CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Tổng quan về bắp 1. Nguồn gốc, tên gọi Nguồn gốc Hình 1.1: Cây bắp Bắp {Zea mays L.) thuộc họ Gramineae, tông (họ phụ: tribus) Maydeae. Cây bắp đã được con người canh tác từ rất lâu, các nhà khảo cổ khai quật tại Batcave (tiểu ban New Mexico Hoa Kỳ, 1984) tìm thấy các mảnh vỏ hạt bắp nằm ở tầng niên đại cách nay 5600 năm.
Các nhà khảo cổ lại tìm gặp hạt phấn hoa của giống Zea nằm ở tầng văn hóa có niên đại xưa 6000 - 8000 năm. Với khoảng 7000 năm tiến hóa và phát triển, từ khi người dân da đỏ thuần hóa ở thung lũng Tehuacan - miền trung Mexico, cây bắp phát triển về phía bắc dựng nên nền văn minh của thổ dân châu lục mới, sau đó lang sang châu Âu, châu Á, châu Phi và trở thành một trong những cây lương thực quan trọng của loài người. Có nhiều giả thuyết về sự hiện diện của loài Zea mays trong thiên nhiên, khi xưa người ta nghĩ cây bắp được tạo nên do loài Euchlaena mexicana lai với loài hoang dại nào đó, đến năm 1945 Mangelsdorf và Reeves phân tích nhiễm thể đã bác bỏ giả thuyết này. Và một vài giả thuyết khác trong những năm tiếp theo về sự hiện diện của Zea mays đều bị bác bỏ.
Ngày nay, dựa vào các mảnh hóa thạch đã khai quật và các hình vẽ trên những mảnh đồ gốm của người Peru cổ người ta tạm cho rằng bắp bắt nguồn từ cây bắp vỏ (Zea 1 mays var. Tại Việt Nam, cây bắp do ông Trần Thế Vinh mang từ Trung Quốc về vào cuối thế kỷ 17. Một số giả thuyết khác thì cho là cây bắp do ông Phùng Khắc Khoan mang về từ đất Thục (Trung Quốc) trồng đầu tiên tại Sơn Tây. Tên gọi - Họ (family) : Poacea (hòa thảo) - Phân họ (subfamily) : Andropogonoideae - Tộc (tribe) :Tripsaceace - Chi (genus) : Zea - Loài (species) : Zea mays L.
Cây bắp trồng nhiều ở các vùng nhiệt đới như Trung Mỹ, châu Á. Bắp đường hay bắp ngọt có tên thực vật là Zea mays Saccharata Sturt [1] là một loại bắp có hàm lượng đường cao. Trong khi loại bắp thông thường được thu hoạch khi hạt bắp chín và khô chủ yếu được dùng làm thức ăn cho gia súc, thì bắp ngọt được chọn khi chưa chín và đầy sữa được sử dụng nhiều trong ngành công nghệ thực phẩm. Phân loại Có thể phân loại bắp theo 3 cách - Theo nông học: giống lấy hạt, giống lấy cây - Theo thương phẩm: bắp vàng, bắp trắng, bắp tạp - Theo cấu tạo tế bào của nội nhũ: Chia làm 8 loại Bắp vỏ (bắp bọt: pod corn): Zea mays var.
tunicata Là dạng bắp nguyên thủy, chỉ trồng để nghiên cứu vì năng suất thấp, không có giá trị kinh tế. Lượng tinh bột trong hạt gồm: 20% là amylose, 80% amylopectin. Bắp răng ngựa (dent corn): Zea mays var. indentata Là bắp có trái và hạt tương đối lớn, phần tinh bột cứng và trong suốt (phôi nhũ sừng) nằm ở hai cạnh bên của hạt, phần đầu và giữa hạt là tình bột mềm và đục.
Lượng tình bột trong hạt gồm: 21% là amylose, 79% amylopectin. Loại này trồng nhiều ở Hoa Kỳ và vùng bắc Mexico. Bắp đá (bắp tẻ: flint corn): Zea mays var. indurata Hạt bắp hơi nhỏ hơn bắp răng ngựa, đầu hơi tròn phần lớn là phôi nhũ sừng ở bên ngoài, ít phôi nhũ bột, do đó hạt cứng.
2 Lượng tình bột trong hạt gồm: 21% là amylose, 79% amylopectìn. Phổ biến ở Âu, Á Trung và Nam Mỹ. Bắp nổ (pop corn): Zea mays var. everta Loại này có trái và hạt tương đối nhỏ, phôi nhũ hầu như hoàn toàn là phôi nhũ sừng, rất ít tính bột mềm.Lượng tinh bột trong hạt gồm: 23% amylose, 77% amylopectin.
