Đồ án tốt nghiệp: Thiết kế phân xưởng sản xuất kẹo mềm - SV: Nguyễn Văn Tỵ

Đồ án thiết kế phân xưởng sản xuất kẹo mềm đầy đủ. Bao gồm phân tích kinh tế, lựa chọn công nghệ và dây chuyền thiết bị sản xuất hiện đại.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Đồ án thiết kế
51
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

1. CHƯƠNG 1: LẬP LUẬN KINH TẾ

1.1. Khả năng tiêu thụ sản phẩm kẹo

1.1.1. Sở thích và xu hướng tiêu dùng sản phẩm kẹo trong nước

1.1.2. Tiềm năng của thị trường kẹo

1.1.3. Tăng trưởng kinh tế và đặc điểm kinh tế

1.1.4. Phân tích SWOT ngành Bánh kẹo

1.1.4.1. Điểm mạnh (Strengths)
1.1.4.2. Cơ hội (Opportunities)
1.1.4.3. Thách thức

1.1.5. Triển vọng phát triển ngành

1.1.5.1. Triển vọng về doanh số và sản lượng bánh kẹo trong thời gian tới
1.1.5.2. Triển vọng về giá bánh kẹo

1.2. Lựa chọn năng suất

1.3. Lựa chọn địa điểm xây dựng nhà máy/phân xưởng

2. CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN

2.1. Đại cương về kẹo

2.1.1. Lịch sử về kẹo

2.1.2. Phân loại kẹo

2.1.3. Giá trị dinh dưỡng của kẹo

2.1.3.1. Glucid
2.1.3.2. Lipid
2.1.3.3. Protein
2.1.3.4. Vitamin và khoáng

2.2. Kẹo mềm

2.2.1. Một vài kẹo mềm thông dụng

2.2.1.1. Kẹo bơ (toffee và fudge)
2.2.1.2. Gum và jelly
2.2.1.3. Kẹo hơi
2.2.1.4. Chewing gum

2.3. Nguyên liệu sản xuất kẹo mềm

2.3.1. Saccharose

Tóm tắt

I. Lập Luận Kinh Tế và Tiềm Năng Thị Trường Kẹo Mềm

Đồ án thiết kế phân xưởng sản xuất kẹo mềm được xây dựng trên cơ sở phân tích kỹ lưỡng về tiềm năng kinh tế của ngành bánh kẹo tại Việt Nam. Ngành này đang trải qua giai đoạn tăng trưởng ổn định với tốc độ khoảng 2%/năm trên toàn cầu. Tuy nhiên, khu vực châu Á - Thái Bình Dương đang dẫn đầu với tốc độ tăng trưởng doanh thu lên tới 14% trong giai đoạn 2003-2006. Việt Nam nổi bật với tốc độ tăng trưởng cao 10-12%/năm, vượt xa mức trung bình khu vực 3% và trung bình thế giới 1-1,5%. Sản lượng kẹo mềm Việt Nam dự kiến tăng từ 476.000 tấn năm 2008 lên 706.000 tấn năm 2012, với giá trị bán lẻ tăng từ 674 triệu USD lên 1,5 tỷ USD. Tỷ lệ tăng trưởng doanh số đạt 114,71%/năm, cao nhất trong khu vực, phản ánh sự phát triển mạnh mẽ của thị trường nội địa.

1.1. Khả Năng Tiêu Thụ Sản Phẩm Kẹo

Nhu cầu về bánh kẹo Việt Nam tăng theo sự phát triển dân số và nâng cao mức sống. Dân số Việt Nam trẻ, với 56% dân số dưới 30 tuổi có xu hướng tiêu thụ nhiều kẹo hơn. Mức tiêu thụ kẹo bình quân hiện tại chỉ 1,8kg/người/năm, thấp hơn mức trung bình thế giới, cho thấy tiềm năng tăng trưởng lớn. Dự kiến sản lượng kẹo mềm năm 2010 đạt 100.000 tấn, với tốc độ tăng trưởng doanh số năm 2011 là 10%, cao hơn so với 5,43% (2009) và 6,12% (2010).

