Tổng quan luận án
Sản xuất nông nghiệp giữ vị trí đặc thù trong nền kinh tế Việt Nam với vai trò bảo đảm an sinh xã hội, an ninh lương thực quốc gia và đóng góp vào kim ngạch xuất khẩu. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê (2021), ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 12,56% Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và thu hút khoảng 29,10% lực lượng lao động của toàn bộ nền kinh tế. Nhằm duy trì định hướng phát triển bền vững và bảo đảm an ninh lương thực theo Kết luận số 81-KL/TW ngày 29/7/2020 của Bộ Chính trị, yêu cầu nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực trong bối cảnh đất đai, lao động có xu hướng dịch chuyển sang các khu vực công nghiệp và dịch vụ ngày càng trở nên cấp thiết. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu và tài nguyên dần khan hiếm, việc tính toán năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) đóng vai trò là thước đo phản ánh mức độ bền vững và hiệu quả phối hợp giữa các yếu tố đầu vào.
Luận án chỉ ra các khoảng trống nghiên cứu chính tại Việt Nam:
- Các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam chủ yếu tiếp cận theo phương pháp hạch toán tăng trưởng hoặc mô hình kinh tế lượng sử dụng hàm sản xuất Cobb-Douglas; chưa có công trình nào sử dụng trực tiếp phương pháp chỉ số, cụ thể là công thức chỉ số Tornqvist, để đo lường TFP nông nghiệp cấp quốc gia.
- Đa phần các nghiên cứu tập trung vào ngành cấp 1 (bao gồm cả lâm nghiệp và thủy sản) hoặc giới hạn ở một số sản phẩm riêng lẻ như lúa gạo, cao su, cà phê; thiếu các đánh giá toàn diện cho ngành nông nghiệp cấp 2 (trồng trọt và chăn nuôi).
- Mốc thời gian nghiên cứu của các công bố học thuật độc lập mới chỉ cập nhật số liệu đến trước năm 2006; các cơ quan nhà nước chưa công bố chỉ tiêu TFP nông nghiệp định kỳ trong Niên giám Thống kê.
- Chưa có nghiên cứu TFP nông nghiệp nào tại Việt Nam thực hiện điều chỉnh chất lượng đầu vào, dẫn đến nguy cơ ước tính quá cao mức tăng trưởng năng suất thực tế.
Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của luận án là đo lường và phân rã năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) ngành nông nghiệp Việt Nam, có thực hiện điều chỉnh chất lượng đầu vào. Các mục tiêu cụ thể gồm:
- Đo lường TFP ngành nông nghiệp Việt Nam (bao gồm trồng trọt và chăn nuôi) bằng phương pháp chỉ số Tornqvist nhằm bổ sung phương pháp luận và tạo nguồn dữ liệu đối sánh.
- Thực hiện điều chỉnh chất lượng đầu vào đối với đất và lao động nông nghiệp để hạn chế sai lệch ước lượng qua thời gian.
- Phân rã TFP nông nghiệp thông qua phương pháp bao dữ liệu (DEA) nhằm nhận diện nguồn gốc tăng trưởng năng suất từ thay đổi công nghệ và thay đổi hiệu quả kỹ thuật.
- Đề xuất các khuyến nghị chính sách và giải pháp hoàn thiện công tác thống kê đo lường TFP nông nghiệp tại Việt Nam.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Đo lường năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) ngành nông nghiệp Việt Nam.
- Phạm vi nội dung và ngành: Tập trung vào ngành nông nghiệp cấp 2 (trồng trọt và chăn nuôi) theo Hệ thống ngành kinh tế Việt Nam (VSIC) và phân loại quốc tế ISIC phiên bản 4; không bao gồm ngành lâm nghiệp, thủy sản và hoạt động quản lý nhà nước trong nông nghiệp.
- Phạm vi không gian: Toàn bộ lãnh thổ Việt Nam ở cấp quốc gia, 63 tỉnh/thành phố và các vùng sinh thái nông nghiệp.
