Đô Thị Hóa Ở Việt Nam Từ Năm 1989 Đến Năm 2009: Khóa Luận Tốt Nghiệp

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu đô thị hóa ở việt nam từ năm 1989 đến năm 2009, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân, đề xuất giải pháp cải thiện thực tiễn.

Chuyên ngành

Lịch sử Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp đại học

2019

67
5
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU

0.1. Lí do chọn đề tài

0.2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề

0.3. Đối tượng, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu

0.4. Nguồn tư liệu, phương pháp và phương pháp luận nghiên cứu

0.5. Đóng góp của khóa luận

0.6. Bố cục của khóa luận

1. CHƯƠNG 1: NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN ĐÔ THỊ HÓA VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM 1989 - 2009

1.1. Thực trạng đô thị hóa ở Việt Nam trước năm 1989

1.1.1. Bối cảnh kinh tế - xã hội trước năm 1989

2. CHƯƠNG 2: SỰ PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG ĐÔ THỊ VÀ MỞ RỘNG KHÔNG GIAN ĐÔ THỊ Ở VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM 1989 – 2009

2.1. Phát triển hệ thống đô thị và mở rộng không gian 2009

2.2. Sự mở rộng không gian đô thị ở một số thành phố trong những năm 1989 – 2009

2.3. Sự mở rộng và phát triển không gian đô thị ở Thành phố Hà Nội

2.4. Sự mở rộng và phát triển không gian đô thị ở Thành phố Hồ Chí Minh

3. CHƯƠNG 3: TÁC ĐỘNG CỦA ĐÔ THỊ HÓA ĐẾN TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI TRONG NHỮNG NĂM 1989 – 2009

3.1. Tác động đến tình hình kinh tế

3.2. Tác động đến các mặt kinh tế của vùng ven đô

3.3. Tác động đến tăng trưởng kinh tế

3.4. Đến các vấn đề xã hội

3.5. Thay đổi phân bố đô thị theo quy mô dân số

3.6. Tác động, chuyển biến tình trạng giàu nghèo

3.7. Tác động đến mức thu nhập bình quân giữa các vùng

TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC VIẾT TẮT

Tóm tắt

I. Tổng Quan Đô Thị Hóa Việt Nam 1989 2009 Khái Niệm Bối Cảnh

Đô thị hóa là một xu thế tất yếu và có vai trò quan trọng đối với mọi quốc gia, đặc biệt là các quốc gia châu Á, trong đó có Việt Nam. Từ khi đất nước đi vào công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa, các đô thị của Việt Nam đã thức giấc sau một thời gian dài chậm phát triển do chiến tranh. Đặc biệt, từ cuối thế kỷ XX đã mở ra bước phát triển mới của đô thị. Sau khi Chính phủ ban hành Quyết định số 10 (1998) về Chiến lược Phát triển và xây dựng Hệ thống đô thị đến năm 2020, Luật Doanh nghiệp (năm 2000), Luật Đất đai (năm 2003), Luật Đầu tư (năm 2005)… đã trực tiếp kích thích nguồn vốn đầu tư trong nước và nước ngoài tăng nhanh. Đồng thời, sự hình thành trên diện rộng với số lượng lớn, tốc độ nhanh các khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu chế xuất, khu đô thị vệ tinh, khu đô thị mới và sự cải thiện đáng kể kết cấu hạ tầng ở cả thành thị và nông thôn.

1.1. Định Nghĩa Đô Thị Hóa Góc Nhìn Đa Chiều

Đô thị hóa được hiểu theo nhiều cách khác nhau, tùy thuộc vào góc độ tiếp cận. Dưới góc độ nhân khẩu học và địa lý kinh tế vĩ mô, đô thị hóa là sự di cư từ nông thôn tới các đô thị, sự tập trung ngày càng nhiều cư dân sinh sống trong một vùng lãnh thổ tạo nên sự đông đúc ở các đô thị. Mức độ đô thị hóa của một quốc gia được đo lường bằng tỉ lệ dân cư đô thị trong tổng số dân. Về mặt xã hội, đô thị hóa được hiểu là quá trình tổ chức lại môi trường cư trú của con người. Đô thị hóa không chỉ thay đổi sự phân bố dân cư và những yếu tố vật chất, mà còn làm chuyển hóa những khuôn mẫu của đời sống kinh tế - xã hội, phổ biến lối sống đô thị tới các vùng nông thôn, và toàn bộ xã hội.

