Chương 1: Tổng quan Chương 2: Cơ sở lý thuyết Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận và kiến nghị Sau khi tiến hành khảo sát và xử lý số liệu, chương 4 sẽ trình bày kết quả nghiên cứu của đề tài. Cuối cùng, chương 5 sẽ tổng kết những gì bài nghiên cứu đã đạt được và trình bày một số kiến nghị, nêu các hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Chương 2 sẽ tập trung trình bày về các khái niệm và các lý thuyết được sử dụng trong bài nghiên cứu bao gồm: khái niệm về chất lượng dịch vụ,sự thoã mãn, mô hình các thành phần chất lượng dịch vụ, chất lượng dịch vụ Ngân hàng, mô hình đo lường CLDV: SERVQUAL, SERVPERF và IPA, mối quan hệ giữa chất lượng dịch vụ với sự thoả mãn và cuối cùng là mô hình nghiên cứu.
Chất lượng dịch vụ Chất lượng dịch vụ là một khái niệm gây nhiều chú ý và tranh cãi trong các tài liệu nghiên cứu bởi vì các nhà nghiên cứu gặp nhiều khó khăn trong việc định nghĩa và đo lường chất lượng dịch vụ mà không hề có sự thống nhất nào (Wisniewski, 2001). Trong một thời gian dài, đã có rất nhiều nghiên cứu về vấn đề này: Theo Svensson (2004), chất lượng dịch vụ thể hiện trong quá trình tương tác giữa khách hàng và nhân viên của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ. Lehtinen & Lehtinen (1982) cho là chất lượng dịch vụ phải được đánh giá trên hai khía cạnh, (1) quá trình cung cấp dịch vụ và (2) kết quả của dịch vụ. Gronroos (1984)cũng đề nghị hai lĩnh vực của chất lượng dịch vụ, đó là (1) chất lượng kỹ thuật và (2) chất lượng chức năng.
Tuy nhiên, có lẽ Parasuraman & ctg (1985) là những người tiên phong trong nghiên cứu chất lượng dịch vụ trong ngành tiếp thị. Theo Parasuraman & ctg (1988) định nghĩa chất lượng dịch vụ là “mức độ khác nhau giữa sự mong đợi của người tiêu dùng về dịch vụ và nhận thức của họ về kết quả của dịch vụ”. Các tác giả này đã khởi xướng và sử dụng nghiên cứu định tính và định lượng để xây dựng và kiểm định thang đo các thành phần của chất lượng dịch vụ (gọi là thang đo SERVQUAL). Thang đo SERVQUAL được điều chỉnh và kiểm định ở nhiều loại hình dịch vụ khác nhau.
Cuối cùng thang đo SERVQUAL bao gồm 5 thành phần với 22 biến quan sát để đo lường chất lượng dịch vụ, đó là: độ tin cậy (reliability), tính đáp TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Taylor&Cronin (1992) với mô hình SERVPERF, cho rằng mức độ cảm nhận của khách hàng đối với sự thực hiện dịch vụ của doanh nghiệp phản ánh tốt nhất chất lượng dịch vụ. Mô hình này đựa trên mô hình SERVQUAL của Parasuraman với 5 thành phần và 22 biến quan sát nhưng có sự lượt bỏ về giá trị kỳ vọng của khách hàng. Theo Martilla &James (1977) với mô hình IPA cho rằng chất lượng dịch vụ là khoảng cách giữa mức độ quan trọng của các yếu tố CLDV và mức độ thực hiện CLDV của nhà cung cấp dịch vụ.
Bài nghiên cứu sử dụng 2 mô hình để đo lường CLDV là SERVQUAL và IPA. Vì vậy, khái niệm chất lượng dịch vụ sẽ sử dụng dựa theo khái niệm của Parasuraman (1988), Taylor&Cronin (1992) và Martilla &James (1977), tiến hành kiểm định để so sánh 2 thang đo về CLDV. Sự thoả mãn đối với CLDV của khách hàng. Phương châm hoạt động của các công ty kinh doanh là phải thỏa mãn nhu cầu của khách hàng vì khách hàng là nguồn doanh thu và lợi nhuận của công ty.
