Tổng quan luận án

Dị dạng lõm ngực bẩm sinh (pectus excavatum) là tình trạng thành ngực trước bị lõm ra sau do sự phát triển bất thường của xương ức và các sụn sườn. Đây là dạng dị tật thành ngực bẩm sinh phổ biến nhất, chiếm tỷ lệ khoảng 86% trong các bất thường bẩm sinh của lồng ngực. Tần suất ghi nhận trong y văn thế giới dao động từ 1/400 đến 1/300 trẻ sinh sống, với tỷ lệ nam giới mắc bệnh cao gấp 4 lần nữ giới. Dị tật không chỉ gây tổn thương về mặt thẩm mỹ, tạo tâm lý tự ti, mặc cảm mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến chức năng hô hấp và tuần hoàn do hiện tượng chèn ép tim, phổi.

Phẫu thuật Nuss (do Donald Nuss đề xuất từ năm 1986 và công bố kinh nghiệm 10 năm vào năm 1998) là kỹ thuật phẫu thuật xâm lấn tối thiểu đặt thanh kim loại uốn cong sau xương ức để nâng lồng ngực bị lõm. Mặc dù phẫu thuật Nuss đã được ứng dụng rộng rãi trên thế giới và tại Việt Nam, vấn đề thời điểm và độ tuổi tối ưu để chỉ định phẫu thuật vẫn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau giữa các trường phái phẫu thuật. Tại Hoa Kỳ, xu hướng phẫu thuật tập trung ở nhóm tuổi thanh thiếu niên (tuổi trung bình khoảng 14 tuổi), trong khi tại châu Á (tiêu biểu như Hàn Quốc), các tác giả khuyến cáo phẫu thuật sớm hơn (từ 3 đến 5 tuổi). Tại Việt Nam, chưa có công trình nghiên cứu hệ thống nào đánh giá toàn diện kết quả điều trị và biến chứng theo từng nhóm tuổi để xác định lứa tuổi phù hợp nhất cho can thiệp phẫu thuật.

Luận án Tiến sĩ Y học của nghiên cứu sinh Trần Thanh Vỹ, chuyên ngành Ngoại lồng ngực (Mã số: 62720124), được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Lê Nữ Thị Hòa Hiệp và TS.BS. Vũ Hữu Vĩnh tại Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh (năm 2019), nhằm giải quyết khoảng trống nghiên cứu nêu trên với 3 mục tiêu cụ thể:

  1. Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của các bệnh nhân lõm ngực và xác định tương quan giữa chỉ số Haller đo trên X quang với đo trên cắt lớp điện toán trước phẫu thuật.
  2. So sánh kết quả sau đặt thanh, kết quả sau rút thanh và biến chứng sau phẫu thuật Nuss ở 5 nhóm tuổi: 2–5 tuổi, 6–11 tuổi, 12–15 tuổi, 16–18 tuổi và trên 18 tuổi.
  3. Xác định độ tuổi thích hợp để chỉ định phẫu thuật Nuss.
  • Đối tượng nghiên cứu: 719 bệnh nhân dị tật lõm ngực bẩm sinh được phẫu thuật đặt thanh và rút thanh nâng ngực theo phương pháp Nuss.
  • Phạm vi không gian và thời gian: Nghiên cứu được thực hiện tại Bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn từ tháng 3/2008 đến tháng 12/2016.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Dị dạng lõm ngực bẩm sinh đã được ghi nhận trong y văn từ thế kỷ 16 qua các mô tả của Johan Schenck (1531–1590) và Bauhinus (1594). Năm 1820, Coulson lần đầu tiên ghi nhận yếu tố gia đình của dị tật. Về điều trị ngoại khoa, lịch sử phát triển trải qua nhiều giai đoạn:

  • Giai đoạn 1911–1920: Phẫu thuật cắt bỏ thành ngực trước do Sauerbruch thực hiện, nhược điểm là gây hô hấp đảo nghịch, mất bảo vệ tim và thẩm mỹ kém.
  • Giai đoạn 1920–1930: Kỹ thuật dùng khung kéo từ bên ngoài xương ức.
  • Giai đoạn 1940–1950: Phẫu thuật cắt sụn sườn biến dạng và mở ngang xương ức không dùng dụng cụ nâng hỗ trợ (Ravitch 1949, Welch 1958). Phương pháp này có tỷ lệ tái phát cao, mất máu nhiều, thời gian mổ kéo dài và nguy cơ teo hẹp lồng ngực thứ phát.
  • Giai đoạn từ 1950 trở đi: Sử dụng thanh kim loại nâng bên trong (Wallgren và Sulamaa 1956, Adkins và Blades 1961).
  • Năm 1986: Donald Nuss sáng tạo kỹ thuật xâm lấn tối thiểu đặt thanh uốn cong qua nội soi lồng ngực mà không cần cắt bỏ sụn sườn hay mở xương ức. Báo cáo năm 1998 của Nuss trên 42 bệnh nhân đã mở ra kỷ nguyên mới cho phẫu thuật chỉnh hình dị dạng thành ngực.

Về vấn đề độ tuổi can thiệp phẫu thuật, các công trình quốc tế ghi nhận sự khác biệt rõ rệt:

  • Tại Hoa Kỳ: Theo tổng kết của David M. Notrica (2018), báo cáo năm 1998 của Nuss ghi nhận tuổi trung bình là 5 tuổi và không có bệnh nhân nào trên 15 tuổi. Đến năm 2009, nghiên cứu của Papandria ghi nhận tuổi trung bình tăng lên 14 tuổi, do chính sách chi trả bảo hiểm y tế tại Mỹ yêu cầu triệu chứng lâm sàng rõ rệt vốn thường bộc lộ ở tuổi dậy thì.
  • Tại Châu Á: Hyung Joo Park (Hàn Quốc, 2012) nghiên cứu trên 1571 bệnh nhân (794 ca đã rút thanh) chia thành 4 nhóm tuổi (3–5, 6–11, 12–18 và >18 tuổi), kết luận nhóm 3–5 tuổi có tỷ lệ biến chứng thấp nhất (7,6%) so với các nhóm lớn hơn (11,5%; 16,3%; 19,1%), đồng thời phẫu thuật sớm giúp hạn chế biến dạng lệch tâm và tránh tổn thương tâm lý. Soohwan Choi và Hyung Joo Park (2017) chỉ ra tỷ lệ biến chứng ở nhóm từ 10 tuổi trở lên cao gấp 3 lần nhóm dưới 10 tuổi. Hisako Kuyyama và cộng sự (Nhật Bản, 2018) chứng minh phẫu thuật trước 10 tuổi đem lại ưu thế vượt trội trong phục hồi chức năng thông khí.
  • Tại Việt Nam: Phẫu thuật Nuss được Vũ Hữu Vĩnh triển khai tại Bệnh viện Chợ Rẫy từ tháng 9/2007 và tại Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM từ tháng 3/2008. Các báo cáo sau đó tại Bệnh viện Nhi Đồng 2 (tuổi trung bình 9,5), Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Định (tuổi trung bình 10,4), Bệnh viện Việt Đức chủ yếu đánh giá tính khả thi và kết quả chung, chưa phân tích chi tiết biến chứng và hiệu quả can thiệp theo từng phân tầng lứa tuổi học đường tại Việt Nam.

Luận án của Trần Thanh Vỹ đã lựa chọn giải quyết khoảng trống này thông qua một mẫu nghiên cứu lớn gồm 719 ca có đầy đủ dữ liệu theo dõi dọc từ khi đặt thanh đến khi rút thanh, phân chia thành 5 nhóm tuổi phản ánh các giai đoạn phát triển thể chất và tâm lý của trẻ em Việt Nam.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và các chỉ số đánh giá

Luận án dựa trên cơ sở phôi thai học lồng ngực (quá trình hình thành sụn sườn và dính hai bản xương ức từ tuần thứ 4 đến tuần thứ 10 của thai kỳ), giải phẫu thành ngực và sinh lý bệnh học tim mạch - hô hấp ở bệnh nhân lõm ngực. Các chỉ số nhân trắc và chẩn đoán hình ảnh chuẩn được sử dụng bao gồm:

  1. Chỉ số Haller (Haller Index - HI):
    • Trên cắt lớp điện toán (CLĐT): Tỷ lệ giữa đường kính ngang lớn nhất bên trong lồng ngực ($T$) và khoảng cách ngắn nhất từ mặt sau xương ức đến bờ trước thân đốt sống ($A$) tại lát cắt lõm sâu nhất: $$\text{HI} = \frac{T}{A}$$
    • Phân loại độ nặng trước phẫu thuật:
      • Nhẹ: $\text{HI} < 3,2$
      • Trung bình: $3,2 \le \text{HI} \le 3,5$
      • Nặng: $3,6 \le \text{HI} \le 6,0$
      • Rất nặng: $\text{HI} > 6,0$
    • Trên X quang ngực: Tỷ lệ giữa đường kính ngang lớn nhất trên phim thẳng ($A$) và khoảng cách trước - sau từ điểm lõm nhất xương ức đến bờ trước thân đốt sống tương ứng trên phim nghiêng ($B$): $\text{HI}_{\text{XQ}} = A/B$.
  2. Tiêu chuẩn đánh giá kết quả điều trị sau đặt thanh và sau rút thanh (theo Goretsky và Nuss):
    • Kết quả tốt: $\text{HI} \le 2,5$
    • Kết quả khá: $2,5 < \text{HI} < 3,25$
    • Kết quả kém: $\text{HI} \ge 3,25$
  3. Các thông số hình thái khác trên CLĐT:
    • Chỉ số mất cân xứng lồng ngực: Tỷ lệ giữa đường kính trước - sau bên lõm hơn và bên đối diện ($R/T$).
    • Chỉ số đốt sống ngực thấp: Tỷ lệ giữa đường kính trước - sau thân sống ($v$) và tổng khoảng cách từ xương ức tới bờ trước thân sống ($v/(c+c)$).
    • Góc xoay xương ức: Góc $\alpha$ giữa đường tiếp tuyến với xương ức và đường ngang (xoay nhẹ: $0^\circ - 30^\circ$; xoay nhiều: $>30^\circ$).

Thiết kế và phương pháp nghiên cứu

  • Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu đoàn hệ hồi cứu (retrospective cohort study).
  • Phương pháp chọn mẫu: Chọn mẫu toàn bộ. Trong tổng số 1002 bệnh nhân được phẫu thuật Nuss tại Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM từ tháng 3/2008 đến tháng 12/2016, chọn 719 bệnh nhân đáp ứng tiêu chuẩn.
  • Tiêu chuẩn lựa chọn:
    • Bệnh nhân dị tật lõm ngực bẩm sinh được phẫu thuật Nuss tại bệnh viện.
    • Có đầy đủ hồ sơ theo dõi cả hai giai đoạn: phẫu thuật đặt thanh và phẫu thuật rút thanh.
  • Tiêu chuẩn loại trừ:
    • Không chụp CLĐT ngực trước mổ.
    • Đã từng phẫu thuật điều trị lõm ngực trước đây.
    • Lõm ngực mắc phải do chấn thương.
    • Lõm ngực kèm khe hở xương ức.
    • Bệnh nhân mắc hội chứng Poland.
Nhóm tuổi Độ tuổi (năm) Số lượng bệnh nhân ($n$) Tỷ lệ (%)
Nhóm 1 2 – 5 tuổi 132 18,36%
Nhóm 2 6 – 11 tuổi 153 21,28%
Nhóm 3 12 – 15 tuổi 191 26,56%
Nhóm 4 16 – 18 tuổi 155 21,56%
Nhóm 5 > 18 tuổi 88 12,24%
Tổng cộng 719 100%
  • Quy trình thu thập và xử lý dữ liệu:
    • Tiền phẫu: Khám lâm sàng, nhân trắc học (chiều cao, cân nặng, BMI), X quang ngực thẳng/nghiêng, CLĐT ngực không cản quang, điện tâm đồ, siêu âm tim, chức năng hô hấp (FEV1, FVC, FEV1/FVC, MVV).
    • Phẫu thuật đặt thanh: Bộ dụng cụ Walter Lorenz, gây mê nội khí quản kết hợp giảm đau ngoài màng cứng, tư thế nằm ngửa dạng tay $70^\circ$, kỹ thuật khâu treo xương ức, đo và uốn thanh, luồn thanh qua trung thất trước dưới hướng dẫn nội soi/dụng cụ dẫn đường, cố định thanh vào xương sườn bằng chỉ thép/bộ cố định, đuổi khí khoang màng phổi hoặc đặt dẫn lưu.
    • Theo dõi và rút thanh: Rút thanh sau 2 năm (nhóm <12 tuổi) hoặc sau 3 năm (nhóm $\ge 12$ tuổi); phẫu thuật bộc lộ hai đầu thanh, cắt chỉ thép, duỗi thẳng thanh và rút bỏ.
    • Xử lý số liệu: Phân tích đơn biến và đa biến, kiểm định tương quan giữa $\text{HI}{\text{XQ}}$ và $\text{HI}{\text{CLĐT}}$ bằng hệ số tương quan với độ tin cậy 95% (KTC 95%).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

Chương 1 hệ thống hóa toàn diện các kiến thức nền tảng về lồng ngực và dị dạng lõm ngực bẩm sinh:

  • Giải phẫu học và phôi thai học lồng ngực: Mô tả cấu trúc khung xương (xương ức gồm cán, thân, mũi kiếm; 12 đôi xương sườn và sụn sườn), hệ thống mạch máu (động mạch ngực trong, động mạch gian sườn) và thần kinh gian sườn. Trình bày chi tiết quá trình phát triển phôi thai từ tuần thứ 4 đến tuần thứ 10, trong đó hai dải trung mô xương ức sáp nhập theo chiều từ trên xuống dưới.
  • Các dị dạng thành ngực liên quan: Phân tích đặc điểm dị dạng cột sống, bất thường xương sườn, hội chứng Poland (bất sản cơ ngực lớn kết hợp dị tật bàn tay), hở xương ức (6 phân nhóm hình thái) và ngực ức gà (pectus carinatum).
  • Dị tật lõm ngực bẩm sinh: Dịch tễ học, các giả thuyết bệnh sinh (sự phát triển quá mức của sụn sườn đẩy xương ức ra sau), mối liên quan với các bệnh lý mô liên kết (hội chứng Marfan, Ehlers-Danlos). Diễn tiến tự nhiên của bệnh không tự khỏi, có xu hướng nặng lên rõ rệt trong giai đoạn dậy thì khi khung sườn cốt hóa nhanh.
  • Biểu hiện lâm sàng và cận lâm sàng:
    • Lâm sàng: Mệt mỏi, đau ngực, khó thở khi gắng sức, nhiễm trùng hô hấp tái diễn; biến đổi tâm lý (mặc cảm, tự ti, cô lập xã hội, trầm cảm ở lứa tuổi dậy thì).
    • Cận lâm sàng: Thay đổi điện tâm đồ (lệch trục phải, ST chênh xuống, rối loạn nhịp, block nhánh phải, hội chứng Wolff-Parkinson-White), siêu âm tim (chèn ép thất phải, sa van hai lá), rối loạn thông khí trên phế dung ký (giảm FVC, FEV1, MVV), hình ảnh học (X quang và chụp cắt lớp điện toán đo chỉ số Haller).
  • Kỹ thuật phẫu thuật Nuss và các cải tiến: Quy trình phẫu thuật chuẩn từ khâu chuẩn bị dụng cụ (Walter Lorenz), tư thế bệnh nhân, vị trí rạch da nếp vú, kỹ thuật nội soi hỗ trợ, kỹ thuật treo xương ức giảm áp, tạo đường hầm qua trung thất trước, uốn thanh, cố định thanh (kỹ thuật cố định nhiều điểm bằng chỉ thép) và kỹ thuật rút thanh kim loại sau 2–3 năm lưu giữ.

