa bản thân và văn bản; hợp nhất giữa suy nghĩ và cảm xúc, giữa nhận thức và tình cảm; sống trọn vẹn thông qua sự hòa hợp với văn bản. |
Phản hồi trực tiếp trải nghiệm sống với các hình tượng trong văn bản. |
- Phương pháp nghiên cứu: Luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu định tính giáo dục học bao gồm:
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Thu thập, phân tích, tổng hợp, so sánh và hệ thống hóa các tài liệu khoa học về lý thuyết đọc hiểu, lý thuyết giao thoa, lý thuyết tiếp nhận.
- Phương pháp phân tích văn bản: Phân tích đặc trưng thể loại thơ trữ tình và cấu trúc ngôn từ nghệ thuật.
- Phương pháp khảo sát thực tiễn: Khảo sát chương trình, sách giáo khoa và thực trạng dạy học thơ trữ tình ở trường THPT.
- Nguồn dữ liệu: Văn bản chương trình giáo dục môn Ngữ văn các giai đoạn (đặc biệt là Chương trình 2018), sách giáo khoa, sách giáo viên, các công trình chuyên khảo, bài báo khoa học trong nước và quốc tế.
Nội dung chính theo từng chương
Căn cứ vào nội dung thể hiện trong văn bản, luận án triển khai cấu trúc nghiên cứu với các trọng tâm:
Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc dạy học đọc thẩm mĩ thơ trữ tình ở trường THPT
Chương này tập trung xác lập hệ thống cơ sở khoa học và khảo sát thực trạng:
- Xác lập hệ thống khái niệm: Luận giải các khái niệm then chốt như hoạt động đọc, bản chất giải mã của đọc hiểu, phân loại người đọc (người đọc thực tế, người đọc tinh hoa, bạn đọc - học sinh), cấu trúc và đường phát triển năng lực thẩm mỹ.
- Đặc thù thể loại thơ trữ tình: Khẳng định thơ trữ tình là tiếng nói tình cảm từ trái tim đến trái tim, mang tính thẩm mỹ và cô đọng cao, tạo hiệu ứng đồng cảm, nói hộ tâm tư người đọc bằng nghệ thuật ngôn từ; do đó tiếp cận thơ trữ tình bắt buộc phải thông qua đọc thẩm mĩ chứ không thể dừng lại ở đọc trừu xuất.
- Khái quát 5 đặc điểm của hoạt động đọc: 1) Tương tác hai chiều giữa văn bản và người đọc; 2) Quá trình tư duy tiếp diễn liên tục; 3) Giải mã và kiến tạo nghĩa; 4) Khơi gợi và huy động kiến thức nền; 5) Chịu sự chi phối sâu sắc của bối cảnh xã hội (bối cảnh sáng tác và bối cảnh tiếp nhận).
- Thực trạng dạy học: Phân tích thực tế dạy học Ngữ văn ở trường THPT còn nặng về lối dạy áp đặt kiến thức, thuyết giảng một chiều, tập trung khai thác nội dung thông tin bề mặt (đọc trừu xuất), chưa chú trọng đến quá trình thâm nhập/giao thoa (transaction) và hồi đáp (response) của học sinh, làm triệt tiêu chất văn và tính thẩm mỹ của giờ học.
Các biện pháp tổ chức dạy học đọc thẩm mĩ thơ trữ tình ở trường THPT
Dựa trên mục tiêu nghiên cứu đã công bố, phần này tập trung giải quyết mục tiêu thực tiễn của luận án:
- Xây dựng quy trình và nguyên tắc hướng dẫn học sinh đọc thẩm mĩ thơ trữ tình, chuyển đổi từ vai trò giáo viên truyền thụ sang người tổ chức các hoạt động trải nghiệm văn học.
- Đề xuất hệ thống biện pháp kích hoạt cảm xúc thẩm mỹ, huy động vốn sống, kết nối kinh nghiệm cá nhân của học sinh với thế giới hình tượng thơ.