Khi khách hàng thỏa mãn với dịch vụ hay hàng hóa của công ty thì khả năng họ mua tiếp tục mua hàng rất cao. Hơn nữa, khi họ thỏa mãn thì họ có xu hướng nói tốt về dịch vụ của công ty với khách hàng khác. Sự thỏa mãn của người tiêu dùng đối với dịch vụ là cảm xúc đối với công ty kinh doanh dịch vụ dựa trên từng tiếp xúc hay giao dịch với công ty đó (Bitner & Hubbert, 1993). Chất lượng dịch vụ và sự thỏa mãn tuy là hai khái niệm khác nhau nhưng có liên hệ chặt chẽ với nhau trong nghiên cứu về dịch vụ (Parasuraman & ctg, 1988) [25].
Các nghiên cứu trước đây đã cho thấy chất lượng dịch vụ là nguyên nhân dẫn đến sự thỏa mãn ( Cronin & Taylor, 1992). Nghiên cứu của Goulrou Abdollahi (2008) cho rằng sự thoả mãn là một yếu tố rất quan trọng, nó có ảnh hưởng rất lớn đến lòng trung thành của khách hàng. Trong TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 nghiên cứu này, thang đo đo lường yếu tố sự thỏa mãn sử dụng thang đo của Goulrou Abdollahi (2008). Mô hình các thành phần CLDV 2.
Mô hình chất lượng kỹ thuật – chức năng của Gronroos (SQ1) Trong hoạt động kinh doanh, các doanh nghiệp cần phải thấu hiểu khách hàng cảm nhận như thế nào về CLDV và những nhân tố ảnh hướng đến CLDV. Để có thể đạt được sự hài lòng của khách hàng, trong công tác quản lý CLDV, doanh nghiệp cần phải kết hợp đồng thời cả chất lượng kỳ vọng và chất lượng nhận thức. Gronroos (1984) (SQ1) cho rằng cho rằng CLDV của một doanh nghiệp được xác định bởi 3 thành phần: chất lượng kỹ thuật, chất lượng chức năng, và hình ảnh. Trong đó: - Chất lượng kỹ thuật: Là những giá trị mà khách hàng thật sự nhận được từ dịch vụ của nhà cung cấp (khách hàng tiếp nhận cái gì?).
- Chất lượng chức năng: Thể hiện cách thức phân phối dịch vụ tới người tiêu dùng của nhà cung cấp dịch vụ ( khách hàng tiếp nhận dịch vụ đó như thế nào?). Hình ảnh: đóng vai trò rất quan trọng đối với nhà cung cấp dịch vụ và yếu tố này được xây dựng chủ yếu trên 2 thành phần chất lượng kỹ thuật và chất lượng chức năng. Hơn nữa, Gronroos (1984) còn cho rằng kỳ vọng của khách hàng còn bị ảnh hưởng bởi các yếu tố như: các hoạt động marketing truyền thống (quảng cáo, quan hệ công chúng, chính sách giá cả) và yếu tố ảnh hưởng bên ngoài (phong tục, tập quán, ý thức, truyền miệng), trong đó yếu tố truyền miệng có tác động đáng kể đến khách hàng tiềm năng hơn so với hoạt động tiếp thị truyền thống và cũng nhấn mạnh rằng việc nghiên cứu CLDV phải dựa trên quan điểm của người tiêu dùng. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Mô hình chất lượng kỹ thuật – chức năng Nguồn: Gronroos (1984) Mô hình này cũng được áp dụng để đo lường CLDV trong ngành NH. Nghiên cứu của H.Bakhshayesh (2011): “Xác định yếu tố CLDV trong ngành Ngân hàng: kiểm định mô hình Gronroos’s ở Iran” (Determining the Dimensions of Service Quality in Banking Industry: Examining the Gronroos’s Model in Iran) nghiên cứu về mối quan hệ giữa chất lượng dịch vụ và sự thoả mãn của khách hàng. Trong mô hình có 4 thành phần chính là: chất lượng kỹ thuật, chất lượng chức năng, hình ảnh, CLDV cảm nhận và sự thoả mãn của khách hàng. Do Gronroos không chỉ ra cụ thể cách thức đo lường các thành phần trong mô hình nên chất lượng chức năng được đo lường bằng 5 thành phần chất lượng dịch vụ của Parasuraman.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Mô hình nghiên cứu ứng dụng mô hình Gronroos Trong bài nghiên cứu này, mô hình CFA được sử dụng để kiểm định giá trị thang đo và tác giả dùng mô hình cấu trúc tuyến tính SEM để kiểm định mối quan hệ giữa các thành phần trong mô hình. Kết quả được thể hiện trong hình dưới đây: Hình 2. Kết quả nghiên cứu ứng dụng mô hình Gronroos Phát hiện quan trọng là tất cả các mối quan hệ nhân quả giữa chất lượng chức năng, chất lượng kỹ thuật, hình ảnh, chất lượng cảm nhận và sự hài lòng của khách hàng đều có ý nghĩa trong ngành công nghiệp ngân hàng của Iran.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 Kết quả cho thấy một mối quan hệ tích cực giữa chất lượng chức năng và hình ảnh (γ = 0,26) và chất lượng kỹ thuật và hình ảnh (γ = 0,47). Các mối quan hệ trực tiếp giữa chất lượng chức năng và chất lượng dịch vụ tổng thể là (γ = 0,18) mối quan hệ giữa chất lượng kỹ thuật và chất lượng dịch vụ tổng thể là (γ = 0,42). Cũng đã có một mối quan hệ tích cực giữa hình ảnh và chất lượng tổng thể dịch vụ (β = 0,04) và giữa chất lượng dịch vụ tổng thể và sự hài lòng của khách hàng (β = 0. Một phát hiện quan trọng khác là chất lượng dịch vụ tổng thể bị ảnh hưởng nhiều bởi nhận thức của người tiêu dùng về chất lượng kỹ thuật hơn so với chất lượng chức năng.
Kết quả cũng cho thấy rằng, giả thuyết vai trò của hình ảnh như là một yếu tố trung gian trong nhận thức về chất lượng dịch vụ từ bịchối. Đường giữa chất lượng chức năng và chất lượng dịch vụ tổng thể (γ = 0,18) và đường dẫn từ chất lượng kỹ thuật về chất lượng dịch vụ tổng thể (γ = 0,42) lớn hơn so với đường giữa hình ảnh và chất lượng dịch vụ tổng thể (32 = 0,04). Các kết quả từ nghiên cứu này cho thấy rằng chất lượng kỹ thuật, chất lượng chức năng và hình ảnh nên được đo lường để nắm bắt đầy đủ nhận thức chung của từng cá nhân về chất lượng dịch vụ. Mô hình SERVQUAL của Parasuraman & ctg (SQ2) Mô hình CLDV này ban đầu có 10 thành phần: (1) Tin cậy (Reliability): Nói lên khả năng thực hiện dịch vụ phù hợp và đúng thời hạn ngay từ lần đầu tiên.
(2) Đáp ứng (Responsiveness): Nói lên sự mong muốn và sẵn sàng của nhân viên phục vụ cung cấp dịch vụ cho khách hàng. (3) Năng lực phục vụ (Competence): Nói lên trình độ chuyên môn để thực hiện dịch vụ. Khả năng phục vụ biểu hiện khi nhân viên tiếp xúc với khách hàng, nhân viên trực tiếp thực hiện dịch vụ, khả năng nghiên cứu để nắm bắt thông tin liên quan cần thiết cho việc phục vụ khách hàng. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 11 (4) Tiếp cận (Access): Liên quan đến việc tạo mọi điều kiện dễ dàng cho khách hàng trong việc tiếp cận dịch vụ như rút ngắn thời gian chờ đợi của khách hàng, địa điểm phục vụ và giờ mở của thuận lợi cho khách hàng.
(5) Lịch sự (Courtesy): Nói lên tính cách phục vụ niềm nở tôn trọng và thân thiện với khách hàng. (6) Thông tin (Communication): Liên quan đến việc giao tiếp, thông đạt cho khách hàng bằng ngôn ngữ mà họ hiểu biết dễ dàng và lắng nghe những vấn đề liên quan đến họ như giải thích dịch vụ, chi phí, giải quyết khiếu nại thắc mắc.