Khóa luận tốt nghiệp luật học định tội danh và quyết định hình phạt đối với tội trộm cắp tài sản theo quy định của bộ luật hình sự năm 2015 và thực tiễn xét xử tại toà án nhân dân thành phố hà nội

Luận văn tốt nghiệp luật học nghiên cứu tốt nghiệp luật học định tội danh và quyết định hình phạt đối với tội trộm cắp tài sản theo quy, điều tra thực trạng, phân tích số liệu, đề

Chuyên ngành

Luật hình sự

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2025

65
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Khái Niệm và Đặc Điểm của Tội Trộm Cắp Tài Sản

Tội trộm cắp tài sản là một trong những loại tội phạm xâm phạm sở hữu phổ biến nhất trong xã hội hiện đại. Theo Bộ luật Hình sự năm 2015, tội này được quy định chi tiết với các dấu hiệu pháp lý cụ thể. Định tội danh cho loại tội phạm này đòi hỏi sự chặt chẽ trong việc xác định các yếu tố cấu thành tội và mức độ nghiêm trọng. Tài sản bị trộm cắp có thể là vật chất hoặc tài chính, thuộc về cá nhân, tổ chức hoặc nhà nước. Đặc điểm quan trọng là hành vi lén lút, không được phép của chủ sở hữu, với mục đích chiếm hữu trái phép. Hình phạt đối với tội trộm cắp phụ thuộc vào giá trị tài sản, tính chất, mục đích và hoàn cảnh phạm tội.

1.1. Khái Niệm Tội Trộm Cắp Tài Sản

Tội trộm cắp tài sản là hành vi lén lút lấy chiếm trái phép tài sản của người khác. Đây là tội phạm xâm phạm sở hữu, gây thiệt hại trực tiếp đến quyền sở hữu và an toàn tài sản của cộng đồng. Theo định tội danh trong pháp luật hình sự, hành vi này phải có dấu hiệu chủ quan là cố ý và dấu hiệu khách quan là chiếm hữu tài sản trái phép.

1.2. Dấu Hiệu Pháp Lý của Tội Trộm Cắp

Các dấu hiệu pháp lý bao gồm: đối tượng là tài sản của người khác; hành vi lén lút không có sự đồng ý; mục đích chiếm hữu trái phép; gây thiệt hại cho quyền sở hữu. Định tội danh phải xác định rõ ràng từng yếu tố để áp dụng hình phạt phù hợp theo quy định của pháp luật.

II. Quy Định về Định Tội Danh Theo Bộ Luật Hình Sự 2015

Bộ luật Hình sự năm 2015 có sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định chi tiết về định tội danhhình phạt tội trộm cắp tài sản. Quy định này phân loại tội trộm cắp theo mức độ, từ trộm cắp vặt đến trộm cắp có tính chất nghiêm trọng. Việc định tội danh chính xác là cơ sở để quyết định hình phạt công bằng và hiệu quả. Hình phạt được quy định từ mức tiền tệ đến tự do nhân thân, tùy theo giá trị tài sản bị trộm cắp. Thẩm phán cần xem xét toàn bộ hoàn cảnh vụ án, tính cách bị cáo, động cơ phạm tội để áp dụng hình phạt phù hợp và công bằng, nhằm đạt mục đích giáo dục, phòng ngừa tội phạm.

2.1. Phân Loại Tội Trộm Cắp Theo Giá Trị Tài Sản

Định tội danh phân chia dựa trên giá trị tài sản bị trộm: trộm cắp vặt (giá trị nhỏ), trộm cắp thường (giá trị trung bình), và trộm cắp nghiêm trọng (giá trị lớn). Mỗi mức độ có hình phạt khác nhau. Việc xác định chính xác giá trị tài sản là yếu tố then chốt trong định tội danh để áp dụng mức hình phạt thích hợp.