- Phạm vi thời gian: Giai đoạn 2000-2020 đối với bộ dữ liệu cấp quốc gia (sử dụng chỉ số Tornqvist) và giai đoạn 2010-2020 đối với bộ dữ liệu cấp tỉnh/thành phố và cấp vùng (sử dụng phương pháp DEA).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan lý luận và thực nghiệm quốc tế ghi nhận sự phát triển của các phương pháp đo lường TFP qua nhiều giai đoạn:
- Giai đoạn 1950-1970: Phương pháp hạch toán tăng trưởng khởi xướng từ công trình của Solow (1957) và mô hình kinh tế lượng sử dụng hàm sản xuất Cobb-Douglas giữ vai trò chủ đạo. Dù vậy, các phương pháp này không đo lường được sự thay đổi hiệu quả kỹ thuật (TEC) và phụ thuộc lớn vào việc lựa chọn dạng hàm (Nguyễn Thị Lương và Võ Thành Danh, 2020).
- Giai đoạn 1970-1980: Phương pháp chỉ số phi tham số được phát triển bởi Hicks (1961), Moorsteen (1961), Christensen (1975) và Diewert (1976, 1992). Darku và cộng sự (2013) ghi nhận phần lớn nghiên cứu TFP nông nghiệp thời kỳ này áp dụng phương pháp chỉ số, trong đó công thức Fisher và Tornqvist phổ biến nhất. Phương pháp này không đòi hỏi ước tính dạng hàm phức tạp nhưng không phân rã được TFP và đòi hỏi dữ liệu về giá.
- Giai đoạn 1990-2000: Phương pháp bao dữ liệu (DEA) dựa trên hàm khoảng cách do Farrell (1957) khởi xướng và được Fare và cộng sự (1994) cùng Coelli và cộng sự hoàn thiện. DEA giải quyết các bài toán quy hoạch tuyến tính để dựng đường biên sản xuất mà không yêu cầu giả định dạng hàm hay thông tin về giá.
- Giai đoạn từ sau năm 2000: Phương pháp phân tích biên ngẫu nhiên (SFA) bắt nguồn từ Aigner và Chu (1968) được sử dụng song song với DEA. Theo Mahadevan (2003), Mahadevan và Kalirajan (1999), Kalirajan và Shand (1994), Odhiambo và Nyangito (2003), cách tiếp cận biên (frontier) phân rã được TFP thành thay đổi công nghệ (TC) và thay đổi hiệu quả kỹ thuật (TEC), trong khi cách tiếp cận phi biên (non-frontier) mặc định hiệu quả kỹ thuật đạt mức tuyệt đối. Kevin Fox (2016) nhấn mạnh việc không tính đến suy thoái đất và chất lượng nước sẽ làm sai lệch bản chất tăng trưởng năng suất nông nghiệp bền vững. Tổ chức Nông lương Liên Hợp Quốc (FAO, 2017, 2018), Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD, 2001, 2015, 2022), Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO, 2007, 2017), Tim Collie và cộng sự (2005) cùng Fuglie (2015) đã chuẩn hóa khung hạch toán đầu vào, đầu ra và khuyến nghị phối hợp các chỉ tiêu năng suất.
Tại Việt Nam, các nghiên cứu trước năm 2000 chủ yếu giới hạn ở năng suất đơn nhân tố (PFP), đặc biệt là năng suất lao động. Sau năm 2000, nghiên cứu TFP bắt đầu xuất hiện:
- Các cơ quan quản lý: Từ năm 2005, chỉ tiêu tốc độ tăng TFP được đưa vào Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia nhưng Tổng cục Thống kê chưa công bố định kỳ trong Niên giám Thống kê. Viện Năng suất Việt Nam có tính TFP cho ngành cấp 1 bằng phương pháp hạch toán tăng trưởng kết hợp hàm Cobb-Douglas (Tăng Văn Khiên, 2005, 2018; Trần Văn Thọ, 1997).
- Các nghiên cứu thực nghiệm học thuật: Tiêu biểu gồm Nguyen và Goletti (2001), Vu Hoang Linh (2009), Ho Dinh Bao (2012), Vu Hoang Linh và Le Dinh Quy Nguyen (2021). Tuy nhiên, các nghiên cứu này chỉ khảo sát chuỗi số liệu đến năm 2006, sử dụng hàm sản xuất hoặc DEA/SFA cho các nhóm cây trồng đơn lẻ, chưa bao quát toàn ngành nông nghiệp cấp 2 đến các giai đoạn gần đây.
Luận án định vị nghiên cứu thông qua việc giải quyết các khoảng trống: bổ sung ứng dụng chỉ số Tornqvist ở cấp quốc gia; thực hiện phân rã TFP bằng DEA Malmquist cổ điển và toàn cục ở cấp tỉnh và cấp vùng; mở rộng phạm vi thời gian đến năm 2020; và áp dụng kỹ thuật điều chỉnh chất lượng đầu vào đối với đất và lao động.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án dựa trên lý thuyết kinh tế học sản xuất về năng suất:
- Năng suất là tỷ lệ so sánh giữa kết quả đầu ra và chi phí đầu vào (OECD, 2001; Shafi, 1984).
- Luận án phân biệt rõ hai nhóm chỉ tiêu: Năng suất đơn nhân tố (PFP - đo lường một đầu vào riêng lẻ như đất, lao động, vốn) và Năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP - đo lường đóng góp tổng hợp của mọi yếu tố sản xuất chính). Do PFP dễ gây hiểu lầm khi có sự thay thế giữa các yếu tố (Kathuria và cộng sự; Coelli và cộng sự, 2005), TFP được lựa chọn làm trọng tâm nghiên cứu.
- Nguồn tăng trưởng TFP: Dựa trên mô hình hàm khoảng cách theo hướng tiếp cận đầu ra của Farrell (1957), sản lượng gia tăng được phân rã thành: đóng góp của thay đổi hiệu quả kỹ thuật (TEC), đóng góp của thay đổi công nghệ (TC) và đóng góp của gia tăng lượng đầu vào. Phương trình tăng trưởng TFP được xác định: $TFP = TEC \times TC$.
| Đặc tính so sánh |
Hạch toán tăng trưởng |
Mô hình hàm sản xuất |
Chỉ số TFP (Tornqvist) |
Phương pháp bao dữ liệu (DEA) |
Phân tích biên ngẫu nhiên (SFA) |
| Bản chất phương pháp |
Phi tham số |
Tham số |
Phi tham số |
Phi tham số |
Tham số |
| Giả định dạng hàm sản xuất |
Có |
Có |
Không |
Không |
Có |
| Tính được hiệu quả kỹ thuật (TE) |
Không |
Không |
Không |
Có |
Có |
| Tính được thay đổi công nghệ (TC) |
Có |
Có |
Có |
Có |
Có |
| Nhạy cảm với lượng biến đột xuất |
Có |
Không |
Có |
Có |
Không |
| Kiểm định giả thuyết thống kê |
Không |
Có |
Không |
Không |
Có |
| Yêu cầu dữ liệu về giá |
Có |
Không |
Có |
Không |
Không |
| Yêu cầu quy mô mẫu quan sát |
Rất ít quan sát |
Cần mẫu lớn |
Tối thiểu 2 quan sát |
Cỡ mẫu trung bình |
Cần mẫu lớn |
Luận án áp dụng kết hợp hai phương pháp định lượng phi tham số:
- Phương pháp chỉ số Tornqvist: Đo lường Chỉ số lượng đầu ra (TOI), Chỉ số lượng đầu vào (TII) và Chỉ số TFP cấp quốc gia giai đoạn 2000-2020 dựa trên chuỗi số liệu liên hoàn. Tỷ trọng doanh thu được sử dụng làm quyền số cho đầu ra và tỷ trọng chi phí làm quyền số cho đầu vào.
- Phương pháp bao dữ liệu (DEA):
- Sử dụng chỉ số năng suất Malmquist cổ điển định hướng đầu ra (Fare và cộng sự, 1994) dưới giả định hiệu quả quy mô thay đổi (VRS) và không đổi (CRS) để phân rã TFP thành TEC và TC cho 63 tỉnh/thành phố giai đoạn 2010-2020.
- Sử dụng chỉ số Malmquist toàn cục (Global Malmquist Index) để đánh giá sự chuyển dịch công nghệ và khắc phục hiện tượng công nghệ khả thi không đồng nhất giữa các vùng sinh thái nông nghiệp.
- Kỹ thuật điều chỉnh chất lượng đầu vào:
- Lao động: Xây dựng chỉ số chất lượng lao động dựa trên cơ cấu trình độ học vấn, chuyên môn và tiền lương của lực lượng lao động nông nghiệp.
- Đất: Điều chỉnh diện tích đất canh tác thông qua hệ số sử dụng đất và năng suất cây trồng nhằm phản ánh độ phì nhiêu và cường độ canh tác.
Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ Tổng cục Thống kê (GSO), Niên giám Thống kê, Khảo sát Mức sống dân cư Việt Nam (VHLSS), Điều tra Lao động - Việc làm (LFS), Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, FAOSTAT và Hiệp hội Phân bón Thế giới (IFA):
- Đầu ra: Giá trị sản xuất nông nghiệp (giá thực tế và giá so sánh 2010), sản lượng các nhóm sản phẩm trồng trọt và chăn nuôi.
- Đầu vào: Đất (diện tích đất sản xuất nông nghiệp), Lao động (số người làm việc, số giờ công làm việc), Vốn (số máy móc thiết bị quy đổi về công suất máy 40 CV, tổng công suất máy nông nghiệp), Chi phí trung gian (khối lượng phân bón hóa học NPK, lượng thuốc trừ sâu sử dụng trên 1 ha).
- Phần mềm xử lý số liệu: TFPIP phiên bản 1.1, phần mềm R và gói lệnh FEAR 3.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý luận và tổng quan nghiên cứu về năng suất các nhân tố tổng hợp trong nông nghiệp
Chương này hệ thống hóa các khái niệm nền tảng về năng suất từ Adam Smith (1776), OECD (2001) đến FAO (2018). Luận án phân tích chi tiết đặc thù của sản xuất nông nghiệp: phụ thuộc vào tài nguyên thiên nhiên, biến đổi khí hậu, tính mùa vụ, sự phức tạp của nguồn lao động gia đình và tính đa dạng của sản phẩm. Tác giả phân biệt năng suất đơn nhân tố (PFP đất, PFP lao động, PFP vốn) với năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP), khẳng định TFP phản ánh bao quát tiến bộ công nghệ, kỹ năng quản lý và chất lượng đầu vào. Về mặt phương pháp, chương phân chia các cách tiếp cận thành nhóm biên và phi biên, so sánh năm phương pháp đo lường (Hạch toán tăng trưởng, Hàm sản xuất, Chỉ số TFP, DEA, SFA). Về dữ liệu, chương chuẩn hóa tiêu chuẩn xác định lượng và giá của đầu ra (loại trừ tổn thất sau thu hoạch và các khâu chế biến ngoài trang trại) cùng bốn nhóm đầu vào thiết yếu (đất canh tác, giờ lao động, tài sản máy móc và chi phí trung gian). Phần tổng quan tài liệu trong và ngoài nước xác lập rõ 4 khoảng trống nghiên cứu làm cơ sở cho các chương tiếp theo.
Chương 2: Phương pháp tính năng suất các nhân tố tổng hợp trong nông nghiệp Việt Nam
Chương 2 thiết lập khung phân tích định lượng chi tiết cho luận án. Tác giả trình bày mô hình toán học của chỉ số Tornqvist sử dụng logarit sai phân để đo lường tỷ lệ tăng trưởng đầu ra và đầu vào. Đối với phương pháp DEA, chương mô tả cấu trúc các bài toán quy hoạch tuyến tính tính hàm khoảng cách theo hướng đầu ra, nguyên lý phân rã chỉ số Malmquist cổ điển thành hiệu quả kỹ thuật (TEC) và thay đổi công nghệ (TC), cũng như thuật toán Malmquist toàn cục để xử lý đường biên chung giữa các vùng. Điểm nhấn phương pháp luận của chương là quy trình điều chỉnh chất lượng đầu vào:
- Đối với đất: Tính toán hệ số điều chỉnh chất lượng từ tỷ lệ đất có tưới tiêu và hệ số quay vòng sử dụng đất.
- Đối với lao động: Tính toán hệ số chất lượng lao động qua tỷ lệ lao động qua đào tạo và thang bảng lương tương đối giữa các nhóm kỹ năng từ dữ liệu VHLSS và LFS.
Chương kết thúc bằng sơ đồ khung nghiên cứu đồng bộ hóa việc sử dụng các phần mềm TFPIP 1.1, R và FEAR 3.
Chương 3: Sử dụng chỉ số Tornqvist tính năng suất các nhân tố tổng hợp trong nông nghiệp Việt Nam giai đoạn 2000-2020
Chương 3 khái quát bối cảnh nông nghiệp Việt Nam từ năm 1976 đến 2020, nhấn mạnh tác động của các quyết sách lớn như Nghị quyết số 26/2008/NQ-TW về nông nghiệp, nông dân, nông thôn và Nghị quyết số 63/2009/NQ-CP về an ninh lương thực quốc gia. Tác giả thống kê mô tả sự biến động của đầu ra (cơ cấu trồng trọt, chăn nuôi) và các yếu tố đầu vào (đất, số giờ lao động, số máy móc quy đổi 40 CV, lượng phân bón NPK và lượng thuốc trừ sâu trên 1 ha).
Kết quả tính toán chỉ số Tornqvist giai đoạn 2000-2020:
- Khi chưa điều chỉnh chất lượng đầu vào: Tốc độ tăng TFP bình quân đạt 2,29%/năm; trong đó Chỉ số lượng đầu ra (TOI) tăng nhanh hơn Chỉ số lượng đầu vào (TII).
- Khi điều chỉnh chất lượng đầu vào đất: Tốc độ tăng TFP bình quân có sự suy giảm nhẹ so với mức chưa điều chỉnh.
- Khi điều chỉnh đồng thời cả đất và lao động: Tốc độ tăng TFP bình quân đạt 2,15%/năm (giảm 0,14 điểm phần trăm so với mức chưa điều chỉnh 2,29%).
Sự chênh lệch này chứng minh việc không điều chỉnh chất lượng đầu vào sẽ đánh giá quá cao TFP thực chất, do một phần tăng trưởng sản lượng thực tế bắt nguồn từ việc nâng cao trình độ lao động và tăng cường thâm canh đất đai chứ không hoàn toàn do năng suất tổng hợp.
Chương 4: Sử dụng phương pháp bao dữ liệu tính và phân rã năng suất các nhân tố tổng hợp trong nông nghiệp Việt Nam giai đoạn 2010-2020
Chương 4 mở rộng phân tích định lượng xuống cấp địa phương bằng bộ dữ liệu bảng của 63 tỉnh/thành phố giai đoạn 2010-2020. Dữ liệu gồm 1 đầu ra (giá trị sản xuất nông nghiệp giá so sánh 2010) và 5 đầu vào (diện tích đất nông nghiệp, số lao động, tổng công suất máy nông nghiệp, khối lượng phân bón hóa học và chi phí trung gian).
Kết quả ước lượng chỉ số Malmquist cổ điển:
- Tốc độ tăng TFP nông nghiệp bình quân toàn quốc giai đoạn 2010-2020 đạt 1,30%/năm.
- Phân rã hai thành phần cho thấy: Thay đổi công nghệ (TC) tăng bình quân 3,50%/năm; trong khi Thay đổi hiệu quả kỹ thuật (TEC) giảm bình quân 2,10%/năm.
- Điều này chỉ ra nguồn tăng trưởng TFP cấp tỉnh chủ yếu dựa vào tiến bộ công nghệ (đưa giống mới, áp dụng cơ giới hóa), trong khi hiệu quả quản lý, phân bổ và sử dụng các yếu tố đầu vào bị suy giảm.
Kết quả ước lượng chỉ số Malmquist toàn cục và phân tích cấp vùng:
- Luận án đánh giá các vùng sinh thái nông nghiệp (Trung du miền núi phía Bắc, Đồng bằng sông Hồng, Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, Đồng bằng sông Cửu Long).
- Tồn tại sự chênh lệch đáng kể về TGR (Tỷ số khoảng cách công nghệ) và năng suất đơn nhân tố giữa các vùng. Việc áp dụng chỉ số Malmquist toàn cục khẳng định đường biên công nghệ giữa các vùng không đồng nhất, phản ánh mức độ thích ứng và điều kiện tự nhiên khác biệt rõ rệt giữa Đồng bằng sông Cửu Long, Đồng bằng sông Hồng và các vùng miền núi.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý thuyết:
- Hệ thống hóa và chuẩn hóa khung lý luận về đo lường TFP cho ngành nông nghiệp cấp 2 (trồng trọt và chăn nuôi) tại Việt Nam, bảo đảm tính tương thích với chuẩn mực quốc tế của FAO và OECD.
- Xây dựng thành công quy trình điều chỉnh chất lượng đầu vào đối với đất và lao động phù hợp với điều kiện dữ liệu thống kê của Việt Nam, cung cấp cơ sở phương pháp luận để chuyển từ đo lường TFP thuần sang TFP có phản ánh biến động chất lượng nguồn lực.
- Bổ sung ứng dụng phương pháp chỉ số Tornqvist và chỉ số Malmquist toàn cục vào tài liệu nghiên cứu năng suất nông nghiệp tại Việt Nam.
Đóng góp về mặt thực tiễn:
- Cung cấp chuỗi số liệu định lượng cập nhật về TFP nông nghiệp Việt Nam cấp quốc gia giai đoạn 2000-2020: TFP tăng trung bình 2,29%/năm (chưa điều chỉnh) và 2,15%/năm (sau khi điều chỉnh chất lượng đất và lao động).
- Làm rõ bản chất tăng trưởng TFP cấp tỉnh giai đoạn 2010-2020: Tốc độ tăng TFP bình quân đạt 1,30%/năm, động lực tăng trưởng hoàn toàn do tiến bộ công nghệ (TC tăng 3,50%/năm), trong khi hiệu quả kỹ thuật suy giảm (TEC giảm 2,10%/năm). Phát hiện này xác định dư địa nâng cao TFP trong tương lai nằm ở khâu cải thiện hiệu quả sử dụng đầu vào.
- Chứng minh thực nghiệm về khoảng cách công nghệ và sự khác biệt năng suất giữa các vùng sinh thái nông nghiệp thông qua chỉ số Malmquist toàn cục.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất:
- Nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả kỹ thuật: Chú trọng đào tạo kỹ năng canh tác cho nông dân, hợp lý hóa việc sử dụng vật tư trung gian (giảm lạm dụng phân bón vô cơ và thuốc bảo vệ thực vật) nhằm hạn chế lãng phí đầu vào.
- Nhóm giải pháp thúc đẩy tiến bộ công nghệ: Tiếp tục đầu tư nghiên cứu và chuyển giao giống cây trồng, vật nuôi có năng suất cao, đẩy mạnh cơ giới hóa đồng bộ các khâu sản xuất.
- Nhóm chính sách đất đai và lao động: Thúc đẩy tích tụ, tập trung đất đai nông nghiệp để đạt hiệu quả quy mô; bảo vệ độ phì nhiêu của đất; tăng cường đào tạo nghề cho lao động nông nghiệp để thích ứng với quá trình công nghiệp hóa.