1.2. Xu Hướng Tiêu Dùng Sản Phẩm Nội Địa

Người tiêu dùng Việt Nam, đặc biệt ở thành phố lớn, ngày càng ưa thích kẹo nội địa chất lượng cao. Các vụ lùm xùm về bánh kẹo ngoại nhập giả mạo, không đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, khiến người dân quay lại sản phẩm trong nước. Bánh kẹo Việt Nam hiện có giá cạnh tranh, chất lượng tương đương nhưng rẻ hơn hàng ngoại. Chiến lược nâng cao chất lượng, bao bì và giới thiệu sản phẩm mới của doanh nghiệp nội địa tạo nên bước đột phá trong thị trường.

II. Phân Tích Điểm Mạnh và Cơ Hội Phát Triển

Thiết kế phân xưởng sản xuất kẹo mềm có lợi thế cạnh tranh từ nhiều yếu tố kinh tế-xã hội. Về mặt nhân lực, Việt Nam sở hữu lực lượng lao động dồi dào với chi phí nhân công thấp, là yếu tố cạnh tranh quan trọng trong sản xuất. Người tiêu dùng Việt Nam, đặc biệt nhóm trẻ tuổi và thu nhập cao, rất thích các sản phẩm có nhãn hiệu nổi tiếng. Nếu kẹo mềm được hỗ trợ chiến lược đầu tư và quảng cáo rầm rộ, sẽ nhanh chóng thâm nhập thị trường nội địa. Khách hàng tại các đô thị lớn như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh có khả năng tiếp nhận thông tin và sản phẩm mới ở mức độ cao. Gia nhập WTO mở rộng cơ hội xuất khẩu khi các nước bạn hàng dỡ bỏ rào cản thương mại.

2.1. Lợi Thế Về Nguồn Nhân Lực

Lực lượng lao động dồi dào của Việt Nam với chi phí nhân công thấp là ưu thế cạnh tranh cốt lõi. Phân xưởng sản xuất kẹo mềm có thể tuyển dụng lao động có kỹ năng với mức lương cạnh tranh, giảm chi phí sản xuất. Đây là điều kiện thuận lợi để đơn vị sản xuất cạnh tranh giá trên thị trường quốc tế và nội địa.

2.2. Xu Hướng Tiêu Dùng Ủng Hộ Hàng Nội

Phong trào ủng hộ hàng Việt được tuyên truyền rộng rãi tác động mạnh đến xu hướng tiêu dùng. Nhân dân Việt Nam, đặc biệt lứa tuổi trẻ và có thu nhập cao, sẵn lòng chọn bánh kẹo nội chất lượng. Sự chuyển biến ý thức và xu hướng tiêu dùng này tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất kẹo mềm phát triển bền vững.

III. Đặc Điểm Kinh Tế và Động Lực Phát Triển

Nền kinh tế Việt Nam duy trì tăng trưởng ổn định với mức lạm phát được kiểm soát ở 8%, tạo môi trường thuận lợi cho sản xuất kinh doanh. Mức tăng lương đều đặn và chỉ số niềm tin tiêu dùng tăng dần cho thấy người tiêu dùng sẽ chi tiêu nhiều hơn. Xu hướng này kéo theo nhu cầu về thực phẩm nói chung và kẹo mềm nói riêng sẽ tăng vào cuối năm 2011 và các năm sau. Cơ cấu dân số trẻ với quy mô lớn, tỷ lệ dân cư thành thị tăng từ 20% lên 29,6%, khiến Việt Nam trở thành thị trường tiềm năng cho tiêu thụ sản phẩm lương thực thực phẩm. Bánh kẹo Việt Nam sẽ hưởng lợi từ các xu hướng kinh tế vĩ mô này.

