ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC PHẦN KẾT CẤU TRƢỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI KHOA CÔNG TRÌNH NGÀNH XÂY DỰNG DÂN DỤNG & CÔNG NGHIỆP PHẦN II : KẾT CẤU ( 50% ) GVHD : ThS. Bùi Sĩ Mƣời SVTH : Lê Đình Đức MSSV : 1151012321 LỚP : S14 – 53CXD Nhiệm vụ: - Lập mặt bằng kết cấu tầng điển hình; - Thiết kế sàn tầng điển hình (sàn tầng …) - Thiết kế khung trục 3 - Thiết kế cầu thang bộ trục 4-5, C-D Bản vẽ: - Mặt bằng kết cấu tầng điển hình: Bản vẽ KC-01 - Kết cấu khung trục: Bản vẽ KC-02 - Mặt bằng bố trí thép sàn tầng điển hình : Bản vẽ KC-03 - Kết cấu thang bộ : Bản vẽ KC-04 SVTH: LÊ ĐÌNH ĐỨC-LỚP S14-53CXD 1 ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC PHẦN KẾT CẤU CHƢƠNG I: GIẢI PHÁP KẾT CẤU 1. ĐẶC ĐIỂM THIẾT KẾ NHÀ CAO TẦNG: Thiết kế kết cấu nhà cao tầng so với thiết kế kết cấu nhà thấp tầng thì vấn đề chọn giải pháp kết cấu có vị trí rất quan trọng. Việc chọn hệ kết cấu khác nhau có liên quan đến vấn đề bố trí mặt bằng, hình thể khối đứng, độ cao các tầng, thiết bị điện, đường ống, yêu cầu về kỹ thuật thi công, tiến độ thi công, giá thành công trình… 1.
Tải trọng ngang: Tải trọng ngang bao gồm áp lực gió tĩnh, động, tải trọng động đất là các nhân tố chủ yếu của thiết kế kết cấu. Nhà ở phải đồng thời chịu tác động của tải trọng đứng và tải trọng ngang. Trong kết cấu thấp tầng, ảnh hưởng của tải trọng ngang sinh ra rất nhỏ, nói chung có thể bỏ qua. Theo sự tăng lên của độ cao, nội lực và chuyển vị do tải trọng ngang sinh ra tăng lên rất nhanh.
Chuyển vị ngang: Dưới tác dụng của tải trọng ngang, chuyển vị ngang của công trình cao tầng cũng là một vấn đề cần quan tâm. Cũng như trên, nếu xem công trình như một thanh công xôn ngàm cứng tại mặt đất thì chuyển vị do tải trọng ngang tỉ lệ thuận với luỹ thừa bậc 4 của chiều cao. H4 = q (Tải trọng phân bố đều) 8EJ Nhà cao tầng theo sự gia tăng của chiều cao, chuyển vị ngang tăng rất nhanh. Trong thiết kế, không chỉ yêu cầu kết cấu có đủ cường độ, mà còn yêu cầu kết cấu có đủ độ cứng để chịu lực ngang.
Để dưới tác động của tải trọng ngang, chuyển vị của kết cấu hạn chế trong phạm vi nhất định. Chuyển vị ngang quá lớn sẽ dẫn tới hậu quả sau: + Chuyển vị ngang của công trình làm tăng thêm nội lực phụ do tạo ra độ lệch tâm cho lực tác dụng thẳng đứng. + Làm ảnh hưởng đến tiện nghi của người làm việc trong công trình. + Làm phát sinh các nội lực phụ sinh ra các rạn nứt các kết cấu như cột, dầm, tường, làm biến dạng các hệ thống kỹ thuật như các đường ống nước, đường điện.
=> Chính vì thế, khi thiết kế công trình nhà cao tầng phải quan tâm tới chuyển vị ngang của công trình. Trọng lƣợng bản thân: Công trình càng cao, trọng lượng bản thân càng lớn thì càng bất lợi về mặt chịu lực. Trước hết, tải trọng đứng từ các tầng trên truyền xuống tầng dưới cũng làm cho thành phần nội lực lực dọc trong cột tầng dưới lớn lên, tiết diện cột tăng lên vừa tốn vật liệu làm cột, vừa chiếm không gian sử dụng của tầng dưới, tải trọng truyền xuống kết cấu móng lớn thì sẽ phải sử dụng loại kết cấu móng có khả năng chịu tải cao, do đó càng tăng chi phí cho công trình. Mặt khác, nếu trọng lượng bản thân lớn sẽ làm tăng tác dụng của các tải trọng động như tải trọng gió động, tải trọng động đất.
Đây là hai SVTH: LÊ ĐÌNH ĐỨC-LỚP S14-53CXD 2 ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC PHẦN KẾT CẤU loại tải trọng nguy hiểm thường quan tâm trong thiết kế kết cấu nhà cao tầng. Vì vậy, thiết kế nhà cao tầng cần quan tâm đến việc giảm tối đa trọng lượng bản thân kết cấu, chẳng hạn như sử dụng các loại vách ngăn có trọng lượng riêng nhỏ như vách ngăn thạch cao, các loại trần treo nhẹ, vách kính khung nhôm. GIẢI PHÁP KẾT CẤU CHỊU LỰC CHÍNH: Thiết kế kết cấu nhà cao tầng so với thiết kế kết cấu nhà thấp tầng thì vấn đề chọn giải pháp kết cấu có vị trí rất quan trọng. Việc chọn hệ kết cấu khác nhau có liên quan đến vấn đề bố trí mặt bằng, hình thể khối đứng, độ cao các tầng, thiết bị điện, đường ống, yêu cầu về kỹ thuật thi công, tiến độ thi công, giá thành công trình.
Để có thể đưa ra được một giải pháp kết cấu phù hợp cho công trình, chúng ta tiến hành phân tích các hệ kết cấu chịu lực phổ biến, ưu và nhược điểm của mỗi hệ kết cấu. Với công trình cao tầng, các giải pháp kết cấu chịu lực chính gồm có: 1. Hệ kết cấu khung chịu lực: Hệ khung bao gồm các dầm ngang liên kết với các cột dọc thẳng đứng bằng các nút cứng. Hệ có thể bao gồm cả các tường bao ngoài và tường trong.
Hệ khung này chịu lực ngang kém, tính liên tục của khung cứng phụ thuộc vào độ bền và độ cứng của các liên kết khi chịu uốn. Các liên kết này không được phép có biến dạng góc khi uốn. Độ cứng của khung phụ thuộc rất nhiều vào độ cứng của từng dầm và từng cột trong khung. Ưu điểm: + Việc tính toán thiết kế và thi công hệ khung này khá phổ biến.
+ Tạo được không gian rộng và thích hợp với các công trình nhà ở có sơ đồ làm việc rõ ràng. + Dễ bố trí mặt bằng và thoả mãn các yêu cầu chức năng. Nhược điểm: + Độ cứng ngang nhỏ, không chịu được tải trọng ngang lớn. + Chiều cao dầm sàn thường lớn nên chiều cao các tầng thường phải lớn.
+ Tỉ lệ thép trong cấu kiện thường cao. Hệ kết cấu khung vách cứng và lõi cứng: Hệ kết cấu vách cứng có thể được bố trí thành hệ thống theo một phương, hai phương hoặc có thể liên kết lại thành các hệ không gian gọi là lõi cứng. Đặc điểm quan trọng của loại kết cấu này là khả năng chịu lực ngang tốt nên thường được sử dụng cho các công trình có chiều cao trên 20 tầng. Tuy nhiên độ cứng theo phương ngang của các vách cứng tỏ ra là hiệu quả ở những độ cao nhất định, khi chiều cao công trình lớn thì bản thân vách cứng phải có kích thước đủ lớn, mà điều đó thì khó có thể thực hiện được.
Ngoài ra, hệ thống vách cứng trong công trình là sự cản trở để tạo ra các không gian rộng. Trong thực tế hệ kết cấu vách cứng thường được sử dụng có hiệu quả cho các công trình nhà ở, khách sạn với độ cao không quá 40 tầng đối với cấp SVTH: LÊ ĐÌNH ĐỨC-LỚP S14-53CXD 3 ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC PHẦN KẾT CẤU phòng chống động đất 7. Độ cao giới hạn bị giảm đi nếu cấp phòng chống động đất của nhà cao hơn. Hệ kết cấu khung-giằng (khung và vách cứng): Hệ kết cấu khung -giằng (khung và vách cứng) được tạo ra tại khu vực cầu thang bộ, cầu thang máy, khu vệ sinh chung hoặc ở các tường biên, là các khu vực có tường liên tục nhiều tầng.
Hệ thống khung được bố trí tại các khu vực còn lại của ngôi nhà. Hai hệ thống khung và vách được liên kết với nhau qua hệ kết cấu sàn. Trong trường hợp này hệ sàn liền khối có ý nghĩa rất lớn. Thường trong hệ thống kết cấu này hệ thống vách đóng vai trò chủ yếu chịu tải trọng ngang, hệ khung chủ yếu được thiết kế để chịu tải trọng thẳng đứng.
Sự phân rõ chức năng này tạo điều kiện tối ưu hoá các cấu kiện, giảm bớt kích thước cột và dầm, đáp ứng được yêu cầu của kiến trúc. Hệ kết cấu khung -giằng tỏ ra là hệ kết cấu tối ưu cho nhiều loại công trình cao tầng. Loại kết cấu này sử dụng hiệu quả cho các ngôi nhà đến 40 tầng. Nếu công trình được thiết kế cho vùng có động đất cấp 8 thì chiều cao tối đa cho loại kết cấu này là 30 tầng, cho vùng động đất cấp 9 là 20 tầng .Hệ kết cấu hình ống: Hệ kết cấu hình ống có thể được cấu tạo bằng một ống bao xung quanh nhà gồm hệ thống cột, dầm, giằng và cũng có thể được cấu tạo thành hệ thống ống trong ống.
Trong nhiều trường hợp người ta cấu tạo ống ở phía ngoài, còn phía trong nhà là hệ thống khung hoặc vách cứng hoặc kết hợp khung và vách cứng. Hệ thống kết cấu hình ống có độ cứng theo phương ngang lớn, thích hợp cho loại công trình có chiều cao trên 25 tầng, các công trình có chiều cao nhỏ hơn 25 tầng loại kết cấu này ít được sử dụng. Hệ kết cấu hình ống có thể được sử dụng cho loại công trình có chiều cao tới 70 tầng. Qua phân tích một cách sơ bộ như trên ta nhận thấy mỗi hệ kết cấu cơ bản của nhà cao tầng đều có những ưu nhược điểm riêng.
Với công trình này do có chiều cao không quá lớn và yêu cầu về không gian nên ta chọn giải pháp "Khung chịu lực". Với giải pháp này việc thi công đơn giản hơn nhiều so với hệ khác. GIẢI PHÁP SÀN: Do công trình có chiều cao khá lớn, hệ sàn phải tạo thành một vách cứng ngang liên kết các kết cấu với nhau và truyền tải trọng ngang về hệ vách-lõi. Việc lựa chọn phương án sàn là rất quan trọng, nó ảnh hưởng trực tiếp tới sự làm việc của kết cấu.
Sau đây chúng ta sẽ phân tích một số phương án sàn thường gặp và lựa chọn giải pháp sàn cho công trình. Sàn nấm (sàn không dầm - không ƢLT) : Là loại sàn đặt trực tiếp lên cột mà không cần có dầm. Khi chịu cắt, bản sàn có thể bị phá hoại về cắt theo kiểu bị cột đâm thủng. Ưu điểm: sử dụng hệ sàn không dầm có thể tạo được không gian lớn, giảm được SVTH: LÊ ĐÌNH ĐỨC-LỚP S14-53CXD 4 ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC PHẦN KẾT CẤU chiều cao tổng thể của nhà, việc làm ván khuôn khi thi công đơn giản và dễ dàng bố trí cốt thép.
Sàn nấm có mặt dưới phẳng nên việc chiếu sáng và thông gió dễ dàng hơn các loại sàn khác. Nếu có hoả hoạn xảy ra thì việc thoát nhiệt cũng thuận lợi. ngoài ra việc phân chia các phòng trên mặt sàn khá linh hoạt và rất thích hợp với các bức tường ngăn di động. Nhược điểm: việc tính toán phức tạp và tốn kém vật liệu.