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Chương 2 mô tả chi tiết phương pháp luận của đề tài:

  • Cỡ mẫu và chọn mẫu: Phân tích sơ đồ sàng lọc từ 1002 ca phẫu thuật Nuss để chọn 719 ca đủ tiêu chuẩn nghiên cứu đoàn hệ hồi cứu (có đầy đủ dữ liệu đặt thanh và rút thanh tại Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM).
  • Phân nhóm nghiên cứu: 719 bệnh nhân được phân định thành 5 nhóm tuổi tương ứng với các bậc học: Mầm non (2–5 tuổi, $n=132$), Tiểu học (6–11 tuổi, $n=153$), Trung học cơ sở (12–15 tuổi, $n=191$), Trung học phổ thông (16–18 tuổi, $n=155$) và Trưởng thành (>18 tuổi, $n=88$).
  • Xây dựng bộ biến số nghiên cứu:
    • Nhóm biến số chung và lâm sàng trước mổ: Tuổi, giới tính, BMI, tiền sử gia đình, thời điểm phát hiện dị tật, triệu chứng cơ năng, biến đổi tâm lý.
    • Nhóm biến số cận lâm sàng: Điện tim, siêu âm tim, chức năng hô hấp (FEV1, FVC, FEV1/FVC), chỉ số Haller trên X quang và trên CLĐT, góc xoay xương ức, chỉ số bất đối xứng.
    • Nhóm biến số phẫu thuật đặt thanh: Thời gian mổ, số lượng thanh nâng ngực (1 thanh hoặc 2 thanh), tỷ lệ đặt dẫn lưu màng phổi, phương pháp giảm đau (ngoài màng cứng, tĩnh mạch), thời gian nằm viện.
    • Nhóm biến số biến chứng: Biến chứng sớm (tràn khí màng phổi, tràn dịch/máu màng phổi, sốt, tụ dịch vết mổ, di lệch thanh sớm), biến chứng muộn (di lệch thanh muộn, nhiễm trùng thanh, dị ứng thanh/chỉ thép, tràn dịch màng ngoài tim, tái phát sau rút thanh).
    • Nhóm biến số rút thanh: Tuổi khi rút thanh, thời gian lưu thanh, thời gian phẫu thuật rút thanh, ngày nằm viện, biến chứng rút thanh.
    • Đánh giá kết quả điều trị chung: Dựa trên cải thiện lâm sàng và chỉ số Haller sau can thiệp (Tốt, Khá, Kém).
  • Đạo đức nghiên cứu: Nghiên cứu được thông qua bởi Hội đồng Đạo đức trong Nghiên cứu Y sinh học, đảm bảo bảo mật thông tin bệnh nhân.

Chương 3: KẾT QUẢ

Chương 3 trình bày các số liệu định lượng thu thập từ 719 bệnh nhân:

  • Đặc điểm chung: Nam giới chiếm ưu thế tuyệt đối ở tất cả các nhóm tuổi. Đa số trường hợp dị tật được phát hiện từ lúc mới sinh hoặc trước 1 tuổi, diễn tiến nặng dần khi bước vào lứa tuổi dậy thì. Phần lớn bệnh nhân có thể trạng gầy, chỉ số BMI trước mổ thấp (nhiều ca $\text{BMI} < 18,5$).
  • Tương quan giữa chỉ số Haller trên X quang và CLĐT:
    • Khảo sát hệ số tương quan tuyến tính giữa $\text{HI}{\text{XQ}}$ và $\text{HI}{\text{CLĐT}}$ trên từng nhóm tuổi và trên toàn bộ mẫu nghiên cứu ($N=719$).
    • Kết quả chứng minh có sự tương quan thuận rất chặt chẽ giữa hai phương pháp đo lường hình ảnh học, cho thấy X quang ngực thẳng - nghiêng có giá trị theo dõi và lượng giá tương đương CLĐT trong nhiều giai đoạn điều trị.
  • Đặc điểm phẫu thuật đặt thanh:
    • Nhóm 2–5 tuổi: Thời gian mổ ngắn nhất, 100% chỉ cần đặt 1 thanh nâng ngực do thành ngực mềm mại, tính đàn hồi cao. Tỷ lệ đặt dẫn lưu màng phổi thấp.
    • Nhóm lớn tuổi (đặc biệt nhóm 16–18 và >18 tuổi): Thời gian mổ kéo dài hơn, tỷ lệ phải đặt 2 thanh kim loại tăng cao do khung sườn đã cốt hóa cứng, diện tích lõm rộng hoặc biến dạng phức tạp/lệch tâm.
  • Biến chứng phẫu thuật:
    • Biến chứng sớm: Tỷ lệ tràn khí màng phổi và sốt sau mổ có xu hướng gia tăng rõ rệt theo nhóm tuổi. Nhóm trẻ 2–5 tuổi có tỷ lệ biến chứng chung thấp nhất.
    • Biến chứng lệch thanh: Được kiểm soát tốt nhờ áp dụng kỹ thuật cố định chỉ thép nhiều điểm, tỷ lệ lệch thanh cần can thiệp lại không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các nhóm.
  • Phẫu thuật rút thanh và kết quả sau cùng:
    • Thời gian lưu thanh trung bình: 2 năm đối với nhóm dưới 12 tuổi và 3 năm đối với nhóm từ 12 tuổi trở lên.
    • Sau khi rút thanh: Tỷ lệ đạt kết quả tốt (chỉ số $\text{HI} \le 2,5$) đạt mức cao, cải thiện rõ rệt về hình thái lồng ngực, thẩm mỹ và giải phóng chèn ép tim phổi.

Chương 4: BÀN LUẬN

Chương 4 tập trung biện luận chuyên sâu về các phát hiện nghiên cứu trong mối tương quan với y văn quốc tế:

  • Biện luận về triệu chứng lâm sàng và tâm lý: Trẻ nhỏ (2–5 tuổi) hầu như không có triệu chứng cơ năng và chưa xuất hiện mặc cảm tâm lý. Từ lứa tuổi học đường (6–11 tuổi trở lên) và đỉnh điểm là lứa tuổi dậy thì (12–18 tuổi), các triệu chứng khó thở khi gắng sức, giảm sức bền thể lực và tình trạng tự ti, mặc cảm, tránh né hoạt động tập thể tăng vọt. Do đó, can thiệp ngoại khoa trước khi trẻ nhận thức sâu sắc về dị tật đem lại lợi ích tâm lý to lớn.
  • Biện luận về tính chính xác của chẩn đoán hình ảnh: Phân tích độ tin cậy của việc đo chỉ số Haller trên phim X quang chuẩn so với chụp CLĐT. Việc chứng minh tương quan chặt chẽ cho phép giảm thiểu số lần chụp CLĐT ở bệnh nhi nhằm giảm phơi nhiễm bức xạ ion hóa và tiết kiệm chi phí y tế trong theo dõi định kỳ sau mổ.
  • Biện luận về kỹ thuật mổ và biến chứng theo độ tuổi:
    • Ở lứa tuổi 2–5 tuổi: Khung ngực đàn hồi giúp việc nâng lồng ngực dễ dàng, chỉ cần 1 thanh kim loại, ít gây đau sau mổ, thời gian phẫu thuật ngắn, tỷ lệ biến chứng chung thấp nhất.
    • Ở lứa tuổi sau dậy thì và người lớn (>18 tuổi): Thành ngực dày cứng, áp lực đè lên thanh kim loại lớn, đòi hỏi phải đặt nhiều thanh, dùng lực bẩy lớn hơn, dẫn đến tăng nguy cơ đau kéo dài, sốt hậu phẫu và tràn khí màng phổi.
  • Xác định độ tuổi thích hợp cho phẫu thuật Nuss: Luận án tổng hợp toàn diện các yếu tố giải phẫu, kỹ thuật mổ, số lượng thanh, tỷ lệ biến chứng, phục hồi chức năng và tác động tâm lý để khẳng định độ tuổi lý tưởng nhất cho can thiệp phẫu thuật Nuss tại Việt Nam.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận và khoa học

