Chương 1. Tổng quan về VTHKCC và công tác điều hành VTHKCC bằng xe buýt. Đánh giá thực trạng hoạt động điều hành của Trung tâm điều hành xe buýt – Tổng công ty vận tải Hà Nội. Đề xuất các giải pháp hoàn thiện công tác điều hành VTHKCC bằng xe buýt cho Trung tâm điều hành xe buýt – Tổng công ty vận tải Hà Nội.
Kết luận và kiến nghị. 9 CHƢƠNG I: TỔNG QUAN VỀ VẬN TẢI HÀNH KHÁCH CÔNG CỘNG VÀ CÔNG TÁC ĐIỀU HÀNH VẬN TẢI HÀNH KHÁCH CÔNG CỘNG BẰNG XE BUÝT. Tổng quan về giao thông đô thị (GTĐT) và vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt. Tổng quan về đô thị.
Khái niệm về đô thị. Đô thị là điểm tập chung dân cư với mật độ cao, chủ yếu là lao động phi nông nghiệp, có hạ tầng cơ sở thích hợp, là trung tâm tổng hợp hay trung tâm chuyên nghành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển của cả nước, của một vùng lãnh thổ, của một tỉnh, của một huyện hay của một vùng trong tỉnh, trong huyện. Trong khái niệm trên ta cần chú ý đến một số điểm sau đây: Trung tâm tổng hợp: những đô thị là trung tâm tổng hợp khi chúng có vai trò và chức năng nhiều mặt về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội,. Trung tâm chuyên nghành: những đô thị là trung tâm chuyên nghành khi nó có vai trò và chức năng chủ yếu về mặt nào đó như: công nghiệp, cảng, du lịch, đầu mối giao thông,.
Một đô thị là trung tâm tổng hợp của một vùng hay của một tỉnh có thể cũng là trung tâm chuyên nghành của một vùng liên tỉnh hoặc toàn quốc. Do đó, việc xác định một vùng trung tâm chuyên nghành còn phải căn cứ vào vị trí của đô thị đó trong một vùng lãnh thổ nhất định. Lãnh thổ đô thị gồm: Nội thành (hoặc nội thị) và ngoại ô. Các đơn vị hành chính của nội thị gồm: quận và phường.
Các đơn vị hành chính của ngoại ô gồm: huyện và xã. Quy mô dân số: quy mô dân số tối thiểu của một đô thị không nhỏ hơn 4. Riêng ở miền núi dân số tối thiểu của một đô thị không nhỏ hơn 2. Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp: tỷ lệ lao động phi nông nghiệp của một đô thị không nhỏ hơn 65%, tỷ lệ này chỉ áp dụng trong nội thị.
Phân loại đô thị. Theo quyết định số 04/2008/QĐ-BXD (Quyết Định – Bộ Xây Dựng), ngày 03.2008 đô thị ở Việt Nam được chia thành 5 loại gồm: Đô thị loại đặc biệt, Đô thị loại I, Đô thị loại II, Đô thị loại III, Đô thị loại IV và Đô thị loại V. Các cấp quản lý đô thị gồm: Thành phố trực thuộc Trung ương. Thành phố trực thuộc tỉnh, thị xã trực thuộc tỉnh hoặc thị xã trực thuộc thành phố trực thuộc Trung ương.
Thị trấn trực thuộc huyện.1: Phân loại đô thị Việt Nam. Loại Mật độ Đặc điểm Dân số đô thị dân cƣ Thủ đô hoặc đô thị có chức năng là trung tâm chính trị, văn hóa, khoa học Đô thị >1,5 triệu người – kỹ thuật, đào tạo, đầu mối giao loại >15 000 thông, giao lưu trong nước và quốc tế, Tỷ lệ lao động phi đặc người/ thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội nông nghiệp > 90% biệt của cả nước, cơ sở hạ tầng đưuọc xây dựng đồng bộ và hoàn chỉnh. Trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa >1 triệu người Đô thị xã hội, khoa học kỹ thuật, giao thông, Tỷ lệ lao động phi >15 000 loại I công nghiệp,… có vai trò thúc đẩy sự nông nghiệp > 90% người/ phát triển của cả nước. Trung tâm kinh tế, văn hóa, xã hội 360 000 ÷ 1 triệu Đô thị công nghiệp, giao thông… thúc đẩy sự người.
