Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Quá trình đô thị hóa là xu thế phát triển khách quan và đóng vai trò trọng yếu đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của mọi quốc gia, đặc biệt tại khu vực châu Á. Tại Việt Nam, từ khi bước vào công cuộc đổi mới và đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, mạng lưới đô thị đã chuyển mình mạnh mẽ sau giai đoạn dài phát triển chậm do hậu quả của chiến tranh. Sự chuyển biến này được thúc đẩy rõ nét qua các chủ trương và văn bản pháp quy quan trọng như Quyết định số 10/1998/QĐ-TTg về Chiến lược phát triển và xây dựng hệ thống đô thị Việt Nam đến năm 2020, Luật Doanh nghiệp năm 2000, Luật Đất đai năm 2003, và Luật Đầu tư năm 2005. Các chính sách này đã trực tiếp thu hút các nguồn vốn đầu tư trong nước và quốc tế, hình thành hàng loạt khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu đô thị mới và khu đô thị vệ tinh, đồng thời cải thiện kết cấu hạ tầng ở cả thành thị và nông thôn.
Tuy nhiên, quá trình phát triển nhanh chóng này cũng nảy sinh nhiều tác động phức tạp, đặc biệt là việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp, tác động đến việc làm và đời sống của người nông dân vùng ven đô. Xuất phát từ bối cảnh thực tiễn trên, tác giả Trần Trọng Thông đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp đại học chuyên ngành Lịch sử Việt Nam với đề tài: "Đô thị hóa ở Việt Nam từ năm 1989 đến năm 2009".
Khóa luận xác định các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể bao gồm:
- Tập trung phản ánh những nhân tố tác động đến quá trình đô thị hóa ở Việt Nam: làm rõ khái niệm, đặc điểm của đô thị hóa; khái quát thực trạng đất nước trước năm 1989; phân tích, đánh giá các nhân tố kinh tế - xã hội và chủ trương của Đảng tác động đến đô thị hóa giai đoạn 1989 – 2009.
- Phân tích quá trình phát triển hệ thống đô thị và mở rộng không gian đô thị ở phạm vi toàn quốc, đi sâu vào hai trung tâm lớn là thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, qua đó làm rõ tốc độ đô thị hóa và vai trò của hai cực tăng trưởng này đối với nền kinh tế.
- Bước đầu đánh giá những tác động đa chiều của quá trình đô thị hóa đối với các vấn đề kinh tế - xã hội của đất nước trong giai đoạn 1989 – 2009, đặc biệt là đối với khu vực ven đô và cơ cấu dân số.
- Đối tượng nghiên cứu: Quá trình "đô thị hóa" tại Việt Nam trong giai đoạn từ năm 1989 đến năm 2009.
- Phạm vi không gian: Không gian lãnh thổ Việt Nam trên phạm vi cả nước, trong đó tập trung phân tích sâu hai đô thị đặc biệt là Thủ đô Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh.
- Phạm vi thời gian: Tập trung vào giai đoạn từ năm 1989 (thời điểm tiến hành Tổng điều tra dân số và nhà ở thời kỳ đầu Đổi mới) đến năm 2009 (mốc Tổng điều tra dân số và nhà ở đánh dấu 20 năm phát triển đô thị thời kỳ Đổi mới).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận tiếp cận khái niệm đô thị hóa từ nhiều góc độ chuyên ngành:
- Góc độ nhân khẩu học và địa lý kinh tế vĩ mô: Đô thị hóa là sự di cư từ nông thôn tới đô thị, sự tập trung cư dân sinh sống trong một vùng lãnh thổ và được đo lường bằng tỷ lệ dân số thành thị trên tổng dân số.
- Góc độ xã hội học: Đô thị hóa là quá trình tổ chức lại môi trường cư trú của con người, làm chuyển hóa các khuôn mẫu đời sống kinh tế - xã hội và phổ biến lối sống đô thị tới các vùng nông thôn.
- Góc độ địa lý: Đô thị hóa đồng nghĩa với sự gia tăng không gian, mật độ dân cư, hoạt động thương mại và phi nông nghiệp theo thời gian.
Cơ sở lý luận của công trình dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm chỉ đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam về nghiên cứu lịch sử.
Phương pháp nghiên cứu chính được áp dụng là sự kết hợp giữa:
- Phương pháp lịch sử: Tái hiện tiến trình vận động, phát triển của hệ thống đô thị Việt Nam theo trình tự thời gian từ trước năm 1989 đến năm 2009.
- Phương pháp lô-gíc: Phân tích, khái quát hóa mối quan hệ nhân quả giữa chủ trương chính sách, tăng trưởng kinh tế và sự biến đổi không gian, cấu trúc xã hội đô thị.
- Các phương pháp bổ trợ: Phương pháp sưu tầm và xử lý tư liệu, phương pháp đối chiếu - so sánh số liệu thống kê, phương pháp liên ngành (lịch sử, kinh tế, địa lý học, xã hội học) và phương pháp tổng hợp.
Nguồn dữ liệu sử dụng trong khóa luận gồm:
- Nguồn tư liệu gốc và số liệu thống kê: Niên giám thống kê của Tổng cục Thống kê các năm 1989, 1992, 1995, 2000, 2006, 2009; số liệu từ các cuộc Tổng điều tra dân số và nhà ở các năm 1989 (mẫu 3%), năm 1999 (mẫu 5%) và năm 2009 (mẫu 10%); Chuyên khảo Di cư và đô thị hóa ở Việt Nam (Tổng cục Thống kê, 2011).
- Văn kiện và văn bản pháp quy: Các Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc (từ Đại hội VI năm 1986 đến Đại hội XI năm 2011); các nghị quyết, sắc lệnh, luật và nghị định của Nhà nước (Sắc lệnh 77 năm 1945, Chỉ thị 19/CP năm 1991, Luật Đất đai 1993 và 2003, Luật Xây dựng 2003, Luật Quy hoạch đô thị 2009, Nghị định 42/2009/NĐ-CP, Nghị quyết 15/2008/QH12...).
- Các công trình nghiên cứu đã công bố: Sách chuyên khảo, bài báo khoa học trên các tạp chí chuyên ngành của các học giả (như GS.NGND. Nguyễn Quang Ngọc, PGS.TS. Hoàng Bá Thịnh...).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Những yếu tố tác động đến đô thị hóa Việt Nam trong những năm 1989 – 2009
Chương 1 làm rõ khái niệm, tính tất yếu của đô thị hóa và phục dựng bức tranh lịch sử đô thị Việt Nam qua các thời kỳ trước năm 1989, đồng thời phân tích các chủ trương của Đảng định hướng cho quá trình này.
- Tiến trình lịch sử đô thị trước năm 1989:
- Thời kỳ phong kiến (thế kỷ XVII - XVIII): Thăng Long có sự biến đổi lớn khi hình thành khu Vương Phủ của chúa Trịnh đan xen với các khu phố chợ dân sự, sự nới lỏng quản lý thương nghiệp thúc đẩy kinh tế hàng hóa, hệ thống làng phố và phường thủ công phát triển. Đến cuối thế kỷ XIX, diện tích đơn vị làng tại Hà Nội năm 1894 cho thấy sự phân bố dày đặc ở khu vực trung tâm Thọ Xương (diện tích trung bình 1,34 mẫu/làng).
- Thời kỳ Pháp thuộc: Thập niên 1930, tỷ lệ dân số đô thị ở Bắc Kỳ rất thấp, chỉ chiếm 4,27% dân số và 1% diện tích. Đất đai đô thị bị phân mảnh; thống kê năm 1939 cho thấy Bắc Kỳ có 53 đô thị với mật độ trung bình 2 thửa đất/chủ sở hữu, trong khi Trung Kỳ, Lào, Campuchia là 1,15 thửa/người.
- Giai đoạn 1945 – 1954: Chính phủ ban hành Sắc lệnh số 63 (ngày 22/11/1945) về chính quyền nông thôn và Sắc lệnh số 77 (ngày 21/12/1945) về tổ chức chính quyền nhân dân ở các thị xã, thành phố – văn bản pháp lý đầu tiên về quản lý đô thị của chế độ mới.
- Giai đoạn 1954 – 1975: Miền Bắc thành lập Nha Kiến trúc (1954) thuộc Bộ Thủy lợi - Kiến trúc do KTS. Nguyễn Văn Ninh làm Giám đốc với lực lượng ban đầu gồm 18 kiến trúc sư. Quy hoạch đô thị gắn liền với yêu cầu quốc phòng và công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa (các khu công nghiệp Thượng Đình, Việt Trì, Thái Nguyên...). Sau năm 1972, có 12 nước xã hội chủ nghĩa tham gia hỗ trợ quy hoạch các đô thị miền Bắc (Liên Xô giúp Hà Nội, Ba Lan giúp Hải Phòng, CHDC Đức giúp Vinh, Rumani giúp Nam Định và Phủ Lý...).
- Giai đoạn 1975 – 1985: Thống nhất mạng lưới đô thị hai miền, khắc phục hậu quả chiến tranh, xử lý sự bùng nổ dân số đô thị hành chính - quân sự tiếp quản từ miền Nam.
- Bước ngoặt Đổi mới (1986 – 1989): Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (tháng 12/1986) xóa bỏ cơ chế bao cấp, mở cửa nền kinh tế thị trường, xác lập quan điểm gắn đô thị hóa với việc phân bố lại lực lượng sản xuất và lao động.
| Chỉ tiêu lịch sử |
Bắc Kỳ (giai đoạn 1930 - 1939) |
| Tỷ lệ dân số đô thị hóa (1930) |
4,27% tổng dân số |
| Tỷ lệ diện tích đô thị (1930) |
Khoảng 1,00% diện tích |
| Số lượng trung tâm đô thị (1939) |
53 đô thị |
| Tỷ lệ sở hữu đất đai đô thị (1939) |
2,00 thửa đất/người sở hữu |
Chương 2: Sự phát triển hệ thống đô thị và mở rộng không gian đô thị ở Việt Nam trong những năm 1989 – 2009
Chương 2 phân tích sự mở rộng mạng lưới đô thị cả nước, hoàn thiện khung pháp lý và nghiên cứu chuyên sâu hai trường hợp điển hình: Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh.
- Mạng lưới đô thị toàn quốc:
- Sự kiện và thể chế: Hội nghị đô thị toàn quốc lần thứ I (1990) dẫn đến Chỉ thị 19/CP (1991) của Hội đồng Bộ trưởng; Hội nghị đô thị toàn quốc lần thứ II (1995) đánh dấu giai đoạn bùng nổ quy hoạch vùng. Quốc hội ban hành Luật Xây dựng (2003), Luật Quy hoạch đô thị (2009); Chính phủ ban hành Nghị định 08/2005/NĐ-CP và Nghị định 42/2009/NĐ-CP về phân loại đô thị.
- Quy mô phát triển: Số lượng đô thị tăng từ khoảng 500 đô thị (năm 1990) lên 649 (năm 2000), 656 (năm 2003) và đạt 752 đô thị vào năm 2009 (gồm 2 đô thị đặc biệt, 9 đô thị loại I, 12 đô thị loại II, 45 đô thị loại III, 41 đô thị loại IV và 643 đô thị loại V, loại V chiếm 86%). Tỷ lệ dân số đô thị tăng từ 23,7% năm 1999 lên 29,6% năm 2009 (đạt 25,4 triệu người trên tổng số 85,8 triệu dân).