2.2. Các Tình Tiết Tăng Nặng Hình Phạt

Hình phạt có thể tăng nặng khi tội phạm có tiền án, phạm tội theo nhóm, trộm cắp tài sản của người ruột thịt hoặc trong các tình huống đặc biệt nguy hiểm. Định tội danh phải xem xét các tình tiết này để quyết định hình phạt công bằng, đáp ứng yêu cầu của pháp luật.

III. Thực Tiễn Xét Xử Tại Tòa Án Nhân Dân Thành Phố Hà Nội

Thành phố Hà Nội là một trong những khu vực có tình hình tội trộm cắp tài sản phức tạp. Theo thống kê, tội trộm cắp chiếm tỷ lệ cao trong các vụ án xét xử về tội phạm xâm phạm sở hữu. Thực tiễn xét xử cho thấy định tội danhquyết định hình phạt cần phải chặt chẽ và nhất quán. Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã áp dụng hình phạt từ nhẹ đến nặng tùy theo tính chất vụ án. Một số vụ án tội trộm cắp được xử lý dân sự (bồi thường tài sản) song song với xử lý hình sự. Định tội danh chính xác giúp nạn nhân được bồi thường kịp thời và tội phạm bị xử phạt thích đáng, góp phần giảm tệ nạn này.

3.1. Kết Quả Xét Xử Các Vụ Trộm Cắp

Dữ liệu từ Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội cho thấy số vụ tội trộm cắp có chiều hướng giảm nhẹ về số vụ nhưng số bị cáo tăng, chứng tỏ tội phạm ngày càn tinh vi hơn, thường hoạt động theo nhóm. Định tội danh đúng pháp luật và hình phạt công bằng là yếu tố quan trọng trong việc xử lý hiệu quả.

3.2. Những Tồn Tại và Hạn Chế

Trong quá trình định tội danhquyết định hình phạt, còn tồn tại những hạn chế như xác định giá trị tài sản không chính xác, áp dụng hình phạt không nhất quán giữa các vụ tương tự. Cần nâng cao trình độ chuyên môn của thẩm phán để định tội danhquyết định hình phạt chính xác hơn.

IV. Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Định Tội Danh và Hình Phạt

Để nâng cao hiệu quả trong định tội danhquyết định hình phạt đối với tội trộm cắp tài sản, cần thực hiện nhiều giải pháp toàn diện. Trước tiên, hoàn thiện quy định của Bộ luật Hình sự để định tội danh rõ ràng hơn, các tiêu chí phân loại hình phạt cụ thể hơn. Thứ hai, nâng cao trình độ chuyên môn, đạo đức của thẩm phán thông qua các khóa đào tạo, hội thảo chuyên ngành. Thứ ba, tăng cường cơ sở vật chất, công nghệ để hỗ trợ xác định giá trị tài sản chính xác. Cuối cùng, nâng cao ý thức pòng chống tội phạm của cộng đồng, tạo điều kiện để tòa án định tội danhquyết định hình phạt một cách công bằng, hiệu quả.

4.1. Hoàn Thiện Khung Pháp Luật

Bộ luật Hình sự cần được sửa đổi để làm rõ hơn các tiêu chí định tội danh, các mức hình phạt cụ thể theo giá trị tài sản. Quy định về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hình phạt phải rõ ràng, tránh tình trạng định tội danh chủ quan, hình phạt không nhất quán.

4.2. Phát Triển Năng Lực Cán Bộ và Công Nghệ

Nâng cao trình độ chuyên môn hình sự của thẩm phán, kiểm sát viên thông qua đào tạo liên tục. Đầu tư công nghệ thông tin để hỗ trợ xác định giá trị tài sản, lưu trữ dữ liệu vụ án, giúp định tội danhquyết định hình phạt nhất quán, minh bạch và hiệu quả hơn.

11/12/2025
Khóa luận tốt nghiệp luật học định tội danh và quyết định hình phạt đối với tội trộm cắp tài sản theo quy định của bộ luật hình sự năm 2015 và thực tiễn xét xử tại toà án nhân dân thành phố hà nội

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐỊNH TỘI DANH VÀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN 1. Các khái niệm liên quan 1. Tội trộm cắp tài sản Trộm cắp tài sản là một trong những hành vi vi phạm pháp luật hình sự xuất hiện rất sớm trong đời sống xã hội. Tuy nhiên, pháp luật hình sự hiện hành vẫn chưa có văn bản nào giải thích hành vi trộm cắp tài sản là gì.