  1. Xác lập tương quan hình ảnh học: Chứng minh sự tương quan thuận chặt chẽ giữa chỉ số Haller đo trên X quang ngực thẳng - nghiêng với chỉ số Haller đo trên cắt lớp điện toán ở tất cả các nhóm tuổi. Đóng góp này cung cấp cơ sở khoa học cho việc sử dụng X quang ngực trong lượng giá định kỳ, giảm thiểu chụp CLĐT không cần thiết cho bệnh nhi.
  2. Làm rõ quy luật phát triển dị tật theo lứa tuổi: Phân tích một cách có hệ thống sự biến đổi từ hình thái thành ngực, mức độ chèn ép tim phổi, chức năng thông khí (FEV1, FVC) đến các tác động tâm lý xã hội theo 5 mốc lứa tuổi học đường tại Việt Nam.

Đóng góp về mặt thực tiễn và ngoại khoa

  1. Xác định độ tuổi tối ưu chỉ định phẫu thuật Nuss: Luận án chỉ ra nhóm tuổi 2–5 tuổi6–11 tuổi (trước tuổi dậy thì) là thời điểm can thiệp phẫu thuật thuận lợi nhất:
    • Thành ngực mềm mại, dễ uốn nắn, chỉ cần đặt 1 thanh kim loại.
    • Thời gian phẫu thuật ngắn, ít mất máu, hậu phẫu nhẹ nhàng.
    • Tỷ lệ biến chứng chung thấp hơn rõ rệt so với các nhóm lớn tuổi.
    • Giúp trẻ phát triển thể chất bình thường và xóa bỏ hoàn toàn mặc cảm tâm lý trước khi bước vào giai đoạn trưởng thành.
  2. Quy chuẩn hóa thời gian lưu thanh và kỹ thuật phẫu thuật:
    • Đưa ra khuyến cáo thực hành chuẩn: Lưu thanh 2 năm đối với bệnh nhân dưới 12 tuổi (nhằm tránh nguy cơ cản trở phát triển lồng ngực hoặc gây teo hẹp thứ phát) và 3 năm đối với bệnh nhân từ 12 tuổi trở lên (đảm bảo khung xương đủ độ vững chắc chống tái phát).
    • Khẳng định tính hiệu quả và an toàn của phương pháp cố định thanh nâng ngực bằng chỉ thép nhiều điểm, giúp triệt tiêu nguy cơ di lệch thanh ở cả trẻ nhỏ lẫn người trưởng thành.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của luận án:
    • Thiết kế nghiên cứu đoàn hệ hồi cứu tại một trung tâm phẫu thuật duy nhất (Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM).
    • Tiêu chuẩn lựa chọn bắt buộc phải có đầy đủ dữ liệu phẫu thuật rút thanh tại cùng bệnh viện đã loại trừ một số bệnh nhân thực hiện rút thanh ở các cơ sở y tế khác (mẫu nghiên cứu thu thập được 719 ca trên tổng số 1002 ca phẫu thuật ban đầu).
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo:
    • Triển khai các nghiên cứu tiến cứu đa trung tâm với cỡ mẫu mở rộng trên phạm vi toàn quốc.
    • Theo dõi dọc dài hạn chức năng tim phổi (siêu âm tim gắng sức, phế dung ký chuyên sâu) và chất lượng cuộc sống của bệnh nhân sau khi rút thanh 5–10 năm đến tuổi trưởng thành hoàn toàn.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu chuyên khảo có giá trị ứng dụng thực tiễn cao đối với:

  • Bác sĩ phẫu thuật lồng ngực và phẫu thuật nhi: Cung cấp căn cứ lâm sàng để lựa chọn thời điểm chỉ định phẫu thuật, tính toán số lượng thanh cần đặt, lựa chọn phương pháp cố định và xác định thời điểm rút thanh tối ưu.
  • Bác sĩ chuyên khoa gây mê hồi sức và nhi khoa: Tham khảo các quy trình giảm đau ngoài màng cứng, kiểm soát biến chứng chu phẫu (sốt, tràn khí màng phổi) và hướng dẫn tập vật lý trị liệu hô hấp hậu phẫu cho từng lứa tuổi.
  • Học viên sau đại học, nghiên cứu sinh chuyên ngành Ngoại khoa: Cung cấp phương pháp luận chuẩn mực trong thiết kế nghiên cứu đánh giá kỹ thuật ngoại khoa xâm lấn tối thiểu và lượng hóa các chỉ số hình thái học thành ngực.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án nghiên cứu trên bao nhiêu bệnh nhân và được phân chia thành các nhóm tuổi nào?

Nghiên cứu được thực hiện trên 719 bệnh nhân dị tật lõm ngực bẩm sinh được phẫu thuật đặt thanh và rút thanh bằng phương pháp Nuss tại Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM (giai đoạn 2008–2016). Mẫu nghiên cứu được chia thành 5 nhóm tuổi:

  • Nhóm 1: 2 đến 5 tuổi ($n = 132$)
  • Nhóm 2: 6 đến 11 tuổi ($n = 153$)
  • Nhóm 3: 12 đến 15 tuổi ($n = 191$)
  • Nhóm 4: 16 đến 18 tuổi ($n = 155$)
  • Nhóm 5: Trên 18 tuổi ($n = 88$)

2. Chỉ số Haller (Haller Index - HI) được định nghĩa và phân độ nặng như thế nào?

Chỉ số Haller trên cắt lớp điện toán là tỷ lệ giữa đường kính ngang lớn nhất bên trong lồng ngực ($T$) và đường kính trước - sau ngắn nhất từ mặt sau xương ức đến bờ trước thân đốt sống ($A$) tại lát cắt lõm sâu nhất ($\text{HI} = T/A$). Phân độ nặng trước mổ gồm:

  • Nhẹ: $\text{HI} < 3,2$
  • Trung bình: $3,2 \le \text{HI} \le 3,5$
  • Nặng: $3,6 \le \text{HI} \le 6,0$
  • Rất nặng: $\text{HI} > 6,0$

3. Thời gian lưu thanh kim loại nâng ngực được khuyến cáo là bao lâu cho từng độ tuổi?

  • Đối với bệnh nhân dưới 12 tuổi: Rút thanh sau 2 năm do lồng ngực trẻ phát triển nhanh, tránh nguy cơ cản trở phát triển khung xương và ép lõm xương sườn hai bên đầu thanh.
  • Đối với bệnh nhân từ 12 tuổi trở lên: Rút thanh sau 3 năm để đảm bảo khung xương đã cốt hóa đạt độ cứng vững ổn định, hạn chế nguy cơ tái phát.

4. Những biến chứng phẫu thuật nào thường gặp nhất được ghi nhận trong luận án?

  • Biến chứng sớm: Tràn khí màng phổi, sốt sau mổ, tụ dịch vết mổ, di lệch thanh sớm, tổn thương mạch máu hoặc màng ngoài tim.
  • Biến chứng muộn: Di lệch thanh kim loại, viêm/tràn dịch màng ngoài tim, nhiễm trùng hoặc dị ứng thanh kim loại/chỉ thép, tràn máu màng phổi và biến dạng tái phát sau rút thanh.

Kết luận

Luận án Tiến sĩ Y học của tác giả Trần Thanh Vỹ đã cung cấp những bằng chứng lâm sàng và thực nghiệm có hệ thống trên 719 bệnh nhân lõm ngực bẩm sinh được điều trị bằng phẫu thuật Nuss tại Việt Nam. Nghiên cứu đã chứng minh sự tương quan chặt chẽ giữa chỉ số Haller trên X quang và cắt lớp điện toán, đồng thời làm rõ sự khác biệt về đặc điểm kỹ thuật và tỷ lệ biến chứng giữa các lứa tuổi. Kết quả luận án khẳng định lứa tuổi trẻ nhỏ và trước dậy thì (từ 2 đến 11 tuổi) là thời điểm phù hợp và thuận lợi nhất để chỉ định phẫu thuật Nuss, mang lại kết quả chỉnh hình tối ưu, tỷ lệ biến chứng thấp và ngăn ngừa các di chứng tâm lý lâu dài cho người bệnh.