Chương 1: Tổng quan nội dung nghiên cứu 9 Chương 2: Cơ sở khoa học sử dụng ảnh chụp bằng máy bay không người lái phục vụ thành lập BĐĐH Chương 3: Thực nghiệm thành lập BĐĐH bằng ảnh máy bay không người lái Kết luận và kiến nghị Tài liệu tham khảo Để hoàn thành đồ án, bản thân em không ngừng học tập, tìm hiểu công nghệ và tham khảo rất nhiều tài liệu. Trong quá trình thực hiện, em đã nhận được nhiều sự giúp đỡ quí báu có hiệu quả từ các thầy, cô trong khoa Trắc địa – Bản đồ, Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội và các bạn bè đồng nghiệp. Đặc biệt cho em gửi lời biết ơn chân thành tới ThS: Đỗ Thị Hoài - người đã trực tiếp tận tình hướng dẫn, chỉ bảo em trong suốt thời gian thực hiện đồ án tốt nghiệp. Mặc dù em đã có nhiều rất cố gắng nhưng trong quá trình làm đồ án không thể tránh được những sai sót.
Em rất mong nhận được ý kiến của các thầy cô cùng các bạn đồng nghiệp để kiến thức của em sẽ hoàn thiện hơn. Em xin chân thành cảm ơn! Hà Nội, tháng 6 năm 2015. TỔNG QUAN NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về BĐĐH 1.
Định nghĩa BĐĐH là biểu thị thu nhỏ một phần hay toàn bộ bề mặt Trái Đất dựa trên một quy luật toán học nhất định. Nội dung trên bản đồ được thể hiện bằng ký hiệu quy định, những ký hiệu đó được gọi là ngôn ngữ bản đồ và đã thông qua một quá trình tổng quát hóa nhằm phản ánh sự phân bố các tính chất, các mối quan hệ, sự biến đổi các đối tượng và các hiện tượng tự nhiên, kinh tế xã hội phù hợp với mục đích sử dụng. BĐĐH thuộc loại bản đồ địa lý chung. Nội dung BĐĐH bao gồm các yếu tố sau: cơ sở toán học, thủy hệ, giao thông, dáng đất, ranh giới, dân cư, thực vật.
Mức độ đầy đủ, tỉ mỉ của nội dung phải phù hợp với mục đích sử dụng bản đồ và đặc điểm khu vực. BĐĐH cần phải rõ ràng, dễ đọc, cho phép định hướng dễ dàng nhanh chóng ở thực địa. Các yếu tố biểu thị trên bản đồ cần phải đầy đủ chính xác, cho phép người đọc xác định được định tính, định lượng của vùng địa hình. Phân loại BĐĐH Phân loại theo tỷ lệ Bản đồ tỷ lệ lớn gồm các bản đồ có tỷ lệ 1:500 đến 1:200.000; Bản đồ tỷ lệ trung bình gồm các bản đồ tỷ lệ 1:250.000; Bản đồ tỷ lệ nhỏ gồm các bản đồ tỷ lệ nhỏ hơn 1:1.
Phân loại theo nội dung Nhóm BĐĐH tỷ lệ 1:500 đến 1:200.000 bao gồm: + BĐĐH tỷ lệ lớn 1:500 đến 1:5.000; + BĐĐH tỷ lệ trung bình 1:10.000; + BĐĐH tỷ lệ nhỏ 1:100. Nhóm BĐĐH khái quát: tỷ lệ 1:250. + Nhóm BĐĐH khái quát bao gồm các bản đồ có tỷ lệ nhỏ hơn 1:1. 11 Phân loại bản đồ theo mục đích sử dụng BĐĐH cơ bản: là loại bản đồ phản ánh các yếu tố địa hình địa vật trên bề mặt lãnh thổ ở thời điểm đo vẽ với độ chính xác và tin cậy cao, mức độ chi tiết và tương đối đồng đều.