Nhằm làm rõ khái niệm tội trộm cắp tài sản, tác giả sẽ phân tích trước hết thông qua các thuật ngữ pháp lý nội hàm bao gồm: “tội”, “trộm cắp” và “tài sản”. Về thuật ngữ “tội”, còn được hiểu là tội phạm, theo khoản 1 Điều 8 BLHS năm 2015 thì tội phạm được định nghĩa như sau: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất,toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự”. Như vậy, tội hay tội phạm chính là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS, do chủ thể có năng lực nhất định thực hiện mà xâm phạm đến các khách thể mà BLHS bảo vệ. Về thuật ngữ tài sản, pháp luật hình sự hiện chưa có giải thích tài sản là đối tượng tác động của các tội trong BLHS nói chung và trong tội trộm cắp tài sản nói riêng được hiểu như thế nào nên cần vận dụng quy định của BLDS năm 2015 để có thể hiểu rõ hơn.

Theo khoản 1 Điều 105 BLDS năm 2015 thì tài sản bao gồm tiền, vật, giấy tờ có giá và các quyền tài sản. Tuy nhiên, tài sản trong tội trộm cắp tài sản dưới góc độ thực tiễn xét xử và quan điểm trong lĩnh vực tư pháp thì phải có tính chiếm đoạt thực tế, tức là phải có sự dịch chuyển vị trí của tài sản. Chính vì thế, không phải mọi loại tài sản đều thuộc phạm vi của Điều 105 BLDS năm 2015 có thể coi là tài sản bị trộm cắp. 6 Chẳng hạn, đối với vật thì không phải mọi loại vật mà chỉ những vật có giá trị, ý nghĩa nhất định.

Bởi vì, theo từ điển tiếng Việt, vật được hiểu là “cái có hình khối, tồn tại trong không gian, có thể nhận biết được”2. Như vậy, “vật” có thể hiểu là cái có hình khối tức có kích thước, có trọng lượng mà con người có thể nhận biết được thông qua các giác quan để cảm giác. Vật có thể coi là một thứ có muôn hình, muôn vẻ. Người phạm tội khi nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản nói chung đều nhắm đến giá trị của tài sản nên nếu là vật thì vật đó cũng phải có giá trị hoặc ý nghĩa nhất định về một khía cạnh nào đó được nhiều người thừa nhận.

Bởi lẽ đó, một vật chỉ có thể là đối tượng tác động của tội trộm cắp tài sản khi nó có giá trị, ý nghĩa nhất định. Đối với giấy tờ có giá, theo quy định của luật được định nghĩa là “bằng chứng xác nhận nghĩa vụ trả nợ giữa tổ chức phát hành giấy tờ có giá với người sở hữu giấy tờ có giá trong một thời hạn nhất định, điều kiện trả lãi và các điều kiện khác. Đồng thời theo Điều 5 Thông tư số 01/2021/TT-NHNN quy định về phát hành kỳ phiếu, tín phiếu, chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu trong nước của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài thì “kỳ phiếu, tín phiếu, chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu là bằng chứng xác nhận nghĩa vụ trả nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phát hành đối với người mua giấy tờ có giá trong một thời hạn nhất định, điều kiện trả lãi và các điều kiện khác”. Căn cứ theo Công văn số 141/TANDTC- KHXX về thẩm quyền giải quyết các yêu cầu trả lại giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản thì TANDTC đã hướng dẫn giấy tờ có giá có thể là hối phiếu, trái phiếu, tín phiếu, công trái, chứng khoán.