3.1. Tăng Trưởng Kinh Tế và Khả Năng Chi Tiêu

Mức tăng trưởng kinh tế Việt Nam tương đối ổn định tạo nền tảng cho phát triển bền vững. Chi tiêu tiêu dùng tăng đều đặn nhờ lương tăng và lạm phát kiểm soát. Chỉ số niềm tin tiêu dùng tăng dần phản ánh tâm lý lạc quan của người dân. Động lực này kéo nhu cầu kẹo mềm tăng mạnh, tạo cơ hội phát triển cho phân xưởng sản xuất.

3.2. Cơ Cấu Dân Số Trẻ và Đô Thị Hóa

56% dân số Việt Nam dưới 30 tuổi với xu hướng tiêu thụ cao bánh kẹo. Tỷ lệ dân cư thành thị tăng từ 20% lên 29,6%, nơi tiêu thụ kẹo mềm nhiều hơn. Thói quen tiêu dùng tại đô thị kết hợp với cơ cấu dân số trẻ tạo động lực mạnh cho tăng trưởng doanh số thị trường bánh kẹo trong tương lai gần.

IV. Phân Tích SWOT và Định Hướng Chiến Lược

Phân tích SWOT ngành bánh kẹo cung cấp cơ sở khoa học cho đồ án thiết kế phân xưởng sản xuất kẹo mềm. Điểm mạnh bao gồm lực lượng lao động dồi dào, chi phí nhân công thấp, và xu hướng tiêu dùng ủng hộ hàng nội. Người tiêu dùng trẻ, thu nhập cao ưa thích sản phẩm có thương hiệu, và khách hàng đô thị tiếp nhận thông tin tốt. Các cơ hội phát triển bao gồm gia nhập WTO mở rộng xuất khẩu, nhu cầu tăng từ mức tiêu thụ thấp, và các vụ bánh kẹo ngoại giả mạo. Chiến lược định hướng phải tập trung vào nâng cao chất lượng, bao bì hiện đại, quảng cáo rầm rộ, và xây dựng thương hiệu kẹo mềm mạnh. Đầu tư kinh tế vào phân xưởng sản xuất là quyết định đúng trong bối cảnh thị trường phát triển mạnh.

4.1. Điểm Mạnh và Cơ Hội Cạnh Tranh

Ngành bánh kẹo Việt Nam có lợi thế rõ ràng từ nhân công rẻ, người tiêu dùng ưa hàng Việt, và khách hàng đô thị tiếp nhận cao. Cơ hội từ gia nhập WTO mở rộng xuất khẩu, nhu cầu cao từ tiêu thụ thấp hiện tại (1,8kg/người/năm), và các sản phẩm kẹo mềm giả mạo ngoại bị bỏ rơi. Những yếu tố này tạo điều kiện hoàn hảo cho phân xưởng sản xuất phát triển nhanh.

4.2. Chiến Lược Nâng Cao Chất Lượng và Thương Hiệu

Chiến lược đầu tư phải tập trung vào nâng cao chất lượng kẹo mềm, bao bì hiện đại, vệ sinh an toàn thực phẩm hoàn hảo, và quảng cáo rầm rộ. Xây dựng thương hiệu mạnh cho bánh kẹo Việt để cạnh tranh giá tốt. Sản xuất kẹo mềm chất lượng cao nhưng giá cạnh tranh sẽ chiếm lĩnh thị trường tiềm năng Việt Nam.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

21/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. LẬP LUẬN KINH TẾ 1.Khả năng tiêu thụ sản phẩm kẹo : Ngành bánh kẹo là một trong những ngành có tốc độ tăng trưởng ổn định (khoảng 2%/năm). Dân số phát triển nhanh khiến nhu cầu về bánh kẹo cũng tăng theo. Hiện nay khu vực châu Á - Thái Bình Dương là khu vực có tốc độ tăng trưởng về doanh thu tiêu thụ bánh kẹo lớn nhất thế giới (14%) trong 4 năm từ 2003 đến 2006 tức khoảng 3%/năm.