Ở nhiệt độ 200 ℃ hạt nổ và tăng thể tích lên 15-20 lần. Bắp nổ được sử dụng rất hạn chế. Bắp nếp (Bắp sáp: waxy corn): Zea mays var. ceratina Hạt bắp nếp có màu đục hơn bắp đá, hạt cứng, láng nhưng không bóng.
Có khoảng 60% tính bột. Lượng tính bột trong hạt gồm: toàn amylopectin 95 - 100%. Chỉ rất ít amylose Tinh bột của bắp nếp thường dùng trong dược liệu và chăn nuôi. Bắp bột (floury corn): Zea mays var.
amylaceae Hạt to, hầu như hoàn toàn là phôi nhũ bột, thường trồng để lấy tinh bột vì phôi nhũ mềm, dễ xay, dễ nghiền. Bắp ngọt (bắp đường: sweet corn): Zea mays var. saccharata Hạt nhăn nheo, gồm phần lớn là phôi nhũ sừng, lượng tinh bột tương đối thấp, nhiều nước, lipid và protein. Lượng tinh bột trong hạt gồm: 60 - 90% là amylose và 10 - 40% amylopectin.
Thường thu hoạch lúc còn xanh để ăn tươi hoặc làm rau đóng hộp.2: Bắp ngọt (sweet corn) 3 Bắp vàng Bắp vàng chứa nhiều vitamin A, nhất là provitamin A như: 𝛼, 𝛽, 𝛾 caroten, chất màu eryptoxantin. Lượng tinh bột trong hạt gồm: 80 - 90% là amylose và 10 - 20% amylopectin. Tình hình phát triển cây bắp trong và ngoài nước Trên thế thế giới: Bắp là sản phẩm thuần dưỡng trực tiếp từ cỏ bắp (Zea mays ssp. parviglumis) một năm ở Trung Mỹ, có nguồn gốc từ khu vực thung lũng sông Balsas ở miền nam Mexico.
Trong khi Hoa Kỳ sản xuất gần một nửa sản lượng chung của thế giới thì các nước sản xuất hàng đầu khác còn có Trung Quốc, Brasil, Mêxico, Argentina, Ấn Độ, Pháp, Indonesia, Nam Phi và Italia. Xu hướng phát triển cây bắp trên thế giới có những thay đổi đáng chú ý,năm 2010, tương ứng đạt 155,93 triệu ha, 5,35 tấn/ ha, và 835 triệu tấn, trong đó các nước đang phát triển đóng góp vào 383,6 triệu tấn (45,9%) (FAOSTAT, 2012). Ở Việt Nam: Bắp là cây lương thực quan trọng thứ hai đứng sau lúa,được trồng chủ yếu ở Đồng bằng sông Hồng, Đồng bằng sông Cửu Long, Tây Nguyên và Duyên hải miền Trung. Hiện nay,cây bắp là một loại cây lương thực đang được chú ý phát triển ở Việt Nam với diện tích và sản lượng ngày càng tăng.
Sản lượng bắp của Việt Nam trong năm 2015, 2016 và dự báo năm 2017 Đơn vị 2015 2016 2017 (ước tính) (ước tính) (dự báo) Diện tích thu hoạch Nghìn ha 1.300 Năng suất Tấn/ha 4,48 4,6 4,8 Sản lượng Nghìn tấn 5.1 ta có nhận xét là diện tích trồng ngô và sản lượng vẫn tăng đều nhưng không thay đổi đáng kể theo thời gian 4 1. Cấu tạo của quả bắp Cấu tạo của một quả bắp được mô tả trong hình: bao gồm lá bao, râu, bẹ, lõi, cuống, hạt. Nếu bóc hết lá bao và râu thì bắp ngô có hình trụ thuôn ở 2 đầu. Trong một quả bắp: hạt chiếm khoảng 78%, còn lại lõi và cuống khoảng 22% tính theo hàm ẩm tự nhiên.
Trong lõi còn lại trung bình 0.22% hạt không tẻ ra được gọi là hạt kẹ. Tùy theo giống, điều kiện canh tác mà khối lượng hạt bắp trong một quả bắp đạt khoảng 200-400g. Chiều dài quả bắp vào khoảng 10-25cm. Hạt bắp phát triển thành từng hàng thẳng, số hàng mọc trên mỗi bắp thường là số chẩn.
Số hàng nhiều hay ít phụ thuộc vào kích cỡ quả bắp trong khoảng từ 8-24 hàng hạt, trung bình 16-20 hàng hạt [1].3 : Cấu tạo của quả bắp 1. Cấu tạo của hạt bắp 1. Cấu tạo Bắp và hạt bắp có hình dạng và kích thước khác biệt nhau rất nhiều giữa các giống. Dựa vào đặc tính này người ta có thể phân biệt được chúng.
Ngay trong cùng một bắp, hạt cũng thay đổi về hình dạng và độ lớn. Hạt ở đầu cuống bắp dường như có cùng khối lượng vở hạt giữa bắp, có dạng ngắn hơn và to hơn, phôi to hơn. Hạt của các giống bắp đều cấu tạo gồm từ 5 phần chính : mày hạt, vỏ hạt, lớp aleuron, nội nhũ,phôi hạt. Tỉ lệ giữa các thành phần của hạt bắp được trình bày trong bảng 5 Bảng 1.1 : Thành phần các phần chính trong hạt bắp răng ngựa Thành phần Vỏ Phôi Nội nhũ Mày Phần trăm trong hạt 5.1 (theo % chất khô) Hạt ngô được cấu tạo bởi 5 thành phần chính : mày hạt,vỏ hạt, lớp aleuron, nội nhũ,phôi hạt.4: Các thành phần chính của hạt ngô Giải thích : - Endosperm: nội nhũ - Pericarp: vỏ - Germ: Phôi - Tip cap : mày hạt Mày hạt : là thành phần lòi ra ngoài cuối hạt,là bộ phận dính hạt vào lõi ngô Vỏ : bắp là loại hạt trần nên không có có vỏ trấu mà chỉ có lớp vỏ quả và vỏ hạt.
Chiều dày lớp vỏ khoảng 35-60𝜇m. Vỏ quả gồm có 3 lớp : - Lớp ngoài cùng : tế bào xếp theo chiều dọc của hạt nên gọi là lớp tế bào dọc - Lớp giữa : gồm những tế bào tương tự như lớp ở ngoài nhưng tế bào xếp thành chiều ngang. Khi hạt còn xanh những tế bào của lớp giữa chứa những hạt diệp lục. Khi hạt đã chín trong tế bào này trống rỗng.
- Lớp trong : gồm những tế bào hình ống xếp theo chiều dọc của hạt. Chiều dày của lớp vỏ ngoài thay đổi theo tùy loại và giống hạt. Trong cùng một hạt thì chiều dày của vỏ ngoài tại các vị trí khác nhau cũng không giống nhau. 6 Lớp aleurone : Chiếm khoảng 5-11% gồm những lớp tế bào lớn, thành dày, trong có chứa hợp chất của Nitơ và những giọt nhỏ chất béo.
Lớp tế bào này có dạng nhỏ hình vuông hoặc chữ nhật. Lớp aleurone dày khoảng 10-70𝜇m, trong này hầu như không chứa tinh bột. Chiều dày của lớp aleurone phụ thuộc vào giống, loại hạt và nhất là phụ thuộc vào điều kiện canh tác [2]. Nội nhũ Chiếm khoảng 75-83% khối lượng hạt [2] Sau lớp aleurone là khối những tế bào lớn hơn, thành mỏng, có hình dạng khác nhau, xếp không có thứ tự rõ ràng, đó là tế bào nội nhũ.
Nội nhũ của ngô được chia làm 2 phần, nội nhũ sừng và nội nhũ bột: - Lớp nội nhũ bột: nằm bên trong, gần phôi, mềm và đục, chứa nhiều hạt tinh bột. Các hạt tinh bột của lớp nội nhũ lổn và trơn nhẩn. Liên kết các tế bào trong lớp nội nhũ bột lỏng lẻo. Trong phần nội nhũ bột, màng lưới các hạt protein mỏng và không bao bọc được xung quanh hết các hạt tinh bột.
- Lớp nội nhũ sừng: cứng và trong mờ, nằm gần lớp vỏ, chứa nhiều hạt protein. Hạt tính bột của lớp nội nhũ hình đa giác, kích thước nhỏ, kết dính nhau rất sít. Tỉ lệ giữa nội nhũ sừng và nội nhũ bột thay đổi tùy thuộc vào giống bắp. Ví dụ với bắp răng ngựa tỉ lệ này là 2:1 phụ thuộc vào tỉ lệ giữa nội nhũ sừng và nội nhũ bột.
Nhìn bên ngoài nội nhũ hạt bắp có thể trong hay đục.