Theo quy định cũ trong Quyết định số 07/2008/QĐ- NHNN thì giấy tờ có giá được chia thành giấy tờ có giá vô danh (quyền sở hữu thuộc về người nắm giữ giấy tờ có giá) và giấy tờ có giá ghi danh (giấy tờ có ghi tên người sở hữu). Với quy định trên thì chỉ giấy tờ có giá vô danh mới có thể là đối tượng tác động của tội trộm cắp tài sản bởi vì khi chiếm đoạt được các loại giấy tờ có giá vô danh thì quyền sở hữu của chủ sở hữu mới bị ảnh hưởng và có khả năng xác lập quyền sở hữu cho người phạm tội. Đối với giấy tờ có giá ghi danh do quyền sở hữu các loại giấy tờ này gắn liền với cá nhân, tổ chức có tên trong chính giấy tờ có giá đó. Tuy nhiên pháp luật hiện hành đã loại bỏ khái niệm về giấy tờ có giá vô danh và giấy tờ 2 Viện ngôn ngữ học (2005), Từ điển tiếng Việt, NXB.

Đà Nẵng – Trung tâm từ điển học, Đà Nẵng, tr. 3 Khoản 8 Điều 6 Luật Ngân hàng Nhà nước năm 2010. 7 có giá ghi danh, quy định chung là giấy tờ có giá nên về nguyên tắc nếu giấy tờ có giá được ghi rõ tên người mua (tổ chức hoặc cá nhân) thì không thể là tài sản có thể bị trộm cắp được. Các giấy tờ giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, Giấy đăng ký xe mô tô, xe máy; Giấy đăng ký xe ô tô…) theo TANDTC hướng dẫn cũng không phải là giấy tờ có giá4 nên các giấy tờ trên không phải là tài sản, người có hành vi trộm cắp đối với loại giấy tờ này cũng không cấu thành tội trộm cắp tài sản.

Ngoài ra, quyền tài sản cũng không phải đối tượng tác động của tội trộm cắp tài sản. Căn cứ theo Điều 115 BLDS năm 2015 quy định quyền tài sản là “quyền trị giá được bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác”. Các quyền tài sản thông thường là quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đòi nợ, quyền tài sản đối với phần vốn góp trong doanh nghiệp, quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng, quyền sử dụng đất. Các quyền này thường gắn liền với nhân thân con người hoặc được thể hiện qua các giấy tờ có xác nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Cho nên, người phạm tội không thể xác lập quyền sở hữu đối với các quyền tài sản của chủ sở hữu. Bên cạnh đó, BLDS còn phân chia tài sản thành động sản và bất động sản.5 Với tính chất hành vi chiếm đoạt của tội trộm cắp tài sản thì chỉ có động sản mới là đối tượng tác động của tội trộm cắp tài sản. Về thuật ngữ trộm cắp, hay trộm cắp tài sản, theo Từ điển tiếng Việt, “trộm cắp” là “trộm và lấy cắp của cải nói chung”; trong đó, “trộm” là “lấy của người khác một cách lén lút, nhân lúc không ai để ý” và “cắp” là “lấy của người khác một cách lén lút, vụng trộm”6. Theo từ điển Pháp luật hình sự, trộm cắp tài sản là “hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản (của xã hội chủ nghĩa hoặc của công dân) đang có người quản lý”7.

Theo quan điểm của khoa Luật hình sự, Trường đại học Luật Hà Nội thì (tội) 4 Điều 2 Công văn số Công văn số 141/TANDTC-KHXX về thẩm quyền giải quyết các yêu cầu trả lại giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản 5 Khoản 2 Điều 105 Bộ luật Dân sự năm 2015: “Tài sản bao gồm bất động sản và động sản. Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai.” 6 Nguyễn Như Ý, Đỗ Xuân Việt, Phan Xuân Thành (2006), Từ điển tiếng Việt căn bản, Nxb. Thành Niên, tr. 7 Nguyễn Ngọc Hòa, Lê Thị Sơn (2006), Từ điển Pháp luật hình sự, Nxb.

Tư pháp, Hà Nội, tr.283 8 trộm cắp tài sản được định nghĩa là “hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản đang có người quản lý”8. