CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC TIỀN LƯƠNG TRONG DOANH NGHIỆP VẬN TẢI 1. Một số khái niệm cơ bản về tiền lương trong doanh nghiệp vận tải 1. Khái niệm tiền lương trong doanh nghiệp vận tải Từ trước đến nay trải qua nhiều giai đoạn phát triển, với mỗi giai đoạn khác nhau, dưới mỗi góc độ nhìn nhận của nhiều đối tượng đã có rất nhiều khái niệm về tiền lương được đưa ra: Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin: Tiền lương là một phần thu nhập quốc dân mà nhà nước xã hội chủ nghĩa phân phối cho người lao động làm việc trong khu vực kinh tế quốc dân dưới hình thức tiền tệ căn cứ vào số lượng và chất lượng lao động của người cống hiến. Theo Tổ chức lao động quốc tế (ILO) thì: “Tiền lương là sự trả công và sự thu nhập, bất luận tên gọi, cách tính thế nào, mà có thể biểu hiện bằng tiền mặt và được ân định bằng thoả thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động hoặc bang pháp luật, pháp quy quốc gia, do người sử dụng lao động trả cho người lao động theo một hợp đồng lao động viết hay bằng miệng, cho một công việc đã được thực hiện hay sẽ phải làm.
Theo quy định của pháp luật lao động Việt Nam, Tiền lương của người laođộng do hai bên thoả thuận trong hợp đồng lao động và được trả theo năng suất lao động, chất lượng và hiệu quả công việc. Mức lương của người lao động không được thấp hơn mức lương tối thiểu do Nhà nước Tóm lại, dưới góc độ pháp lý, tiền lương được hiểu là số tiến mà người sử dụng lao động phải trả cho người lao động căn cứ vào năng suất, chất lượng, hiệu quả công việc, điều kiện lao động thực tế của người lao động theo quy định của pháp luật hoặc thoả thuận hợp pháp của hai bên trong hợp đồng lao động. Trên thực tế tiền lương có nhiều tên gọi khác nhau: tiền công lao động, thù lao lao động. Nhưng dù tiến lương được gọi với tên gọi nào đi nữa thì tiền lương cũng đuợc hiểu như sau: Tiên lương là giá cả sức lao động được hình thành trên cơ sở thỏa thuận giữa người lao động với người sử dụng lao động thông qua hợp đồng phù hợp với quan hệ cung câu lao động trên thị trường lao động và phù hợp với các quy định tiến lương của pháp luật lao động.
Đó là quan hệ kinh tế của tiến lương. Mặt khác do tính chất đặc biệt của hàng hóa sức lao động, tiến lương còn là một vấn để xã hội rất quan trọng liên đến 3 đời sống và trật tự xã hội. Đây lại là quan hệ xã hội của tiền lương. Trong quá trình sản suất kinh doanh, đối với các chủ doanh nghiệp thì tiền lương là một phần chi phí cấu thành giá thành sản phẩm.
Vì vậy tiến lương luôn được tính toán và quản lý chặt chẽ. Đối với người lao động tiền lương là thu nhập từ quá trình lao động của họ, phần thu nhập chủ yếu đối với đại đa số người lao động trong xã hội, và nó ảnh hưởng tới mức sống của họ. Phấn đấu nâng cao tiền lương là mục đích của người lao động. Mục đích này tạo động lực để người lao động phát triển trình độ và khả năng của mình.
Các loại tiền lương Tiền lương danh nghĩa: Là lương được trả bằng tiền, được hiểu là số tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động. Tiền lương thực tế: Là lương danh nghĩa được quy đổi ra các vật phẩm cần thiết để tái sản xuất sức lao động theo giá thị trường. Tiền lương tối thiểu: Là số tiền dùng trả cho người lao động làm công việc giản đơn nhất của xã hội trong điều kiện và môi trường bình thường, chưa qua đào tạo nghề. Đó là số tiền đảm bảo cho người lao động có thể mua các tư liệu sinh hoạt và tái sản xuất lao động cá nhân.
Mức lương tối thiểu nhà nước quy định theo từng thời kì, phù hợp với trình độ phát triển kinh tế của đất nước, nhằm tái sản xuất lao động cho người lao động 1. Thành phần, kết cấu của tiền lương Tiền lương trả cho người lao động bao gồm: Lương chính, lương phụ cấp và tiền lương trong lương: - Lương chính: Là lương trả cho người lao động trong thời gian làm việc theo đơn giá tiền lương sản phẩm hoặc lương theo thời gian - Lương phụ: Là tiền lương trả cho người lao động trong thời gian không làm việc nhưng theo chế độ vẫn được hưởng lương như: thời gian người lao động nghỉ phép, nghỉ lễ tết, ngừng sản xuất theo chế độ. - Phụ cấp: Là tiền lương bổ sung cho lương chính để quán triệt hơn nguyên tắc phân phối theo lao động. Phụ cấp được chia theo ba nhóm như sau: + Nhóm 1: Nhóm phụ cấp mang tính chất đền bù nhằm bù đắp những hao phí lao động do điều kiện lao động đặc biệt hoặc những yếu tố ngành nghề đặc biệt mà chưa có trong chế độ tiền lương chung như: Phụ cấp độc hại, nguy hiểm, làm thêm giờ, khó khăn,… + Nhóm 2: Nhóm phụ cấp mang tính chất ưu đãi gồm phụ cấp thâm niên, phụ 4 cấp trách nhiệm,… Trong đó phụ cấp trách nhiệm công việc áp dụng đối với thành viên không chuyên trách Hội đồng quản trị và những người làm một số công việc đòi hỏi trách nhiệm cao hoặc phải đảm nhiệm công tác quản lý không thuộc chức danh lãnh đạo.