Những năm gần đây, cùng với sự phát triển của nền kinh tế và sự gia tăng trong quy mô dân số với cơ cấu trẻ, bánh kẹo là một trong những ngành có tốc độ tăng trưởng cao và ổn định tại Việt Nam. Ngoài ra, dân số với quy mô lớn, cơ cấu dân số trẻ, tỷ lệ dân cư thành thị tăng khá cũng khiến cho Việt Nam trở thành một thị trường tiềm năng về tiêu thụ hàng lương thực thực phẩm trong đó có bánh kẹo. Theo ước tính của BMI, sản lượng bánh kẹo tại Việt Nam năm 2010 sẽ đạt khoảng 100. Dự kiến tăng trưởng về doanh số năm 2011 là 10%, cao hơn so với con số 5,43% và 6,12% của năm 2009 và 2010.

 Sở thích và xu hướng tiêu dùng sản phẩm kẹo trong nước: Các mặt hàng mặt hàng bánh kẹo sản xuất trong nước đang được người dân ưa dùng nhiều hơn. Các phong trào ủng hộ, khuyến khích dùng hàng Việt Nam được tuyên truyền, quảng cáo rộng rãi đã tác động mạnh đến xu hướng tiêu dùng của nhân dân. Sự chuyển biến trong ý thức và xu hướng tiêu dùng, ủng hộ hàng trong nước cùng với các kênh phân phối ngày càng thuận tiện, sản phẩm bánh kẹo nội vì thế cũng được tiêu thụ nhiều hơn bởi chính khách hàng Việt. Ngoài ra, hàng loạt những lùm xùm xung quanh việc bánh kẹo ngoại “dởm”, bánh kẹo mác ngoại chất lượng khó kiểm chứng, không đảm bảo chất lượng tràn lan, khiến người tiêu dùng quay lưng với những sản phẩm “bắt mắt nhưng khó kiểm chứng”.

Về phía mình, các doanh nghiệp trong nước đã chủ động nâng cao vị thế cạnh tranh và tìm lời giải cho bài toán về chất lượng, xuất xứ, vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm của bánh kẹo ngoại mà người tiêu dùng đang e ngại bằng chính sự đầu tư nghiêm túc, tạo bước đột phá cho chất lượng, mẫu mã bao bì và đưa ra nhiều sản phẩm mới phục vụ thị trường. Thêm vào đó bánh kẹo nước ngoài hầu hết giá đều rất cao so với hàng Việt, trong khi chất lượng chỉ tương đương hàng nội .Tiềm năng của thị trường kẹo : Sản lượng bánh kẹo tại Việt Nam năm 2008 vào khoảng 476.000 tấn, đến năm 2012 sẽ đạt khoảng 706.000 tấn; tổng giá trị bán lẻ bánh kẹo ở thị trường Việt Nam năm 2008 khoảng 674 triệu USD, năm 2012sẽ là 1. Tỷ lệ tăng trưởng doanh số bán lẻ bánh kẹo ở thị trường Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2008-2012tính theo USD ước tính khoảng 114,71%/năm, trong khi con số tương tự của các nước trong khu vực như Trung Quốc là 49,09%; Philippines 52,35%; Indonesia64,02%; Ấn Độ 59,64%; Thái Lan 37,3%; Malaysia17,13%…(nguồn: Báo kinh tế Việt Nam).Việt Nam là một thị trường tiềm năng với tốc độ tăng trưởng cao (10-12%) so với mức trung bình trong khu vực (3%) và trung bình của thế giới (1-1,5%). Nguyên nhân là do mức tiêu thụ bánh kẹo bình quân của Việt Nam hiện nay vẫn khá thấp (1,8kg/người/năm) so với trung bình của thế giới.Tăng trưởng kinh tế và đặc điểm kinh tế Với mức tăng trưởng kinh tế tương đối ổn định, mức tăng lương đều đặn, lạm phát được duy trì ở mức 8% thì nhu cầu về thực phẩm nói chung và bánh kẹo nói riêng vào cuối năm 2011 và Nguyễn Văn Tỵ Trang 5 Thiết kế phân xưởng sản xuất kẹo mềm GVHD : Trần Thị Thu trà các năm sau sẽ có xu hướng tăng.