1.2. Bối Cảnh Kinh Tế Xã Hội Việt Nam Trước 1989

Trước khi đất nước được giải phóng, sản xuất công nghiệp của nước ta chủ yếu được thiết lập ở ba vùng Bắc, Trung, Nam mà trọng điểm tập trung tại Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh (Sài Gòn) và Huế (kinh đô cũ). Ngày nay, trong khi Huế (trung tâm của khu vực miền Trung) vẫn giữ là một địa danh lịch sử, văn hóa có quan trọng lớn của đất nước, đồng thời là thủ phủ của một tỉnh, thì hai thành phố: Hà Nội (ở miền Bắc) và Hồ Chí Minh (ở miền Nam) là hai mũi nhọn chủ yếu của nền kinh tế đô thị Việt Nam. Hai cực kinh tế chính của Việt Nam đã phát triển theo hai xu hướng hơi khác nhau, một phần là do những đặc điểm kế thừa từ hai hệ chính trị, tư tưởng và kinh tế - xã hội khác nhau kéo dài hơn 20 năm.

II. Yếu Tố Tác Động Đô Thị Hóa Việt Nam 1989 2009 Phân Tích

Việc khởi đầu từ chính sách “Đổi mới”, đã nhanh chóng đưa đất nước bước vào con đường tự do hóa kinh tế. Mặt khác, chính phủ cũng thực hiện nhiều chính sách khác nhau để khuyến khích phân bố tăng trưởng kinh tế và phát triển giữa các đô thị được đồng đều hơn. Từ thế kỷ XVII - XVIII, các đô thị nước ta có bước phát triển, lột xác lớn nhất là hệ thống đầu não của mạng lưới đô thị, kinh thành Thăng Long có sự đảo lộn sâu sắc. Vua Lê bị đặt dưới sự kiểm soát của các chúa Trịnh. Với sự tồn tại song song hai cơ quan quyền lực buộc chúa Trịnh phải lựa chọn cho mình một dinh thự mới: Tọa lạc ngay tại Hồ Hoàn Kiếm, Nhà Thờ và tuyến phố Trần Hưng Đạo hiện nay, khu vực mới này với tên gọi mới là Vương Phủ.

2.1. Chủ Trương Của Đảng Về Đô Thị Hóa Định Hướng Phát Triển

Sau Đại hội VI (1986), Đảng Cộng sản Việt Nam đã đưa ra chủ trương đổi mới toàn diện, trong đó có việc đẩy mạnh đô thị hóa gắn liền với công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Các văn kiện của Đảng nhấn mạnh vai trò của đô thị là động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân. Đảng cũng chủ trương xây dựng hệ thống đô thị đồng bộ, hiện đại, có bản sắc riêng, phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của từng vùng, từng địa phương.

2.2. Vai Trò Của Đô Thị Hóa Thúc Đẩy Phát Triển Kinh Tế

Đô thị hóa đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Đô thị là nơi tập trung các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, khoa học - công nghệ, văn hóa - giáo dục. Đô thị tạo ra nhiều việc làm, thu hút lao động từ nông thôn, nâng cao năng suất lao động và thu nhập của người dân. Đô thị cũng là nơi tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ, tạo động lực cho sản xuất phát triển. Ngoài ra, đô thị còn là trung tâm giao lưu văn hóa, khoa học - công nghệ, góp phần nâng cao trình độ dân trí và chất lượng cuộc sống.

2.3. Tính Tất Yếu Của Đô Thị Hóa Xu Hướng Toàn Cầu

Đô thị hóa là một xu hướng tất yếu của sự phát triển kinh tế - xã hội trên toàn thế giới. Khi kinh tế phát triển, sản xuất nông nghiệp giảm dần tỷ trọng, sản xuất công nghiệp và dịch vụ tăng lên. Điều này dẫn đến sự chuyển dịch lao động từ nông thôn ra thành thị, làm cho dân số đô thị tăng lên. Đô thị hóa cũng là kết quả của quá trình toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế. Các đô thị trở thành trung tâm kết nối kinh tế, văn hóa, khoa học - công nghệ của các quốc gia, khu vực.

