CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1.1 GIỚI THIỆU VỀ NGÀNH CÔNG NGHIỆP SẢN XUẤT ĐƯỜNG MÍA.1 Tình hình chung. Nước ta nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, nhiều vùng đất đai từ Bắc đến Nam rất thuận tiện cho phát triển trồng mía, nhất là các tỉnh ven biển miền Trung và Đông Nam bộ. Vì thế ngành sản xuất đường mía có tiềm năng rất lớn. Sau năm 1975, sản xuất đường mía được khuyến khích phát triển.
Đến năm 1994, cả nước có 150.000 ha trồng mía, sản lượng 6,5 triệu tấn mía; sản xuất được 0,32 triệu tấn đường quy ra đường thô; trong đó 0,11 triệu tấn được sản xuất ở 14 nhà máy đường Năm 1996, chương trình quốc gia trọng điểm mía đường được phê duyệt và triển khai thực hiện. Từ đó ngành đường phát triển một cách nhanh chóng. Đến năm 1998 cả nước có 41 nhà máy đường với sản lượng 0,567 triệu tấn. Vụ ép 1999 – 2000 đạt 1,014 triệu tấn gấp 3 lần năm 1995.
Đến nay cả nước có 45 nhà máy đường có công suất ép từ 300 – 8. Năm 2001 – 2002 đã vào vụ ép, cả nước có 44 nhà máy đang hoạt động để thực hiện mục tiêu 1 triệu tấn đường. Nước ta đang đẩy mạnh chương trình quốc gia về sản xuất mía đường, một số công nghệ mới được áp dụng, góp phần giúp cho ngành đường phát triển mạnh và ngày càng hoàn thiện hơn. Đồng thời góp phần chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp.
Tăng đáng kể hiệu suất sử dụng đất nông nghiệp góp phần xóa đói giảm nghèo và tạo thêm nhiều mặt hàng xuất khẩu.2 Những đặc trưng trong công nghệ sản xuất đường mía ở Việt Nam. Công nghệ sản xuất đường thông thường trải qua 3 công đoạn chính: Ép mía: mục đích chủ yếu của giai đoạn này là lấy kiệt lượng nước mía có trong mía tới mức tối đa cho phép. Hiện nay, trong công nghiệp sản xuất đường người ta thường sử dụng hai phương pháp là ép và khuếch tán. Trong đó phương pháp ép được sử dụng phổ biến ở nước ta, chủ yếu do chi phí đầu tư thiết bị thấp, Đề tài: Thiết kế hệ thống xử lý nước thải nhà máy đường SVTH: Nguyễn Thị Tú Oanh GVHD: Th.S Trần Thế Truyền Trang 3 Đồ án tốt nghiệp vận hành đơn giản.
Nguyên lý chung là xé và ép dập thân cây mía nhằm phá vỡ các tế bào để lấy nước mía.[9, tr 33] Làm sạch nước mía: Hiện nay trong các nhà máy đường thường dùng các phương pháp làm sạch như: phương pháp sunfit hóa, vôi hoá và cacbonat hóa. Các phương pháp làm sạch đều lần lượt qua các giai đoạn: đun nóng, trung hòa, lắng, lọc … để loại chất không đường và giảm màu sắc của nước mía.[9, tr 84-85] Kết tinh: so với tất cả các sản phẩm công nghiệp, đường là loại được kết tinh với quy mô lớn. Hàng năm trên thế giới có gần 90 triệu tấn đường tinh thể được kết tinh từ dung dịch đường. Nguyên liệu chính để sản xuất đường ở nước ta là mía.
Các giống mía chủ yếu trồng ở nước ta: Giống POJ 3016 Giống POJ 2878 Giống F 134 Giống Việt đường 54/143. Sau khi thu hoạch hàm lượng đường trong mía bắt đầu giảm. Do đó, mía cần vận chuyển ngay về nhà máy và ép càng sớm càng tốt.4 Các chất thải trong sản xuất đường mía: Quá trình sản xuất đường mía thải ra một lượng lớn chất thải dưới cả 3 dạng: Khí thải: các chất gây ô nhiểm môi trường không khí của quá trình sản xuất đường không lớn. Khí thải phát sinh chủ yếu từ lò hơi dùng bã mía làm nhiên liệu, từ quá trình xử lý nước mía bằng CO2 hoặc SO2 của công đoạn bổ sung.