>12 000 loại II phát triển của vùng lãnh thổ. nông nghiệp ≥ 90% Đô thị trung bình – lớn, là trung tâm 10 000 ÷ 30 000 >8 000 Đô thị chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, sản người ( miền núi có người/ loại III xuất công nghiệp, dịch vụ,… cơ sở hạ thể thấp hơn) (miền núi 11 tầng phát triển từng mặt. Tỷ lệ lao động phi có thể thấp nông nghiệp ≥ 80% hơn) Đô thị trung bình – nhỏ, là trung tâm 10 000 ÷ 30 000 tổng hợp kinh tế - chính trị, văn hóa >8 000 người ( miền núi có xã hội hoặc trung tâm chuyên ngành người/ Đô thị thể thấp hơn). sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công (miền núi loại IV Tỷ lệ lao động phi nghiệp,… có vai trò thúc đẩy sự phát có thể thấp nông nghiệp ≥ 70% triển của một tỉnh hoặc một vùng kinh hơn) tế.
Đô thị nhỏ là trung tâm tổng hợp kinh 4 000 ÷ 30 000 tế - xã hội, là trung tâm chuyên ngành >6 000 người ( miền núi có sản xuất tiểu thủ công nghiệp, thương người/ Đô thị thể ít hơn). nghiệp, có vai trò thúc đẩy sự phát (miền núi loại V Tỷ lệ lao động phi triển của một huyện, bước đầu xây có thể thấp nông nghiệp ≥ 70% dựng một số công trình công cộng, hạ hơn) tầng kỹ thuật. Khái niệm về GTVT đô thị. Khái niệm về vận tải.
Vận tải là ngành sản xuất đặc biệt có vai trò hết sức quan trọng và các tác dụng lớn đối với nền kinh tế quốc dân. Đối tượng của vận tải là con người và những sản phẩm do con người tạo ra, do vậy vận tải luôn mang tính xã hội rất cao. Sản phẩm vận tải là việc vận chuyển hàng hóa và hành khách có tính chất đặc biệt mà quá trình sản xuất và tiêu thụ diễn ra đồng thời trên một quãng đường nhất định. Chất lượng của sản phẩm vận tải là bảo đảm cho hàng hóa không bị hư hỏng, mất mát, hao hụt và đảm bảo phục vụ hành khách đi lại thuận tiện, an toàn, nhanh chóng và chi phí thấp.
Sản phẩm vận tải không thể dự trữ và tích lũy được. Đơn vị đo là: Tấn. 12 Khi xem xét khái niệm về vận tải thì trong luận cương của Mác đã định nghĩa: “Giao thông vận tải như một lĩnh vực thứ tư của sản xuất vật chất mà sản lượng của nó trong không gian và thời gian là tấn cây số và hành khách cây số”. Sản phẩm vận tải khi nghiên cứu theo góc độ không gian, kỹ thuật và nội dung kinh tế ta có thể đưa ra các định nghĩa như sau: Theo góc độ không gian: Vận tải là một hoạt động nhằm thay đổi vị trí của hàng hóa và hành khách trong không gian theo thời gian, sự thay đổi này nhằm thỏa mãn nhu cầu của chủ hàng và hành khách.
Theo góc độ kỹ thuật: Vận tải sẽ xuất hiện khi có sự kết hợp và sử dụng phương tiện vận tải, tuyến đường, nhà ga, đối tượng vận chuyển, khi đó vận tải sẽ thực hiện được một khoảng cách vận chuyển nào đó. Theo góc độ kinh tế: Vận tải là một hoạt động nhằm tìm kiếm lợi nhuận từ việc bán sản phẩm phục vụ của mình, vận tải sử dụng hệ thống giá cước riêng, nhưng chịu sự chi phối mạnh mẽ của các quy luật cung cầu, quy luật giá trị, quy luật cạnh tranh đến hoạt động sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Khái niệm về GTVT đô thị. Các khái niệm về GTVT.