BĐĐH chuyên dụng: là loại bản đồ thành lập để giải quyết mục đích cụ thể của một hay nhiều ngành. Trên bản đồ ưu tiên phản ánh các đối tượng địa hình, địa vật phục vụ cho mục đích chuyên dụng hoặc chuyên ngành thì được phản ánh một cách chi tiết, mặt khác thì phản ánh sơ sài hơn đối với những đối tượng địa hình, địa vật ít sử dụng. Bản đồ nền địa hình: là loại bản đồ đã được lược bớt đi một số đặc điểm tính chất của các yếu tố địa hình, địa vật nhằm giảm nhẹ trọng tải của bản đồ, có thể coi bản đồ đã được đơn giản hóa. Về hình thức trình bày bản đồ nền địa hình vẫn giữ nguyên hệ thống ký hiệu của BĐĐH cơ bản nhưng có giảm bớt số lượng màu in.
Bản đồ này dùng làm cơ sở địa hình thể hiện các yếu tố của bản đồ chuyên môn, chuyên đề. Vai trò BĐĐH BĐĐH cho phép ta bao quát những phạm vi bất kỳ của bề mặt Trái Đất. BĐĐH tạo ra bề mặt nhìn thấy được của nhiều yếu tố, như dáng đất hình dạng kích thước và vị trí tương quan của các đối tượng. Từ bản đồ ta có thể xác định được các đặc trưng như toạ độ, phương hướng diện tích, độ cao độ dốc.
BĐĐH còn chứa nhiều thông tin về các đại lượng, số lượng, cấu trúc của các đối tượng và những mối liên hệ tồn tại giữa chúng. Do vậy BĐĐH có vai trò cực kỳ quan trọng và to lớn trong phát triển dân sinh, kinh tế của con người. Trong xây dựng công nghiệp, năng lượng, giao thông và các công trình khác, bản đồ sử dụng rộng rãi ở các giai đoạn khác nhau, từ công việc thiết kế kỹ thuật, chuyển thiết kế ra ngoài thực địa đến khi công trình hoàn thành và theo dõi sự hoạt động của công trình, ảnh hưởng của công trình đến môi trường xung quanh. BĐĐH trong xây dựng thuỷ lợi, cải tạo đất quy hoạch đồng ruộng và chống xói mòn.
12 BĐĐH có vai trò rất quan trọng trong việc quy hoạch toàn bộ nền kinh tế quốc gia. Trong lâm nghịêp BĐĐH đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc bảo vệ và quy hoạch kinh tế rừng. Các kết quả nghiên cứu khoa học về địa chất, thăm dò tìm kiếm đều được bắt đầu từ BĐĐH và kết thúc bằng bản đồ chuyên đề. Các kết quả nghiên cứu được thể hiện trên bản đồ, được chính xác hoá trên bản đồ và chúng làm phong phú thêm nội dung bản đồ.
Trong mục đích quân sự bản đồ dùng để nghiên cứu, bố trí trận địa, các căn cứ bảo vệ tổ quốc và đặc biệt là pháo binh. Với một số loại bản đồ có tỷ lệ lớn từ 1:5000 - 1:500 nó có công dụng sau: - Thiết kế chi tiết mặt bằng cho thành phố, bố trí hệ thống cấp thoát nước điện dân dụng và các công trình khác khi xây dựng thành phố. - Lập bản đồ thiết kế kỹ thuật và bản đồ khái quát chung cho các cảng, xí nghiệp công trình thuỷ điện, đặt các tuyến đường và các kênh mương. Tùy theo từng yêu cầu kỹ thuật, từng dạng công việc mà chúng ta chọn tỷ lệ bản đồ cần thành lập.
Cơ sở toán học BĐĐH Cơ sở toán học của BĐĐH nhằm đảm bảo độ chính xác của bản đồ, đáp ứng yêu cầu sử dụng, đồng thời có thể ghép nhiều mảnh bản đồ lại với nhau mà vẫn giữ được tính nhất quán. Phép chiếu Để biểu thị các yếu tố địa hình, địa vật lên mặt phẳng tờ bản đồ sao cho chính xác, ít bị biến dạng nhất ta phải sử dụng phép chiếu hình bản đồ thích hợp. Các yếu tố địa hình, địa vật là tập hợp của vô số điểm có quy luật nhất định trong không gian và ta chỉ cần biểu thị một số đặc điểm đặc trưng rồi dựa vào quy luật đó để nội suy, khái quát hoá các điểm khác. Trong khi lựa chọn hệ quy chiếu phải đặc biệt ưu tiên giảm nhỏ đến mức có thể ảnh hưởng của biến dạng phép chiếu đến kết quả thể hiện các yếu tố trên bản đồ.