- Thiết kế các câu hỏi gợi mở, bài tập hồi đáp nhằm khơi dậy sự rung động, liên tưởng, tưởng tượng, giúp học sinh kiến tạo nghĩa và nhận ra chính bản thân mình (bản ngã) qua việc thấu hiểu thế giới tâm hồn của tác giả/nhân vật trữ tình (tha nhân).
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án tự xác định các đóng góp khoa học chủ yếu:
- Đóng góp về mặt lý luận:
- Hệ thống hóa và làm sáng tỏ cơ sở lý luận về đọc thẩm mĩ trong dạy học môn Ngữ văn cấp THPT, gắn kết chặt chẽ Lý thuyết giao thoa của L. Rosenblatt và Lý thuyết tiếp nhận văn học với mục tiêu phát triển phẩm chất, năng lực của Chương trình Giáo dục phổ thông 2018.
- Làm rõ bản chất của đọc thẩm mĩ là quá trình giao thoa (transaction) hai chiều, phân biệt rạch ròi với đọc trừu xuất (efferent reading); xác lập mối quan hệ biện chứng giữa năng lực đọc hiểu, năng lực văn học và năng lực thẩm mỹ.
- Khẳng định tính đặc thù và sự tương thích tuyệt đối giữa phương thức đọc thẩm mĩ với thể loại thơ trữ tình trong nhà trường phổ thông.
- Đóng góp về mặt thực tiễn:
- Chỉ ra những bất cập, hạn chế mang tính hệ thống của cách dạy học tiếp cận nội dung và đọc trừu xuất truyền thống ở trường THPT.
- Đề xuất hệ thống biện pháp tổ chức dạy học đọc thẩm mĩ thơ trữ tình có tính khả thi, giúp giáo viên đổi mới phương pháp giảng dạy, khắc phục tình trạng áp đặt tri thức, biến giờ học Ngữ văn thành môi trường trải nghiệm thẩm mỹ thực thụ.
- Góp phần giúp học sinh hình thành thói quen đọc tích cực, biết rung động trước cái đẹp, bồi dưỡng tâm hồn nhân ái, lòng trắc ẩn và phát triển nhân cách toàn diện.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu chuyên sâu vào thể loại thơ trữ tình trong chương trình môn Ngữ văn cấp Trung học phổ thông; ngữ liệu khảo sát và các thực nghiệm phương pháp chưa bao quát toàn bộ các thể loại văn học khác (như tự sự, kịch, ký) hoặc các cấp học khác trong hệ thống giáo dục phổ thông.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu quy trình và biện pháp tổ chức đọc thẩm mĩ cho các thể loại văn học đa dạng khác; tiếp tục nghiên cứu xây dựng tiêu chí và công cụ đánh giá chuẩn xác năng lực thẩm mĩ, cảm xúc thẩm mĩ của học sinh trong các giờ đọc hiểu tác phẩm văn học.
Giá trị tham khảo
Luận án có giá trị ứng dụng và tham khảo rõ rệt cho các nhóm đối tượng:
- Cán bộ nghiên cứu, nghiên cứu sinh, học viên cao học: Sử dụng làm tài liệu tham khảo chuyên sâu về lý luận dạy học Ngữ văn, lý thuyết giao thoa hồi ứng (L. Rosenblatt) và lý thuyết tiếp nhận văn học trong giáo dục.
- Giảng viên các trường đại học, cao đẳng sư phạm: Vận dụng làm tài liệu giảng dạy học phần Phương pháp dạy học Ngữ văn, rèn luyện kỹ năng sư phạm cho sinh viên ngành Sư phạm Ngữ văn.
- Giáo viên Ngữ văn trường THPT: Tham khảo khung phân tích và hệ thống biện pháp sư phạm để trực tiếp thiết kế kế hoạch bài dạy đọc hiểu thơ trữ tình theo định hướng phát triển năng lực và phẩm chất học sinh.