- Kiến nghị về công tác thống kê: Đề nghị Tổng cục Thống kê và Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu định kỳ phục vụ tính toán TFP ngành nông nghiệp cấp 2; bổ sung các cuộc điều tra giá nông sản tại ruộng và theo dõi suy thoái tài nguyên đất.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án:
- Về phạm vi dữ liệu điều chỉnh chất lượng: Luận án mới chỉ thực hiện điều chỉnh chất lượng cho hai yếu tố đầu vào là đất và lao động; chưa lượng hóa được các tác động tiêu cực từ suy thoái môi trường, xói mòn đất, ô nhiễm nguồn nước và biến đổi khí hậu do hệ thống thống kê chính thức chưa có số liệu định lượng liên tục.
- Về thời gian chuỗi số liệu cấp địa phương: Do hạn chế trong việc thu thập số liệu thống kê đầy đủ của 63 tỉnh/thành phố, phân tích DEA phân rã TFP mới dừng lại ở giai đoạn 2010-2020, chưa đồng bộ trọn vẹn với chuỗi thời gian cấp quốc gia 2000-2020.
- Về phạm vi ngành: Nghiên cứu chưa bao gồm ngành lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản do quy trình sản xuất khác biệt và sự thiếu hụt nghiêm trọng dữ liệu đầu vào, đầu ra chuyên biệt.
Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Bổ sung các chỉ tiêu phản ánh suy thoái tài nguyên và biến động môi trường (tính toán TFP xanh) khi Tổng cục Thống kê công bố các thông tin thống kê chuyên đề trong tương lai.
- Kéo dài chuỗi thời gian phân tích DEA cấp tỉnh/thành phố và mở rộng nghiên cứu TFP cho từng nhóm nông sản chủ lực hoặc tiểu ngành chăn nuôi, trồng trọt chuyên canh.
Giá trị tham khảo
Luận án mang lại giá trị tham khảo chuyên môn cho các nhóm đối tượng:
- Cơ quan quản lý nhà nước và hoạch định chính sách (Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Tổng cục Thống kê): Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở thực nghiệm đánh giá việc thực hiện Nghị quyết 26/2008/NQ-TW, Nghị quyết 63/2009/NQ-CP và Kết luận số 81-KL/TW; hỗ trợ Tổng cục Thống kê xây dựng quy trình tính toán TFP ngành cấp 2 phục vụ Niên giám Thống kê.
- Nghiên cứu sinh, học viên và giảng viên kinh tế: Cung cấp khung tài liệu tham khảo về mặt phương pháp luận đo lường kinh tế học sản xuất, đặc biệt là quy trình áp dụng chỉ số Tornqvist, phương pháp lập trình tuyến tính DEA (Malmquist cổ điển và toàn cục), cùng phương thức vận hành các phần mềm TFPIP 1.1, R và FEAR 3.
- Các nhà phân tích chính sách nông nghiệp địa phương: Cung cấp bức tranh thực trạng về hiệu quả kỹ thuật và tiến bộ công nghệ của từng tỉnh/thành phố và từng vùng sinh thái nông nghiệp để xây dựng chính sách phân bổ nguồn lực phù hợp.
Câu hỏi thường gặp
-
Vì sao luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu ở ngành nông nghiệp cấp 2 mà không tính cho toàn bộ ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản?
Theo phân loại ISIC phiên bản 4, VSIC và hướng dẫn của FAO (2018), quy trình sản xuất của lâm nghiệp và thủy sản có sự khác biệt căn bản so với trồng trọt và chăn nuôi. Hơn nữa, việc thu thập dữ liệu đầu ra và đầu vào cho thủy sản và lâm nghiệp gặp phải tình trạng thiếu hụt số liệu nghiêm trọng (Craig, Pardey và Roseboom, 1997). Do đó, giới hạn ở ngành cấp 2 (trồng trọt và chăn nuôi) bảo đảm tính chính xác, khả thi và thuận tiện cho việc so sánh quốc tế.