13 Hiện nay, có hai phép chiếu đẳng góc có khả năng sử dụng cho BĐĐH ở Việt Nam đó là phép chiếu Gauss - krueger (trong hệ HN - 72) và phép chiếu UTM (trong hệ VN - 2000). Phép chiếu Gauss - krueger Hình 1. Phép chiếu Gauss - krueger Đặc điểm: Là phép chiếu đồng góc; Kinh tuyến giữa của múi 6o là các đoạn thẳng có độ dài bằng độ dài của kinh tuyến thực và vuông góc với xích đạo; Các kinh tuyến khác là các đoạn cong khum quay bề lõm về kinh tuyến giữa và đối xứng với nhau qua kinh tuyến giữa của mỗi múi; Xích đạo sau khi chiếu là đoạn thẳng vuông góc với kinh tuyến giữa; Các vĩ tuyến khác là những đường cong khum giới hạn bởi 2 kinh tuyến biên của mỗi múi và quay bề lõm về phía hai cực và đối xứng với nhau qua đường xích đạo. Kinh tuyến giữa là đường chuẩn không có biến dạng (ko = 1), càng xa đường chuẩn biến dạng càng tăng, biến dạng lớn nhất là giao của xích đạo với hai kinh tuyến biên.
Lãnh thổ Việt Nam theo phép chiếu hình Gauss, phần đất liền chủ yếu trải trong phạm vi múi thứ 18 có kinh tuyến giữa là 105oĐ (trừ Mường Tè, Đà Nẵng, Bình Thuận. Do đó, trong hệ HN - 72 sử dụng phép chiếu hình Gauss làm cơ sở toán học cho BĐĐH là hợp lý. 14 Nhằm đảm bảo độ chính xác ta dùng phép chiếu hình Gauss với múi chiếu 6o để đảm bảo cơ sở toán học khi thành lập BĐĐH tỷ lệ 1:10.000 và nhỏ hơn, dùng phép chiếu Gauss với múi chiếu 3o hoặc nhỏ hơn để thành lập BĐĐH tỷ lệ lớn từ 1:5. Phép chiếu UTM Hình 1.
Phép chiếu UTM Đặc điểm: Là phép chiếu đồng góc; Kinh tuyến giữa của múi 6o là các đoạn thẳng. Các kinh tuyến khác là các đoạn cong khum quay bề lõm về kinh tuyến giữa và đối xứng với nhau qua kinh tuyến giữa của mỗi múi; Xích đạo sau khi chiếu là đoạn thẳng vuông góc với kinh tuyến giữa. Các vĩ tuyến khác là những đường cong quay bề lõm về phía hai cực và đối xứng với nhau qua đường xích đạo; Hình chiếu của các kinh tuyến vuông góc với hình chiếu của các vĩ tuyến; Hai đường kinh tuyến chuẩn nằm về hai phí của kinh tuyến trục trên đường chuẩn không có biến dạng, càng xa đường chuẩn biến dạng càng tăng, biến dạng lớn nhất là giao của xích đạo với hai kinh tuyến biên và kinh tuyến giữa (ko = 0,9996). Hiện nay, để thuận lợi cho việc sử dụng hệ toạ độ chung trong khu vực cũng như toàn cầu, trong hệ toạ độ quốc gia mới VN - 2000 sử dụng phép chiếu UTM thay cho phép chiếu Gauss.
15 So với phép chiếu hình Gauss, phép chiếu UTM có ưu điểm là độ biến dạng được phân bố đồng đều và có trị số nhỏ. Tỷ lệ độ dài trên kinh tuyến trục là k=0,9996 còn hai kinh tuyến biên lớn hơn 1. Hệ tọa độ Để xác định vị trí của các điểm trên bề mặt Trái Đất, trong trắc địa - bản đồ đã sử dụng nhiều hệ toạ độ khác nhau [1]. Hệ toạ độ địa lý ( , ) Trong hệ toạ độ địa lý nhận quả đất là hình cầu, gốc toạ độ là tâm O, hai mặt phẳng toạ độ là mặt phẳng xích đạo và mặt phẳng chứa kinh tuyến gốc Greenwich.