III. Mở Rộng Không Gian Đô Thị Hà Nội TP

Trong giai đoạn 1989-2009, quá trình đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ ở hai thành phố lớn là Hà Nội và TP.HCM. Sự mở rộng không gian đô thị thể hiện ở việc tăng diện tích đất xây dựng, tăng dân số, phát triển hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội. Quá trình này có tác động lớn đến kinh tế - xã hội của hai thành phố và cả nước.

3.1. Hà Nội Mở Rộng Không Gian Đô Thị Phát Triển Hạ Tầng

Hà Nội đã trải qua quá trình mở rộng không gian đô thị đáng kể trong giai đoạn này. Nhiều khu đô thị mới được xây dựng, hạ tầng giao thông được cải thiện, các dịch vụ công cộng được nâng cao. Tuy nhiên, quá trình này cũng đặt ra nhiều thách thức về quản lý đô thị, bảo vệ môi trường và giải quyết các vấn đề xã hội.

3.2. TP.HCM Phát Triển Đô Thị Thu Hút Đầu Tư Nước Ngoài

TP.HCM cũng chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của đô thị hóa. Thành phố đã thu hút được nhiều vốn đầu tư nước ngoài, phát triển các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu đô thị mới. Tuy nhiên, TP.HCM cũng phải đối mặt với các vấn đề như ô nhiễm môi trường, ùn tắc giao thông, thiếu nhà ở cho người nghèo.

IV. Tác Động Đô Thị Hóa 1989 2009 Kinh Tế Xã Hội Việt Nam

Quá trình đô thị hóa ở Việt Nam trong giai đoạn 1989-2009 đã có những tác động sâu sắc đến tình hình kinh tế - xã hội của đất nước. Bên cạnh những mặt tích cực, đô thị hóa cũng đặt ra nhiều thách thức cần giải quyết.

4.1. Tác Động Đến Tăng Trưởng Kinh Tế Động Lực Phát Triển

Đô thị hóa đã góp phần quan trọng vào tăng trưởng kinh tế của Việt Nam. Các đô thị là nơi tạo ra phần lớn GDP của cả nước, thu hút vốn đầu tư, tạo việc làm và thúc đẩy thương mại, dịch vụ phát triển. Đô thị hóa cũng góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ.

4.2. Tác Động Đến Các Vấn Đề Xã Hội Thách Thức Giải Pháp

Đô thị hóa cũng gây ra nhiều vấn đề xã hội như ô nhiễm môi trường, ùn tắc giao thông, thiếu nhà ở cho người nghèo, gia tăng tệ nạn xã hội, phân hóa giàu nghèo. Để giải quyết các vấn đề này, cần có các chính sách đồng bộ về quy hoạch đô thị, quản lý đất đai, bảo vệ môi trường, an sinh xã hội.

4.3. Thay Đổi Phân Bố Đô Thị Theo Quy Mô Dân Số Xu Hướng

Quá trình đô thị hóa đã làm thay đổi phân bố đô thị theo quy mô dân số. Số lượng các đô thị lớn tăng lên, trong khi số lượng các đô thị nhỏ giảm đi. Điều này cho thấy xu hướng tập trung dân số vào các đô thị lớn, gây áp lực lên hạ tầng và các dịch vụ công cộng.

V. Kết Luận Đô Thị Hóa Việt Nam 1989 2009 Bài Học Kinh Nghiệm

Giai đoạn 1989-2009 là một giai đoạn quan trọng trong quá trình đô thị hóa của Việt Nam. Những thành tựu và thách thức trong giai đoạn này đã để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu cho quá trình phát triển đô thị bền vững trong tương lai.

5.1. Bài Học Về Quy Hoạch Đô Thị Tính Bền Vững Hiệu Quả

Quy hoạch đô thị cần đảm bảo tính bền vững, hiệu quả và phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của từng địa phương. Cần có sự tham gia của cộng đồng vào quá trình quy hoạch để đảm bảo tính khả thi và đáp ứng nhu cầu của người dân.

5.2. Bài Học Về Quản Lý Đô Thị Nâng Cao Năng Lực Trách Nhiệm

Quản lý đô thị cần được nâng cao năng lực và trách nhiệm của các cấp chính quyền. Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các ngành, các cấp để giải quyết các vấn đề đô thị một cách hiệu quả. Cần tăng cường kiểm tra, giám sát và xử lý nghiêm các vi phạm về quy hoạch, xây dựng, đất đai, môi trường.