-
Tốc độ tăng TFP nông nghiệp Việt Nam giai đoạn 2000-2020 thay đổi như thế nào sau khi thực hiện điều chỉnh chất lượng đầu vào?
Khi tính toán bằng chỉ số Tornqvist chưa điều chỉnh chất lượng đầu vào, TFP nông nghiệp Việt Nam tăng bình quân 2,29%/năm. Sau khi thực hiện điều chỉnh chất lượng đối với hai yếu tố đầu vào là đất và lao động, tốc độ tăng TFP bình quân giảm xuống còn 2,15%/năm (giảm 0,14 điểm phần trăm). Điều này chứng minh việc không điều chỉnh sẽ dẫn đến ước tính quá cao năng suất thực chất.
-
Kết quả phân rã TFP cấp tỉnh giai đoạn 2010-2020 bằng phương pháp DEA phản ánh thực trạng gì của sản xuất nông nghiệp Việt Nam?
Kết quả phân rã chỉ số Malmquist cho thấy TFP cấp tỉnh tăng bình quân 1,30%/năm, trong đó thay đổi công nghệ (TC) tăng 3,50%/năm nhưng thay đổi hiệu quả kỹ thuật (TEC) lại giảm 2,10%/năm. Thực trạng này cho thấy tăng trưởng TFP nông nghiệp Việt Nam phụ thuộc chủ yếu vào việc tiếp nhận tiến bộ công nghệ từ bên ngoài mà chưa khai thác tối ưu hiệu quả sử dụng và quản lý các yếu tố đầu vào.
-
Luận án đã sử dụng những phần mềm chuyên dụng nào để tính toán và xử lý số liệu?
Luận án sử dụng phần mềm TFPIP phiên bản 1.1 (phần mềm chuyên dụng tính toán chỉ số TFP), phần mềm thống kê R và gói lệnh FEAR phiên bản 3 (dùng để ước lượng các bài toán quy hoạch tuyến tính và phân rã chỉ số Malmquist trong phương pháp DEA).
-
Mục đích của việc sử dụng chỉ số Malmquist toàn cục (Global Malmquist Index) bên cạnh chỉ số Malmquist cổ điển là gì?
Chỉ số Malmquist cổ điển giả định tất cả các địa phương đều tiếp cận cùng một đường biên công nghệ chung trong từng thời kỳ. Việc bổ sung chỉ số Malmquist toàn cục nhằm tính đến sự khác biệt đặc thù về công nghệ và điều kiện tự nhiên giữa các vùng sinh thái nông nghiệp Việt Nam, giúp lượng hóa chính xác tỷ số khoảng cách công nghệ (TGR) giữa các vùng.
Kết luận
Luận án của tác giả Lê Hoàng Minh Nguyệt là công trình nghiên cứu hệ thống về đo lường năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) trong nông nghiệp Việt Nam với việc cập nhật dữ liệu chuỗi thời gian quốc gia giai đoạn 2000-2020 và cấp tỉnh giai đoạn 2010-2020. Nghiên cứu kết hợp hai công cụ định lượng phi tham số là chỉ số Tornqvist và phương pháp bao dữ liệu (DEA) để vừa đo lường tốc độ tăng TFP có điều chỉnh chất lượng đầu vào đất và lao động, vừa phân rã nguồn gốc tăng trưởng thành thay đổi công nghệ và thay đổi hiệu quả kỹ thuật. Các phát hiện thực nghiệm chỉ ra rằng TFP nông nghiệp Việt Nam đạt mức tăng trưởng dương nhưng phụ thuộc chủ yếu vào tiến bộ công nghệ trong khi hiệu quả kỹ thuật còn suy giảm. Đây là cơ sở khoa học xác thực phục vụ công tác thống kê chỉ tiêu năng suất quốc gia và hoạch định chính sách nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực nông nghiệp trong tương lai.