Để hạn chế ô nhiễm, khí thải lò hơi được tách bụi bằng hệ thống cyclon tách bụi ẩm hoặc cyclon thủy lực có hiệu quả tách cao, và các nhà máy chú ý đến việc tránh rò rỉ SO2. Chất thải rắn: Các loại chất rắn thải ra trong công nhiệp sản xuất đường mía chủ yếu là: mật rỉ, bã mía, tro lò, bùn lọc,… Đề tài: Thiết kế hệ thống xử lý nước thải nhà máy đường SVTH: Nguyễn Thị Tú Oanh GVHD: Th.S Trần Thế Truyền Trang 4 Đồ án tốt nghiệp Nước thải: Nguồn ô nhiễm nước thải là quan trọng nhất do lưu lượng và tải trong chất ô nhiễm lớn. Kết quả kiểm tra ở 1 số nhà máy cho thấy lưu lượng nước thải đều vượt qua 3000m3/ngày.1 Thành phần nước thải cống của nhà máy đường.[14, tr 515] TCVN 5945/1995 Các chỉ tiêu Đơn vị Giá trị đo (Tiêu chuẩn loại B) pH 4-9 5,5 - 9 COD mg/l 1000 - 2000 80 BOD5 mg/l 600 - 900 50 SS mg/l 220 - 800 100 Tổng N mg/l 10 - 30 30 Tổng P mg/l 20 - 40 6 1.5 Hiện trạng sử dụng chất thải rắn và xử lý nước thải của một số nhà máy đường [13].1 Sử dụng chất thải rắn. Sản xuất cồn từ mật rỉ: mật rỉ hiện được sử dụng cho sản xuất mì chính và sản xuất cồn.
Sản xuất phân hữu cơ vi sinh: phân hữu cơ được sản xuất từ phế liệu của sản xuất đường gồm bã thải trong tinh chế nước mía, tro bã mía sau đốt lò hơi. Ở những cơ sở có hệ thống xử lý sinh học nước thải, bùn hoạt tính dư là nguồn nguyên liệu quý cho sản xuất phân bón. Sản xuất ván ép: sản xuất ván ép từ bã mía là một định hướng kinh tế và là một phương án khả thi, nhất là đối với các nhà máy đường có công suất ép từ 2.000 tấn mía/ngày trở lên, kể cả khi nhà máy dùng bã cho nồi hơi và sản xuất điện. Ở nhiều nước trên thế giới một số nhà máy còn sản xuất men nở bánh mì, làm thức ăn gia súc, sản xuất axit xitric, axit lactic…Bã rượu từ rỉ đường được dùng sản xuất thức ăn gia súc, nấm men giàu đạm.
Đề tài: Thiết kế hệ thống xử lý nước thải nhà máy đường SVTH: Nguyễn Thị Tú Oanh GVHD: Th.S Trần Thế Truyền Trang 5 Đồ án tốt nghiệp Ngoài các sản phẩm phụ trên, một số nhà máy còn sản xuất các sản phẩm sau đường như bánh kẹo…Tuy nhiên các sản phẩm này chưa có sức cạnh tranh cao.2 Hiện trạng xử lý nước thải ở các nhà máy đường. Kết quả khảo sát ở 9 nhà máy và qua 7 bảng báo cáo đánh giá tác động môi trường khác cho thấy hiện có trên 50% số nhà máy được khảo sát đã có hệ thống xử lý nước thải với các công nghệ khác nhau: bằng bể UASB (Nhà máy đường Bình Dương, Cam Ranh); kết hợp yếm - hiếu khí (Việt Trì, Ninh Hoà); UASB - hiếu khí - lọc sinh học (Nông Cống); hồ sinh học (Lam Sơn, An Khê, Kontum…); xử lý hiếu khí (Nhà máy đường Bình Định). Tuy nhiên, ngoài hệ thống xử lý nước thải của Nhà máy đường Bình Định và Nhà máy đườngTây Ninh đang được chạy thử để bàn giao (nước sau xử lý đạt tiêu chuẩn loại B). Các hệ thống còn lại đều hoạt động không hiệu quả hoặc không hoạt động được.