Giao thông là sự thay đổi vị trí trong không gian của con người, hàng hóa, dịch vụ. Giao thông đô thị là sự thay đổi vị trí trong không gian của con người, hàng hóa và dịch vụ không gian đô thị và vùng liền kề. Hệ thống giao thông vận tải (xem xét về đặc tính kỹ thuật) bao gồm sự tồn tại và mối quan hệ giữa 3 yếu tố cơ bản: (1) Các công trình cơ sở hạ tầng cố định, (2) Phương tiện vận tải , (3) Dịch vụ quản lý và điều khiển để giúp cho đối tượng vận tải vượt qua trở ngại về không gian nhằm thỏa mãn nhu cầu của đời sống con người. Đặc trƣng cơ bản của GTVT đô thị.
Thực hiện nhiều chức năng; Tiếp cận, tiếp nối, thương mại, sinh hoạt,… và định hướng phát triển đô thị. Mật độ mạng lưới CSHT cao. Cường độ, lưu lượng và mật độ giao thông lướn và biến động theo thờ gian trong ngày. 13 Tốc độ dòng giao thông chậm.
Chi phí xây dựng và khai thác cao. Thành phần của hệ thống giao thông vận tải đô thị. Hệ thống giao thông vận tải đô thị bao gồm 2 hệ thống: hệ thống giao thông đô thị và hệ thống vận tải đô thị. Hệ thống giao thông vận tải đô thị Sơ đồ 1.1: Cấu trúc hệ thống giao thông vận tải đô thị.
Hệ thống giao thông đô thị. Là tập hợp các công trình, con đường và cơ sở hạ tầng để phục vụ cho việc di chuyển hàng hóa và hành khách trong thành phố được thuận tiện, thông suốt, nhanh chóng, an toàn và đạt hiệu quả cao. Nếu theo tính chất phục vụ cho sự di chuyển hàng hóa và hành khách trong thành phố, ngươi ta có thể chia hệ thống giao thông đô thị thành 2 bộ phận cấu thành gồm: giao thông động và giao thông tĩnh. Giao thông động là bộ phận của hệ thống GTĐT phục vụ hoạt động của phương tiện và hành khách trong thời gian di chuyển như: mạng lưới đường, nút giao thông , cầu vượt,… 14 Giao thông tĩnh là bộ phận của hệ thống GTĐT phục vụ phương tiện và hành khách trong thời gian không ( hay tạm dừng ) hoạt động như: điểm đỗ, điểm dừng, depot, bến xe,… Hệ thống vận tải đô thị.
Là tập hợp các phương thức và phương tiện vận tải khác nhau để vận chuyển hàng hóa và hành khách trong thành phố. Vận tải hành khách trong thành phố người ta phân chia ra thành 2 loại: VTHKCC và vận tải cá nhân. VTHKCC là loại hình vận chuyển trong đô thị có thể đáp ứng khối lượng lớn nhu cầu của mọi tầng lớp dân cư một cách thường xuyên, liên tục theo thời gian xác định, theo hướng tuyến ổn định trong từng thời kỳ nhất điịnh. Vận tải cá nhân là tập hợp các phương thức vận tải được cá nhân sử dụng để đáp ứng nhu cầu của riêng mình hoặc cho đi nhờ mà không thu tiền.
Vai trò của giao thông vận tải đô thị. GTVT đô thị giữ vị trí quan trọng trong đời sống sinh hoạt của thành phố. Nó đảm bảo sự liên hệ thường xuyên và thông suốt giữa các khu chức năng chủ yếu của đô thị. Là cầu nối giữa sản xuất với sản xuất, sản xuất với lưu thông, sản xuất với tiêu dùng, mở rộng thị trường.