| Quốc gia |
Tỷ trọng dân số thành thị năm 2009 (%) |
| Brunei |
72,0 |
| Malaysia |
68,0 |
| Philippines |
63,0 |
| Indonesia |
48,0 |
| Thái Lan |
36,0 |
| Myanmar |
31,0 |
| Việt Nam |
29,6 |
| Đông Timor |
22,0 |
| Lào |
17,0 |
| Campuchia |
15,0 |
- Mở rộng không gian đô thị tại Hà Nội:
- Tỷ lệ đô thị hóa: Tăng từ 18,0% (năm 1890/1980) lên 23,6% (năm 2000), 32,0% (năm 2010) và ước tính 55,0% (năm 2020).
- Mở rộng địa giới hành chính: Nghị quyết số 15/2008/QH12 ngày 29/5/2008 của Quốc hội khóa XII đã hợp nhất toàn bộ tỉnh Hà Tây (219.341,11 ha, 2.007 nghìn người), huyện Mê Linh thuộc tỉnh Vĩnh Phúc (14.164,53 ha, 187 nghìn người) và 4 xã thuộc huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình (Đông Xuân: 1.720,36 ha; Tiến Xuân: 3.457,74 ha; Yên Bình: 2.073,06 ha; Yên Trung: 1.532,76 ha) vào Hà Nội. Sau điều chỉnh, Hà Nội có 29 đơn vị hành chính cấp huyện, quy mô đất đai trên 300 nghìn ha, dân số năm 2009 đạt 6,5 triệu người.
- Hình thành 5 đô thị vệ tinh: Hòa Lạc (quy mô 600.000 dân, chức năng KH-CN và đào tạo), Xuân Mai (220.000 dân, dịch vụ - công nghiệp, làng nghề), Phú Xuyên (127.000 dân, công nghiệp và đầu mối trung chuyển), Sơn Tây (186.000 dân, văn hóa - lịch sử, du lịch nghỉ dưỡng), Sóc Sơn (250.000 dân, dịch vụ sinh thái, cảng hàng không).
| Tiêu chí kinh tế của Hà Nội |
Giai đoạn 1996 - 2000 |
Giai đoạn 2001 - 2005 |
Giai đoạn 2006 - 2009 |
| Tốc độ tăng trưởng GDP theo giá thực tế (%) |
16,1 |
19,2 |
27,1 |
| Tốc độ tăng trưởng GDP theo giá so sánh (%) |
10,2 |
11,5 |
11,2 |
| Mật độ kinh tế (tỷ đồng/km²) |
160,0 |
324,5 |
826,1 |
| Thu nhập bình quân đầu người (triệu đồng/người) |
10,33 |
17,50 |
26,20 |
- Mở rộng không gian đô thị tại Thành phố Hồ Chí Minh:
- Dân số và di cư: Diện tích 2.095 km², dân số vượt 8,5 triệu người vào năm 2007 - 2008. Số lượng người nhập cư giai đoạn 1976 – 1980 là 82.532 người, tăng lên 202.129 người giai đoạn 1986 – 1990.
- Quy hoạch không gian: Quy hoạch tổng thể năm 1993, điều chỉnh năm 1998 và Quyết định số 24/QĐ-TTg ngày 06/01/2010 phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch chung đến năm 2025. Dự báo dân số đến năm 2025 đạt 10 triệu dân (nội thành 7,0 - 7,4 triệu; ngoại thành 2,6 - 3,0 triệu) và 2,5 triệu khách vãng lai/tạm trú; quy mô đất xây dựng đô thị đạt 90.000 ha.
- Chỉ số kinh tế: Tỷ trọng kinh tế TP.HCM chiếm 1/3 GDP cả nước. Tăng trưởng GDP đạt 7,4% năm 2001 và 12,2% năm 2005; trong 6 tháng đầu năm 2008 thu hút hơn 7,1 tỷ USD vốn FDI, GDP tăng 10,5%. Cơ cấu kinh tế năm 2005 gồm: Nông nghiệp 1,2%, Công nghiệp 48,2%, Dịch vụ 50,6%. Tỷ trọng công nghiệp của thành phố so với cả nước tăng liên tục từ 21,6% (1980), 23,0% (1985), 25,8% (1990), 28,5% (1995) lên 29,6% (1999).
Chương 3: Tác động của đô thị hóa đến tình hình kinh tế - xã hội trong những năm 1989 – 2009
Chương 3 tập trung đánh giá hệ quả kinh tế - xã hội do đô thị hóa mang lại, nhất là những chuyển dịch tại khu vực chuyển tiếp ven đô và cơ cấu dân số toàn quốc.
| Năm |
Dân số thành thị (%) |
Dân số nông thôn (%) |
| 1995 |
20,75 |
79,25 |
| 1996 |
21,08 |
78,92 |
| 1997 |
22,66 |
77,34 |
| 1998 |
23,15 |
76,85 |
| 1999 |
23,61 |
76,39 |
| 2000 |
24,18 |
75,82 |
| 2001 |
24,74 |
75,26 |
| 2002 |
25,11 |
74,89 |
| 2003 |
25,80 |
74,20 |
| 2004 |
26,50 |
73,50 |
| 2005 |
26,88 |
73,12 |
| 2006 (Ước tính) |
27,12 |
72,88 |
Kết quả và đóng góp
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
-
Hạn chế:
- Công trình giới hạn phạm vi khảo sát dữ liệu thống kê mốc cuối là năm 2009, do đó chưa phản ánh được các chuyển biến đô thị theo các bộ luật và quy hoạch sau năm 2010.
- Trọng tâm khảo sát không gian chủ yếu tập trung vào Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh; dữ liệu về các đô thị loại vừa, loại nhỏ thuộc các vùng sinh thái đặc thù (miền núi phía Bắc, Tây Nguyên, Đồng bằng sông Cửu Long) chưa được phân tích độc lập thành các chương mục chuyên sâu.
-
Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng khung thời gian nghiên cứu từ sau năm 2009 đến nay để so sánh sự thay đổi về chất lượng đô thị theo các bộ tiêu chí phân loại mới.
- Đi sâu phân tích tác động xã hội chuyên biệt như mức độ phân hóa giàu nghèo, sự dịch chuyển phân bố đô thị theo quy mô dân số và các thách thức môi trường sinh thái đô thị tại các vùng kinh tế trọng điểm.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng thụ hưởng:
- Giảng viên, sinh viên và học viên chuyên ngành Lịch sử Việt Nam, Địa lý kinh tế, Xã hội học, Quản lý đô thị và Quy hoạch vùng.
- Các nhà nghiên cứu quan tâm đến lịch sử kinh tế thời kỳ Đổi mới và chính sách phát triển vùng ven đô tại Việt Nam.
- Phần nội dung có giá trị tham khảo cao:
- Hệ thống dữ liệu lịch sử về quá trình quy hoạch đô thị miền Bắc giai đoạn 1954 – 1975 có sự giúp đỡ của các chuyên gia Liên Xô, Nhật Bản và các nước xã hội chủ nghĩa (Chương 1).
- Các bảng số liệu thống kê chi tiết về diện tích sáp nhập địa giới Hà Nội năm 2008, dữ liệu dân số nhập cư TP. Hồ Chí Minh giai đoạn 1976 – 1990, và số liệu thu hồi đất nông nghiệp giai đoạn 2001 – 2005 (Chương 2 và Chương 3).
Câu hỏi thường gặp
1. Trong giai đoạn 1989 – 2009, hệ thống đô thị Việt Nam đã có sự thay đổi như thế nào về số lượng và tỷ lệ dân số đô thị?
Năm 1990, cả nước có khoảng 500 đô thị; đến năm 2000 tăng lên 649 đô thị, năm 2003 đạt 656 đô thị và đến năm 2009 đạt 752 đô thị (gồm 2 đô thị đặc biệt, 9 loại I, 12 loại II, 45 loại III, 41 loại IV và 643 loại V). Tỷ lệ dân số đô thị tăng từ 23,7% năm 1999 lên 29,6% năm 2009 (tương đương 25,4 triệu dân đô thị trên tổng số 85,8 triệu người).
2. Sự kiện điều chỉnh địa giới hành chính Thủ đô Hà Nội năm 2008 theo Nghị quyết 15/2008/QH12 đã tiếp nhận những đơn vị lãnh thổ nào?
Hà Nội đã hợp nhất toàn bộ tỉnh Hà Tây (diện tích 219.341,11 ha, dân số 2.007 nghìn người), tiếp nhận huyện Mê Linh thuộc tỉnh Vĩnh Phúc (diện tích 14.164,53 ha, dân số 187 nghìn người) và 4 xã thuộc huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình (Đông Xuân: 1.720,36 ha; Tiến Xuân: 3.457,74 ha; Yên Bình: 2.073,06 ha; Yên Trung: 1.532,76 ha). Sau mở rộng, Hà Nội có 29 đơn vị hành chính cấp huyện với diện tích trên 300 nghìn ha.
3. Thành phố Hồ Chí Minh giữ vị thế và cơ cấu kinh tế như thế nào trong tiến trình đô thị hóa giai đoạn đến năm 2005?
Thành phố Hồ Chí Minh đóng góp 1/3 tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của cả nước. Tăng trưởng GDP đạt 12,2% năm 2005. Cơ cấu kinh tế năm 2005 gồm: Nông nghiệp chiếm 1,2%, Công nghiệp chiếm 48,2% và Dịch vụ chiếm 50,6%. Tỷ trọng công nghiệp của thành phố so với quy mô công nghiệp toàn quốc tăng từ 21,6% (năm 1980) lên 29,6% (năm 1999).
4. Quá trình đô thị hóa trong giai đoạn 2001 – 2005 đã thu hồi bao nhiêu diện tích đất nông nghiệp và phân bổ cho các mục đích nào?
Trong giai đoạn 2001 – 2005, tổng diện tích đất nông nghiệp đã thu hồi trên cả nước là 366,44 nghìn ha (chiếm 3,89% tổng diện tích đất nông nghiệp đang sử dụng). Diện tích này được phân bổ cho 3 mục đích chính: xây dựng kết cấu hạ tầng (136,17 nghìn ha), xây dựng các khu đô thị (70,32 nghìn ha) và xây dựng các khu/cụm công nghiệp (39,56 nghìn ha).
5. Tỷ lệ đô thị hóa của Việt Nam năm 2009 (29,6%) đứng ở vị trí nào khi so sánh với các quốc gia khác trong khu vực Đông Nam Á?
Tỷ trọng dân số thành thị của Việt Nam năm 2009 (29,6%) thấp hơn so với Brunei (72%), Malaysia (68%), Philippines (63%), Indonesia (48%), Thái Lan (36%) và Myanmar (31%); đồng thời cao hơn Đông Timor (22%), Lào (17%) và Campuchia (15%).
Kết luận
Khóa luận "Đô thị hóa ở Việt Nam từ năm 1989 đến năm 2009" của sinh viên Trần Trọng Thông là công trình nghiên cứu lịch sử kinh tế - xã hội có hệ thống tư liệu thống kê xác thực và phong phú. Khóa luận đã phân tích mạch lạc các nhân tố chính sách, diễn tiến mở rộng không gian đô thị toàn quốc, đặc biệt tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, cùng các hệ quả kinh tế - xã hội đối với khu vực chuyển tiếp nông thôn - ven đô. Đây là nguồn tài liệu tổng hợp có giá trị khoa học thiết thực phục vụ cho việc học tập, nghiên cứu lịch sử Việt Nam hiện đại và quy hoạch không gian lãnh thổ thời kỳ Đổi mới.