Thêm vào đó, chỉ số niềm tin tiêu dùng tăng dần cũng là một yếu tố cho thấy người tiêu dùng sẽ mạnh tay chi tiêu hơn.1: Mức độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam (Nguồn: Nielsen – Vietnam Grocery Report August 2010) Hình 1.2: Mức độ tiêu thụ kẹo (Nguồn: Nielsen Global Online Survey 2007-2010) Dân số với quy mô lớn, và cơ cấu dân số trẻ khiến cho Việt Nam trở thành một thị trường tiềm năng về tiêu thụ hàng lương thực thực phẩm trong đó có bánh kẹo. Theo báo cáo của ACNelsel tháng 8/2010, 56% dân số Việt Nam ở độ tuổi dưới 30 có xu hướng sử dụng nhiều bánh kẹo hơn cha ông họ trước kia. Ngoài ra, thói quen tiêu dùng nhiều bánh kẹo tại thành thị trong khi tỷ lệ dân cư khu vực này đang tăng dần lên (từ 20% lên 29,6% dân số) có thể khiến cho doanh số thị trường bánh kẹo tăng trưởng mạnh trong thời gian tới.Phân tích SWOT ngành Bánh kẹo 1.Điểm mạnh (Strengths): - Lực lượng lao động dồi dào với chi phí nhân công thấp Nguyễn Văn Tỵ Trang 6 Thiết kế phân xưởng sản xuất kẹo mềm GVHD : Trần Thị Thu trà - Người tiêu dùng Việt Nam, đặc biệt là nhóm khách hàng trẻ, thu nhập cao rất thích dùng các sản phẩm có nhãn hiệu nổi tiếng. Chính vì vậy các sản phẩm bánh kẹo nếu được hậu thuận bằng chiến lược đầu tư và khuyếch trương rầm rộ sẽ có thể nhanh chóng thâm nhập được vào thị trường trong nước.

- Khách hàng ở các đô thị lớn như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh có khả năng tiếp nhận thông tin và sản phẩm ở mức độ cao 1.Cơ hội (Opportunities): - Việc gia nhập vào WTO năm 2007 có thể sẽ đem lại nhiều lợi ích cho các nhà xuất khẩu do các nước bạn hàng dỡ bỏ dẫn các rào cản thương mại đối với Việt Nam. - Việt Nam đang có những bước hồi phục kinh tế khá ổn định; tăng trưởng GDP ổn định; lạm phát được duy trì ở mức 8% có thể sẽ làm tăng chi tiêu của người dân nói chung, và chi tiêu cho bánh kẹo nói riêng. - Cơ hội mua bán, sát nhập hoặc đầu tư vào các doanh nghiệp bánh kẹo được cổ phần hóa - Người dân có xu hướng tiêu dùng sản phẩm sản xuất trong nước - Thị trường tiêu dùng nội địa lớn có tiềm năng tăng trưởng cao, nhiều cơ hội xuất khẩu - Thu nhập nguời dân ngày càng tăng và sự thay đổi trong xu hướng tiêu dùng đang diễn ra mạnh mẽ, đặc biệt tại khu vực thành thị đã làm tăng nhu cầu tiêu dùng sản phẩm snacks, và các loại bánh kẹo cao cấp 1.Thách thức: - Các doanh nghiệp nhỏ, tiềm lực tài chính yếu khó có thể chống đỡ trong môi trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt do việc gia nhập WTO mang lại. - Giá bột mì và đường đang có xu hướng tăng vào cuối năm 2010 và đầu 2011 do nguồn cung hạn chế, điều này sẽ làm tăng giá thành sản phẩm.