Trong đó có những hệ thống từ khi xây dựng đến nay vẫn chưa vận hành được. Kết quả khảo sát cũng cho thấy nước thải cống chung của các nhà máy đều vượt quá tiêu chuẩn cho phép. Tải lượng ô nhiễm trong nước thải của các nhà máy có sản xuất cồn rất cao. Kết quả phân tích dịch hèm của hai nhà máy điển hình cho thấy việc xử lý nước thải của các nhà máy đường nói chung và các nhà máy đường có sản xuất cồn nói riêng là rất bức xúc.
Thực tế khảo sát cũng cho thấy, việc xử lý nước thải ở nhiều nhà máy còn nhiều bất cập gây lãng phí tiền của và không đảm bảo các tiêu chuẩn môi trường để phát triển bền vững.2 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ NHÀ MÁY ĐƯỜNG QUẢNG PHÚ.1 Giới thiệu về nhà máy. Nhà máy được thành lập vào năm 1964 do tập đoàn HITACHI ZOSEN thiết kế và lắp đặt với công suất thiết kế là 1500 tấn mía/ngày được mang tên là Công ty đường Quảng Ngãi. Đề tài: Thiết kế hệ thống xử lý nước thải nhà máy đường SVTH: Nguyễn Thị Tú Oanh GVHD: Th.S Trần Thế Truyền Trang 6 Đồ án tốt nghiệp Từ 1970 đến 1972 lắp đặt thiết bị, trong qua trình thực hiện việc lắp đặt thiết bị năm 1972 Công ty đường Quảng Ngãi được sắp nhập vào Công ty đường Việt Nam và đổi tên thành Nhà máy đường Thu Phổ. Năm 1973 hoàn thành việc lắp đặt và tiến hành hoạt động thử nghiệm dây chuyền công nghệ.
Năm 1974 vào vụ sản xuất đầu tiên. Năm 1975 ngày 20 tháng 11 vào vụ sản xuất thứ hai. Đến 30/4/1975 đất nước thống nhất. Nhà máy đường Thu Phổ được lấy tên nhà máy đường Quảng Ngãi trực thuộc liên hiệp mía đường II.
Từ năm 1975 đến 1994 Nhà máy hoạt động với công suất 1500 tấn mía/ngày, trong quá trình củng cố và phát triển từ nguồn vốn tăng trưởng, năm 1977 khởi công xây dựng phân xưởng Cồn - rượu. Trong giai đoạn 1992 đến 1994 Nhà máy đường đầu tư nâng năng suất từ 1500 tấn mía/ngày lên 2000 tấn mía/ngày. Năm 1997 để phù hợp với điều kiện phát triển, Nhà máy đường Quảng Ngãi tách ra khỏi Liên hiệp mía đường II và đổi tên thành công ty đường Quảng Ngãi trực thuộc Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn. Trong quá trình hình thành và phát triển Công ty đường Quảng Ngãi đã đầu tư một số phân xưởng, nhà máy trực thuộc công ty: năm 1991 xây dựng Nhà máy bia, 1994 xây dựng Nhà máy bánh kẹo và Nhà máy bao bì, 1996 xây dựng Nhà máy nha và Nhà máy nước khoáng, 1997 xây dựng Nhà máy sữa.
Đến cuối năm 1997 Công ty đường Quảng Ngãi đã có 13 nhà máy, xí nghiệp trực thuộc, trong đó có phân xưởng đường I. Năm 1998 phân xưởng đường I được đổi tên thành nhà máy đường Quảng Phú trực thuộc Công ty đường Quảng Ngãi, lĩnh vực hoạt động của nhà máy đường Quảng Phú: sản xuất đường kính trắng từ mía. Năm 1999 nhà máy được đầu tư lắp đặt thiêt bị mở rộng, nâng công suất từ 2000 tấn mía/ngày lên 2500 tấn mía/ngày. Đề tài: Thiết kế hệ thống xử lý nước thải nhà máy đường SVTH: Nguyễn Thị Tú Oanh GVHD: Th.S Trần Thế Truyền Trang 7 Đồ án tốt nghiệp 1.2 Quy trình sản xuất của nhà máy.
Nước thẩm thấu Mía cây Ép mía Bã mía Bổ sung CO2, Làm trong Lò hơi SO2, gia nhiệt Lắng trong Bùn Lọc bùn Bốc hơi và sunfit hoá lần 2 Bã bùn Cô đặc nấu đường Phân vi sinh Kết tinh Ly tâm Sấy đường Đường Hình 1.