+ Nhóm 3: Nhóm phụ cấp mang tính chất thu hút áp dụng cho những công nhân viên chức vụ đến làm việc ở những nơi vùng kinh tế mới, hải đảo xa đất liền có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn do chưa có cơ sở hạ tầng ban đầu hoặc phụ cấp lưu động áp dụng đối với người làm nghề hoặc công việc thường xuyên thay đổi địa điểm làm việc và nơi ở. - Tiền lương: Là khoán bổ sung cho tiền lương nhằm quán triệt hơn nguyên tắc trả lương theo lao động để giá trị tiền lương bằng đúng giá trị lao động thực tế. Tiền lương được chia ra như sau: + Tiền thưởng trong lương: Thực chất là một phần quỹ lương được tách ra để trả cho người lao động dưới hình thức trả lương theo một tiêu chí nhất định. Ví dụ: như tiền lương hoàn thành nhiệm vụ sản xuất, thưởng năng suất.
+ Tiền thưởng ngoài lương: Tiền thưởng này có thể được lấy quỹ khen thưởng công ty ví dụ như thưởng sáng kiến áp dụng khi công nhân có sáng kiến nâng cao chất lượng sản phẩm, thưởng sáng kiến cái tạo kĩ thuật là hình thức khuyến khích cán bộ công nhân phát huy khả năng sáng tạo của mình trong quá trình sản xuất nhằm nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm hoặc cải thiện điều kiện làm việc mang lại hiệu quả trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Tiền thưởng tiết kiệm tư vật tư trong vận tải thì đó là tiết kiệm săm lốp, tiết kiệm nhiên liệu là thưởng nhằm khuyến khích người lao động giảm chi phí sản xuất dẫn đến hạ giá thành sản phẩm, tiền thưởng này được lấy trực tiếp từ phần mà người lao động đã tiết kiệm được cho doanh nghiệp. Chức năng và vai trò của tiền lương a. Chức năng của tiền lương: Đảm bảo đủ chi phí để tái sản xuất sức lao động: Sức lao động là một trong các yếu tố quan trọng thuộc chi phí đầu vào của SXKD.
Muốn tái sản xuất sức lao động cần phải khôi phục và tăng cường sức lao động hao phí trong quá trình sản suất. Tiền lương là một trong những tiền đề vật chất có khả năng đảm bảo tái sản xuất sức lao động, trên cơ sở bù đắp lại sức lao động hao phí thông qua thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng của người lao động. Đảm bảo vai trò kích thích của tiền lương, tạo cho người lao động niềm say 5 mê nghề nghiệp và không ngừng nâng cao NSLĐ: Tiền lương là bộ phận thu nhập chính của người lao động thỏa mãn nhu cầu vật chất tinh thần của người lao động. Do vậy sử dụng các mức lương khác nhau sẽ là đòn bẩy kinh tế quan trọng để định hướng sự quan tâm và động cơ trong lao động trên cơ sở lợi ích cá nhân.
Vì vậy khi người lao động làm việc đạt hiệu quả cao thì phải được trả lương cao hơn. Điều tiết lao động: Với một ngành nghề đang phát triển cần nhiều nhân lực để phục vụ cho nó thì tiền lương của ngành nghề đó bao giờ cũng cao hơn những ngành nghề khác để thu hút lao động. Ngoài ra lương của một số vùng cần thu hút lao động đến làm việc bao giờ cũng có các chế độ tiền lương, chế độ đãi ngộ cao hơn các vùng khác. Quản lý lao động: Tiền lương là động lực kích thích năng lực sáng tạo, tăng năng suất lao động đạt hiệu quả nhất.
Bởi vì tiền lương gắn liền quyền lợi thiết thực nhất đối với người lao động, nó không chỉ thỏa mãn nhu cầu về vật chất mà còn mang ý nghĩa khẳng định vị thế của người lao động trong doanh nghiệp. Vai trò của tiền lương: Trong cơ chế hiện nay, tiền lương giữ vai trò hết sức quan trọng bởi vì: Về kinh tế: Tiền lương đóng vai trò quyết định trong việc ổn định và phát triển kinh tế gia đình, đủ để trang trải các chi phí trong gia đình và góp phần tích luỹ. Chính vì vậy, nó là một trong những hình thức kích thích lợi ích vật chất đối với người lao động, sử dụng như một đòn bẩy kinh tế nhằm đảm bảo tái sản suất phát triển, duy trì một đội ngũ lao động kỹ thuật nghiệp vụ cao với ý thức kỉ luật tốt. Về chính trị - xã hội: Tiền lương tác động trực tiếp đến lợi ích, thói quen, thái độ lao động, ý thức yêu ngành nghề của người lao động và từ đó tác động trực tiếp đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Vì những lý do đó nên khi tổ chức tiền lương trong doanh nghiệp được công bằng và hợp lý sẽ tạo ra hoà khí cởi mở giữa những người lao động, hình thành một khối đoàn kết thống nhất trên dưới một lòng, một ý chí vì sự nghiệp phát triển của doanh nghiệp và vì lợi ích của bản thân họ. Chính vì vậy, mà người lao động tích cực làm việc bằng cả nhiệt tình hăng say và họ có quyền tự hào về mức lương họ đạt được. Ngược lại, khi doanh nghiệp trả lương cho nguời lao động thiếu tính công bằng và hợp lý thì sec sinh ra mâu thuẫn nội bộ giữa những người lao động với nhau, giữa người lao động với các cấp quản trị, cấp lãnh đạo của doanh nghiệp.