Giá thành sản phẩm tăng nhanh trong khi giá bán sản phẩm chỉ tăng chậm sẽ ảnh hưởng đến tình hình lợi nhuận của các doanh nghiệp. - VND có xu hướng ngày càng giảm giá nên sẽ có những tác động nhất định đến giá thành sản phẩm do phải nhập khẩu một số nguyên vật liệu đầu vào như bột mì, đường, hương liệu, và một số chất phụ gia khác.Triển vọng phát triển ngành 1.Triển vọng về doanh số và sản lượng bánh kẹo trong thời gian tới Theo ước tính của BMI, sản lượng bánh kẹo tại Việt Nam năm 2008 vào khoảng 97.100 tấn đến năm 2010 sẽ đạt khoảng 100. Dự kiến tăng trưởng về doanh số năm 2011 là 10%, cao hơn so với con số 5,43% và 6,12% của năm 2009 và 2010 (2 năm này tăng trưởng thấp nhất là do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu). Nguyễn Văn Tỵ Trang 7 Thiết kế phân xưởng sản xuất kẹo mềm GVHD : Trần Thị Thu trà Hình 1.3: Doanh số và tăng trưởng về doanh số bán hàng ngành bánh kẹo (Nguồn: BMI report) Hình 1.4: Sản lượng và tăng trưởng về sản lượng ngành bánh kẹo (Nguồn: BMI report) Bên cạnh tiêu dùng trong nước, triển vọng xuất khẩu bánh kẹo cũng khá sáng sủa trong thời gian tới.

Theo số liệu thống kê, kim ngạch xuất khẩu bánh kẹo và các sản phẩm từ ngũ cốc của Việt Nam tháng 6/2010 đạt gần 28,42 triệu USD, chiếm 0,4% tổng kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng trong tháng, tăng 9,29% so với tháng trước, tăng 28,53% so với cùng tháng năm trước, nâng tổng kim ngạch xuất khẩu bánh kẹo và các sản phẩm từ ngũ cốc 6 tháng đầu năm lên gần 151,74 triệu USD, chiếm 0,39% tổng trị giá xuất khẩu, tăng 17,34% so với cùng kỳ năm trước.Triển vọng về giá bánh kẹo Có thể thấy rằng, giá bánh kẹo tại Việt Nam ít biến động thường xuyên như các sản phẩm khác mà thường được giữ cố định trong một thời gian từ 3-6 tháng, và có xu hướng tăng lên chứ rất hiếm khi giảm xuống. Trong bối cảnh giá các nguyên vật liệu đầu vào chủ yếu là đường và bột mì có xu hướng tăng cao vào cuối năm và đầu năm sau, cộng với một số yếu tố khác nên nhiều khả năng giá bánh kẹo vụ Tết Nguyên đán sẽ tăng từ 10-15%.Lựa chọn năng suất : Nguyễn Văn Tỵ Trang 8 Thiết kế phân xưởng sản xuất kẹo mềm GVHD : Trần Thị Thu trà Năng suất cảu phân xưởng sản xuất kẹo mềm : 2000 Kg/ngày.Lựa chọn địa điểm xây dựng nhà máy/phân xưởng : Phân xưởng sản xuất kẹo mềm được chọn xây dựng tại khu công nghiệp Biên Hòa I, tại Đồng Nai.  Vị trí : Phường An Bình, TP.Biên Hòa, Đồng Nai.  Diện tích tổng thể : 335 ha  Có vị trí thuận lợi : khu công ngiệp Biên Hòa I là một trong ba khu vực tam giác kinh tế lớn của nước ta (TP.HCM - Đồng Nai - Vũng Tàu).

Một mặt giáp Quốc lộ 1A, tuyến giao thông huyết mạch Bắc – Nam và điểm giao lộ giữa Đồng Nai - TP.HCM - Vũng Tàu. - Cách thành phố Biên Hòa 5 km. - Cách thành phố Hồ Chí Minh 25 km về phía đông Bắc. - Cách Sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất 30 km.

- Cách Cảng Phú Mỹ 44 km. - Cách Cảng Sài Gòn 30 km. - Cách Cảng Cogido và cảng Ðồng Nai 2 km. - Cách Ga Sài Gòn 28 km.

 Giao thông : đường giao thông và đường nội bộ hoàn chỉnh, mặt đường thảm bê tông nhựa với tải trọng (H30 - 30MT/cm2).  Cấp điện : hai trạm máy biến áp 40 MAV từ mạng lưới điện quốc gia.  Cấp nước : công suất cung cấp nước 25.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