09/06/2025
Luận văn thạc sĩ đô thị hóa ở việt nam từ năm 1989 đến năm 2009

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN ĐÔ THỊ HÓA VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM 1989 - 2009 1. Thực trạng đô thị hóa ở Việt Nam trước năm 1989 1. Bối cảnh kinh tế - xã hội trước năm 1989 Thực tế, quá trình hình thành và phát triển các đô thị trên thế giới phân hóa rất khác nhau. Vì vậy, mỗi đô thị ở mỗi quốc gia, mỗi vùng có những thuận lợi và khó khăn riêng trong quá trình phát triển.

Do đó, nhận thức và đề xuất các cơ sở lý luận về sự phát triển bền vững đô thị cũng không đạt được sự thống nhất cao giữa các tổ chức nghiên cứu khoa học, các tổ chức quốc tế. Đã có nhiều nhà khoa học thuộc nhiều bộ môn khác nhau đã nghiên cứu quá trình đô thị hóa và đưa ra không ít các định nghĩa cùng tầm quan trọng và dự báo tương lai của quá trình đô thị hóa. Dưới góc độ nhân khẩu học và địa lý kinh tế vĩ mô, đô thị hóa được hiểu là sự di cư từ nông thôn tới các đô thị, sự tập trung ngày càng nhiều cư dân sinh sống trong một vùng lãnh thổ tạo nên sự đông đúc ở các đô thị. Mức độ đô thị hóa của một quốc gia được đo lường bằng tỉ lệ dân cư đô thị trong tổng số dân.

Về mặt xã hội, đô thị hóa được hiểu là quá trình tổ chức lại môi trường cư trú của con người. Đô thị hóa không chỉ thay đổi sự phân bố dân cư và những yếu tố vật chất, mà còn làm chuyển hóa những khuôn mẫu của đời sống kinh tế - xã hội, phổ biến lối sống đô thị tới các vùng nông thôn, và toàn bộ xã hội. Vì vậy, quá trình đô thị hóa không chỉ diễn ra về mặt tăng trưởng dân số, mở rộng lãnh thổ, tăng trưởng về sản xuất, mà còn thể hiện cả về mặt chất lượng, mức sống, làm phong phú hơn Dưới góc độ khác ―Đô thị hoá‖ được hiểu theo chiều rộng là sự phát triển của thành phố và việc nâng cao vai trò của đô thị trong đời sống của mỗi quốc gia với những dấu hiệu đặc trưng như: tổng số thành phố và tổng số cư dân đô thị [2; tr. Quan điểm trên chỉ ra rằng, quá trình đô thị hóa chính 7 c là sự dịch chuyển cư dân từ nông thôn vào thành thị và cũng là quá trình tăng lên tỷ lệ dân cư đô thị trong tổng số dân của một đất nước.

Quan điểm khác cho rằng: Đô thị hóa là quá trình tăng tỷ lệ dân số thành thị so với tổng số dân quy mô các thành phố và sự lan tỏa lối sống thành thị về nông thôn. Theo khái niệm của ngành địa lý, đô thị hóa đồng nghĩa với sự gia tăng không gian hoặc mật độ dân cư hoặc thương mại hoặc các hoạt động khác trong khu vực theo thời gian. Các quá trình đô thị hóa có thể bao gồm: Do sự mở rộng tự nhiên của dân số hiện có. Thông thường quá trình này không phải là tác nhân vì tốc độ tăng trưởng dân số tự nhiên của vùng đô thị thường thấp hơn so với nông thôn.

Do sự chuyển dịch dân cư từ nông thôn ra thành thị hoặc là do sự kết hợp của cả hai yếu tố trên[15; tr.39] Tựu chung Đô thị hóa là một quá trình kinh tế - xã hội mà biểu hiện của nó là tăng nhanh về cư dân cùng với đó là hiện đại về cơ sở vật chất làm biến đổi về quy mô của các đô thị nhất là ở các Thành phố, nó phản ánh quá trình chuyển hoá và chuyển dịch chủ yếu sang phương thức lối sống và sinh hoạt mới - phương thức đô thị hóa. Nó song song với quá trình phát triển CNH và cách mạng khoa học công nghệ. ĐTH làm biến đổi và phân bố các lực lượng sản xuất trong nền kinh tế quốc dân, hình thành, phát triển các hình thức mới và điều kiện sinh hoạt theo kiểu đô thị đồng thời phát triển đô thị theo chiều rộng. Trước khi đất nước được giải phóng, sản xuất công nghiệp của nước ta chủ yếu được thiết lập ở ba vùng Bắc, Trung, Nam mà trọng điểm tập trung tại Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh (Sài Gòn) và Huế (kinh đô cũ).