- Các nhà phát triển chương trình và biên soạn sách giáo khoa: Sử dụng cơ sở lý thuyết và các chỉ số đường phát triển năng lực thẩm mĩ để xây dựng hệ thống câu hỏi, bài tập đọc hiểu trong tài liệu học tập.
Câu hỏi thường gặp
-
Sự khác biệt căn bản giữa "đọc thẩm mĩ" và "đọc trừu xuất" theo luận án là gì?
Đọc trừu xuất (efferent reading) hướng về khách thể (văn bản), tập trung thu nhận thông tin, sự kiện, tri thức mang đi để áp dụng thực tế. Ngược lại, đọc thẩm mĩ (aesthetic reading) hướng về chủ thể (người đọc), tập trung vào xúc cảm, thái độ, sự rung động và trải nghiệm sống với tác phẩm diễn ra trong suốt quá trình đọc.
-
Bản chất của mối quan hệ "giao thoa" (Transaction) giữa người đọc và văn bản là gì?
Theo L. Rosenblatt và luận án, giao thoa không phải là sự tương tác (interaction) cơ học giữa hai thực thể độc lập tách rời, mà là mối quan hệ tương hỗ, cùng quy định và xuyên thấm lẫn nhau. Thông qua hành động đọc, văn bản trên trang sách chuyển hóa thành tác phẩm nghệ thuật, đồng thời đời sống tâm hồn và phẩm chất của người đọc được bồi đắp, biến đổi.
-
Theo tác giả Nguyễn Thị Hồng Vân, đường phát triển năng lực thẩm mĩ trong môn Ngữ văn gồm những mức độ nào?
Gồm 5 mức độ kế tiếp: 1) Nhận diện các yếu tố thẩm mĩ; 2) Bày tỏ tình cảm thẩm mĩ; 3) Khái quát giá trị thẩm mĩ; 4) Làm chủ, lan tỏa cảm xúc thẩm mĩ; 5) Khám phá, sáng tạo thẩm mĩ.
-
Vì sao đọc thẩm mĩ lại đặc biệt phù hợp với thể loại thơ trữ tình?
Bởi vì thơ trữ tình là tiếng nói tình cảm trực tiếp từ trái tim người viết hướng tới trái tim người đọc, mang tính cô đọng và thẩm mỹ cao bằng nghệ thuật ngôn từ. Đọc thơ trữ tình đòi hỏi sự đồng cảm, rung động, thưởng thức và chiêm nghiệm tâm hồn chứ không thể chỉ dừng lại ở việc tiếp nhận thông tin ngữ nghĩa thuần túy.
-
Theo Nguyễn Thanh Hùng, người đọc trong nhà trường (bạn đọc - học sinh) có đặc điểm gì?
Bạn đọc - học sinh là lớp độc giả được đào tạo bài bản, có hệ thống theo các chuẩn mực khắt khe của nhà trường phổ thông, tuy nhiên phần lớn chưa xác lập được mục đích đọc để tự học và trải nghiệm lâu dài suốt đời nếu không được định hướng phương pháp tiếp nhận đúng đắn.
Kết luận
Luận án tiến sĩ "Đọc thẩm mĩ trong dạy học thơ trữ tình ở trường THPT" là một công trình nghiên cứu chuyên ngành Lý luận và Phương pháp dạy học Ngữ văn mang tính hệ thống cao. Bằng việc kết hợp chặt chẽ Lý thuyết giao thoa của L. Rosenblatt với yêu cầu đổi mới giáo dục phát triển năng lực và phẩm chất theo Chương trình 2018, luận án đã xác lập vững chắc cơ sở lý luận về đọc thẩm mĩ đối với thể loại thơ trữ tình. Công trình cung cấp giải pháp phương pháp luận quan trọng giúp khắc phục tình trạng truyền thụ kiến thức áp đặt, nâng cao hiệu quả giáo dục thẩm mỹ và phát triển toàn diện nhân cách cho học sinh phổ thông.