Chương 1: LẬP LUẬN KINH TẾ - KĨ THUẬT Hà Giang là một tỉnh thuộc vùng Đông Bắc Việt Nam. Phía Đông giáp tỉnh Cao Bằng, phía Tây giáp tỉnh Yên Bái và Lào Cai, phía Nam giáp tỉnh Tuyên Quang, phía Bắc giáp nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Với điều kiện tự nhiên phù hợp, cây đậu nành ở Hà Giang là loại cây trồng mũi nhọn, quan trọng trong phát triển kinh tế nông nghiệp. Hà Giang có 10 huyện và 1 thành phố, trong đó các huyện Hoàng Su Phì, Xín Mần, Yên Minh, Đồng Văn, Quản Bạ, Bắc Mê, Mèo Vạc là những huyện có diện tích trồng đậu nành rất lớn, chiếm đến 95% sản lượng của toàn tỉnh [3].
Dựa trên một số nguyên tắc như: - Việc chọn địa điểm xây dựng nhà máy phải phù hợp với quy hoạch chung và đảm bảo sự phát triển chung về kinh tế của địa phương, phải gần vùng nguyên liệu để giảm giá thành vận chuyển, giảm thất thoát hao hụt nguyên liệu, từ đó giảm giá thành sản phẩm. Đặc điểm thổ nhưỡng cũng ảnh hưởng rất lớn đến việc cung cấp nguyên liệu cho nhà máy [4]. - Nhà máy phải đặt gần nguồn cung cấp năng lượng, nước, thuận lợi về giao thông, gần trục đường chính để đảm bảo sự hoạt động bình thường và chú ý đến nguồn nhân lực địa phương [4]. Nên nhà máy sản xuất sữa đậu nành có đường và đậu phụ sẽ được đặt tại Khu công nghiệp Bình Vàng, xã Đạo Đức, Huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang.
Việc chọn vị trí đặt nhà máy dựa vào các yếu tố sau [4]: 1. Đặc điểm thiên nhiên Hà Giang nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa. Khí hậu mát và lạnh hơn các tỉnh miền Đông Bắc, nhưng ấm hơn các tỉnh miền Tây Bắc. Đặc biệt ở đây ranh giới giữa mùa khô và mùa mưa không rõ rệt [5].
- Nhiệt độ trung bình hằng năm: 24. - Lượng mưa trung bình hằng năm: 2300 – 2400mm. - Độ ẩm bình quân hàng năm: 85% - Hướng gió tùy thuộc vào địa hình thung lũng. Vị Xuyên, Hà Giang là huyện thuộc vùng núi thấp, quanh thung lũng Sông Lô nên quanh năm chỉ có một hướng gió Đông Nam [5].
SVTH: Nguyễn Thị Thảo Yến GVHD: TS. Mạc Thị Hà Thanh 2 Thiết kế nhà máy sản xuất sản phẩm từ đậu nành gồm hai dây chuyền sữa đậu nành có đường và đậu phụ.1 Bản đồ tỉnh Hà Giang [5] 1. Vùng nguyên liệu Hà Giang là tỉnh ở Đông Bắc có đặc điểm thổ nhưỡng khí hậu phù hợp trồng cây đậu tương với sản lượng lớn đảm bảo cung cấp nguyên liệu tại chỗ cho nhà máy. Có thể thu mua thêm nguyên liệu từ các tỉnh có diện tích trồng đậu nành lớn như Cao Bằng, Yên Bái để đảm bảo đủ nguồn nguyên liệu ổn định, đáp ứng nhu cầu của nhà máy trong trường hợp sản lượng đậu nành không đủ, hoặc nhà máy có khả năng mở rộng sau này [6].
Cuối năm 2014, Hà Giang đứng đầu cả nước về diện tích cũng như sản lượng đậu tương, diện tích toàn tỉnh ước đạt 23.853ha, năng suất bình quân 12,64 tạ/ha, sản lượng ước đạt 30. Hợp tác hóa Do nhà máy nằm trong khu công nghiệp nên có thể hợp tác với các nhà máy khác về mặt kinh tế - kỹ thuật, sử dụng chung những công trình điện, nước, giao thông - vận tải,. Đồng thời, nhà máy có thể liên kết với các công ty, hợp tác với nông dân trong tỉnh để nâng cao năng suất cây trồng, từ đó sẽ có tác dụng giảm thời gian xây dựng, giảm vốn đầu tư và giá thành sản phẩm. Việc xây dựng nhà máy ở đại phương góp phần giúp bà con địa phương mở rộng diện tích trồng cây đậu nành ngắn ngày, thêm việc làm cho người lao động, đời sống được nâng cao nhờ vào cây.
Tăng thêm sản lượng nguyên liệu tại chỗ cho nhà máy sản xuất. Nguồn cung cấp điện Nguồn điện cung cấp cho nhà máy trạm biến áp 110kV và đường dây 110kV – 35kV Bình Vàng sử dụng để vận hành thiết bị, chiếu sáng trong sản xuất và dùng SVTH: Nguyễn Thị Thảo Yến GVHD: TS. Mạc Thị Hà Thanh 3 Thiết kế nhà máy sản xuất sản phẩm từ đậu nành gồm hai dây chuyền sữa đậu nành có đường và đậu phụ. trong sinh hoạt.
Để đảm bảo việc hoạt động liên tục và chủ động, nhà máy phải lắp đặt thêm một máy phát điện dự phòng. Nguồn cung cấp hơi Nhà máy đặt một lò hơi với công suất hợp lý đảm bảo cung cấp đủ lượng hơi dùng trong nhà máy với các mục đích: nấu, bài khí, tiệt trùng…Kể cả làm nóng nước sinh hoạt. Nước dùng trong lò hơi phải được lọc để đảm bảo các chỉ tiêu hoá lý cần thiết nhằm tăng tuổi thọ của lò và đảm bảo an toàn cho công nhân. Nhiên liệu dùng trong lò hơi là dầu FO.
Nhiên liệu Nhiên liệu dùng trong nhà máy là dầu F.để đốt nóng lò hơi, vận hành các thiết bị, động cơ,. Nguồn cung cấp nước Nước là nguyên liệu chính để sản xuất sữa đậu nành nên nước dùng để sản xuất trong nhà máy phải đạt chuẩn TCVN 5502:2003 Nguồn nước chính cung cấp cho nhà máy được lấy từ khu xử lý nước chung của khu công nghiệp, đã qua hệ thống xử lí và đạt yêu cầu về độ cứng, nhiệt độ, hỗn hợp vô cơ, hữu cơ trong nước,… Ngoài ra trong nhà máy còn sử dụng nguồn nước phụ là giếng khoan đặt trong khu vực nhà máy và xử lí tại nhà máy. Nước giếng khoan cũng có chế độ xử lý nước thích hợp nhằm đạt hiệu quả kinh tế cao, đồng thời không gây hại đến sức khỏe công nhân và người tiêu dùng. Thoát nước Để tránh những ảnh hưởng không có lợi đến sức khoẻ, điều kiện làm việc của công nhân và dân cư sống gần khu vực nhà máy, cần phải xử lý nước thải vì phần lớn nước thải của nhà máy đều chứa các chất thải có chứa dinh dưỡng là môi trường thuận lợi để vi sinh vật phát triển làm ô nhiễm môi trường.
Nước thải sẽ theo hệ thống cống qua bộ phận xử lý sơ bộ của nhà máy rồi sau đó qua hệ thống xử lý nước thải của khu công nghiệp rồi thải vào hệ thống xử lý nước thải của huyện, sau đó được ra ngoài. Đây là một vấn đề quan trọng cần quan tâm vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường sống của người dân. Giao thông vận tải Nhà máy sử dụng tuyến quốc lộ 1A làm tuyến đường vận tải chính, bên cạnh đó đường sắt cũng rất thuận lợi để vận chuyển ngoại tỉnh. Hiện nay, hầu hết các tuyến đường trong tỉnh đã được trải nhựa, bê tông hóa, do đó hệ thống giao thông trong vùng khá tốt, nên nhà máy có thể giảm được chi phí vận chuyển nguyên liệu về nhà máy cũng như vận chuyển sản phẩm và phụ phẩm đến nơi tiêu thụ.
SVTH: Nguyễn Thị Thảo Yến GVHD: TS. Mạc Thị Hà Thanh 4 Thiết kế nhà máy sản xuất sản phẩm từ đậu nành gồm hai dây chuyền sữa đậu nành có đường và đậu phụ. Cung cấp nhân công Hà Giang là tỉnh có dân số trẻ, lực lượng lao động chiếm trên 64% dân số, trong đó lực lượng thanh niên chiếm gần 30% dân số tỉnh. Đây là nguồn lực quan trọng góp phần cho phát triển kinh tế - xã hội cho nhà máy cũng như cho địa phương.