Ngày nay, trong khi Huế (trung tâm của khu vực miền Trung) vẫn giữ là một địa danh lịch sử, văn hóa có quan trọng lớn của đất nước, đồng thời là thủ phủ của một tỉnh, thì hai thành phố: Hà Nội (ở miền Bắc) và Hồ Chí Minh (ở miền Nam) là hai mũi nhọn chủ yếu của nền kinh tế đô thị Việt Nam. Ở nước ta địa lý kinh tế nước ta đã phát triển trong hơn nửa thế kỷ qua, và có 8 c thể dài hơn, bắt nguồn từ thực tế lãnh thổ Việt Nam có hình dạng thuôn dài tự nhiên cong như hình chữ S. Đáng nói là, hai cực kinh tế chính của Việt Nam đã phát triển theo hai xu hướng hơi khác nhau, một phần là do những đặc điểm kế thừa từ hai hệ chính trị, tư tưởng và kinh tế - xã hội khác nhau kéo dài hơn 20 năm. Trong khi miền Nam Việt Nam đi theo cơ chế chính sách thị trường tự do, miền Bắc Việt Nam lại đi theo mô hình xã hội chủ nghĩa.

Tiếp đó, trong 11 năm sau khi thống nhất đất nước, nước ta đã phát triển mô hình xã hội chủ nghĩa trên toàn quốc, trong đó tập trung nhiều vào các khu vực nông thôn và xây dựng nền kinh tế kế hoạch hóa, các hoạt động sản xuất công nghiệp được phân bố tập trung tại một số trung tâm được lựa chọn. Chỉ sau khi áp dụng chính sách đổi mới sâu rộng từ đại hội VI (tháng12 năm 1986) nước ta mới bắt đầu triển khai cơ chế tự do thị trường, khuyến khích các sáng kiến, đầu tư của tư nhân, tuy vậy nhà nước vẫn giữ vai trò xây dựng và thực thi quy hoạch chiến lược. Việc khởi đầu từ chính sách “Đổi mới”, đã nhanh chóng đưa đất nước bước vào con đường tự do hóa kinh tế. Mặt khác, chính phủ cũng thực hiện nhiều chính sách khác nhau để khuyến khích phân bố tăng trưởng kinh tế và phát triển giữa các đô thị được đồng đều hơn.

Thực trạng đô thị hóa ở Việt Nam trước năm 1989 Từ thế kỷ XVII - XVIII, các đô thị nước ta có bướt phát triển, lột xác lớn nhất là hệ thống đầu não của mạng lưới đô thị, kinh thành Thăng Long có sự đảo lộn sâu sắc. Vua Lê bị đặt dưới sự kiểm soát của các chúa Trịnh. Vua vẫn giữ ngôi báu trong tay nhưng lại tồn tại tượng trưng toàn bộ công việc cai trị đều thuộc về tay chúa Trịnh. Với sự tồn tại song song hai cơ quan quyền lực buộc chúa Trịnh phải lựa chọn cho mình một dinh thự mới: Tọa lạc ngay tại Hồ Hoàn Kiếm, Nhà Thờ và tuyến phố Trần Hưng Đạo hiện nay, khu vực mới này với tên gọi mới là Vương Phủ.

Cùng với đó hàng loạt các công trình mới được dựng lên như đền Ngọc Sơn. Ta có thể thấy trung tâm của thành phố đã 9 c dịch chuyển đan xen cùng với các khu chợ, buôn bán, nhà ở…. Trung tâm chính trị quyền lực của thành phố không còn có sự bó hẹp mà đã có sự giao thoa với khu vực dân sự. Với việc vua Lê không còn quyền lực trong tay quyền lực giờ thuộc về các chúa Trịnh, vốn là dân võ, hoặc những người đã từng đi chinh phục.

Lúc này xã hội bắt đầu vượt qua những điều cấm kỵ trong quá khứ. Quan niệm sĩ - nông - công - thương cũng không còn nữa, việc buôn bán của các thương nhân không còn bị coi là "con phe" 1 chuyên buôn gian bán lận, sự sáng tạo của các nghệ nhân làng nghề cũng không còn bị bó hẹp, nhà nước bỏ độc quyền, các quan cũng tham gia vào hoạt động thương nghiệp,người dân ở nhiều làng nghề bắt đầu mang các sản phẩm làm ra được đem bán ở chợ, số lượng chợ vì vậy ngày càng tăng lên chóng mặt, các tiểu thương ở các thành phố giàu lên một cách nhanh chóng ,các công trình lớn ngày càng được xây dựng nhiều hơn như: các ngôi nhà gỗ lớn, nhà tầng…Điều này đã làm cho các đô thị ở Hà Nội ngày càng có bước phát triển khởi sắc hơn. ―Không chỉ ở Hà Nội mà các tỉnh lị, thị trấn, thị tứ… trong thời kì này việc phát triển thương mại diễn ra khá mạnh mẽ, các hoạt động giao thương tăng lên theo cấp số nhân giữa các vùng miền khác nhau trên khắp đất nước, cùng với thương nghiệp các tuyến đường giao thông đi lại được cải thiện với nhiều con đường mới được xây dựng, cầu gỗ được thay thế bằng cầu đá, đất đai được mua bán trao đổi, xuất hiện hệ thống sở hữu và hoạt động của tư nhân, nhiều chợ mọc lên ở khắp nơi. Từ đó ta thấy bắt đầu có các hình thức kết nối đa dạng giữa nông thôn và thành thị, và các hình thức này vẫn còn tồn tại và kéo dài cho đến thời kỳ hiện nay‖ ―Từ nửa sau thế kỷ XVII nhờ chính sách tự do của chúa Trịnh có rất nhiều người từ làng ra phố và ở lại, lập nghiệp, làm ăn, sinh sống gia đình và không quay về làng cũ nữa, họ ở lại phố và phát triển công việc buôn bán.

1 Làm việc mua đi bán lại bất cứ hàng hoá gì để kiếm lãi (hàm ý coi thường) 10 c Dần dần, họ tách khỏi cuộc sống làng quê hòa nhập với cuộc sống nơi thành thị, giảm bớt chất quê và dần trở thành phường. Một nét phát triển của đô thị trong thời kì này cần phải nhắc tới loại hình nghệ thuật kiến trúc được biểu hiện rõ nét qua các đình, chùa. Nó là nơi sinh hoạt chung của làng phố, không còn mang kiến trúc hình vuông hay hình chữ nhật nữa mà có kết cấu giống như một ngôi nhà bình thường, lẫn vào khung cảnh xung quanh, không khác với bức tranh chung của đô thị. Vật liệu xây dựng chung cũng thay đổi từ tường trình được thay thế bằng tường gạch, thành phố trở nên kiên cố hóa.

Từ những năm 1650 nhiều phường nhỏ mở rộng phạm vi, gộp với nhau tạo thành nhiều phường lớn, tự tổ chức tùy thuộc vào tình hình của thành phố, do diện tích rộng, hẹp. Đây chính là quá trình thành phố được đô thị hóa dần dần, con đường đô thị hóa theo hình vuông. Từ khoảng cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX, khi Hà Nội dần dần mất đi vị thế kinh đô, gần như toàn bộ các phường đều biến mất.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Đô Thị Hóa Ở Việt Nam Từ 1989 Đến 2009: Xu Hướng Và Tác Động" cung cấp cái nhìn sâu sắc về quá trình đô thị hóa tại Việt Nam trong hai thập kỷ qua, từ những thay đổi về kinh tế, xã hội đến tác động môi trường. Tài liệu phân tích các xu hướng chính trong đô thị hóa, bao gồm sự gia tăng dân số đô thị, phát triển hạ tầng và những thách thức mà các thành phố phải đối mặt. Độc giả sẽ nhận được những thông tin quý giá về cách thức đô thị hóa ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống và phát triển bền vững.

Để mở rộng kiến thức về chủ đề này, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Đánh giá chất lượng cuộc sống người dân tại các dự án tái định cư trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, nơi cung cấp cái nhìn chi tiết về chất lượng sống trong bối cảnh đô thị hóa. Ngoài ra, tài liệu Quá trình đô thị hóa ở huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 1986-2020 sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về sự phát triển đô thị ở một khu vực cụ thể. Cuối cùng, tài liệu Đô thị hóa và sử dụng đất đô thị ở tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2005-2015 sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về mối liên hệ giữa đô thị hóa và quản lý đất đai. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các khía cạnh khác nhau của đô thị hóa tại Việt Nam.