Tỉnh đang tập trung đào tạo tay nghề và phát triển nguồn nhân lực làm động lực then chốt để đưa các tiến bộ kỹ thuật, đổi mới công nghệ, cải tiến phương thức quản lý,. đội ngũ lành nghề sẽ đưa nhà máy đi vào hoạt động có hiệu quả và sinh lợi nhuận cao. Vì vậy, đội ngũ công nhân của nhà máy được tuyển dụng trong tỉnh để có thể tận dụng được nguồn nhân lực tại địa phương, giảm được chi phí đầu tư nhà ở, sinh hoạt của công nhân, từ đó giảm được chi phí đầu tư xây dựng, cũng giải quyết vấn đề việc làm cho lực lượng lao động tại địa phương. Thị trường tiêu thụ Nhu cầu tiêu thụ sữa đậu nành và các sản phẩm sữa đậu nành của Miền Bắc đang ngày càng tăng cao, số lượng người tiêu thụ sản phẩm lớn.
Việc vận chuyển các sản phẩm đến các vùng ở đây vô cùng khó khăn, làm giá thành sản phẩm tăng, chất lượng sản phẩm lại không ổn định làm cho sự tiếp cận sản phẩm thấp lại. Để hạ giá thành thấp, tận dụng được nguồn nguyên liệu tại chỗ phục vụ cho nhu cầu của địa phương thì việc mở một nhà máy sản xuất sữa đậu nành ở Hà Giang, sản phẩm cung cấp cho cả miền Bắc. Kết luận: Từ những yếu tố đã nêu ở trên, ta thấy việc xây dựng nhà máy sản xuất sữa đậu nành có đường và đậu phụ từ nguyên liệu hạt đậu nành tại Khu công nghiệp Bình Vàng, xã Đạo Đức, Huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang là cần thiết và vô cùng hợp lý đối với nhu cầu cũng như nền kinh tế của địa phương. SVTH: Nguyễn Thị Thảo Yến GVHD: TS.
Mạc Thị Hà Thanh 5 Thiết kế nhà máy sản xuất sản phẩm từ đậu nành gồm hai dây chuyền sữa đậu nành có đường và đậu phụ. Chương 2: TỔNG QUAN 2. Tổng quan về nguyên liệu 2. Nguyên liệu chính 2.
Hạt đậu nành Đậu nành (đậu tương) hay đỗ tương có tên tiếng Anh là Soybeans. Tên khoa học là Glycine Max (L) Merr. Là loại cây họ đậu chứa nhiều đạm. Có thể chế biến đậu nành thành được nhiều món như sữa, đậu hủ, tương, chao,.
Cây đậu nành có khả năng thích ứng rộng nên nó đã được trồng ở khắp năm châu lục, nhưng tập trung nhiều nhất ở châu Mỹ trên 70%, tiếp đến là châu Á. Các nước trồng đậu nành đứng hàng đầu trên thế giới về diện tích gieo trồng và sản lượng là Mỹ, Braxin, Achentina và Trung Quốc [7]. Ở Việt Nam, đậu nành được trồng tập trung ở các tỉnh đồng bằng Sông Cửu Long (An Giang, Đồng Tháp), ở miền Bắc đây là vụ đậu nành được trồng nhiều ở các tỉnh Hà Giang, Lạng Sơn, Cao Bằng… [7] Theo Tổng cục thống kê (GSO), Bộ Nông Nghiệp và phát triển nông thôn • Năm 2018, Việt Nam có trên 105 ngàn ha cây đậu nành. • Sản lượng đậu nành Việt Nam: 168 ngàn tấn/năm (2018) [8].
Hình thái hạt đậu nành Đậu nành là cây thân cỏ một năm, hoa tập trung trên những nách lá, kiểu bào nang. Quả đậu tương là loại quả giáp. Mỗi quả có 2-3 hạt. Quả đậu nành dài 5-6 cm, hơi cong hình lưỡi liềm, phẳng, có nhiều lông mềm, màu từ xanh sáng đến xám tối.
Hạt đậu nành có ba bộ phận: +Vỏ hạt chiếm 7.3% trọng lượng hạt + Phôi chiếm 2. + Tử diệp chiếm 90%.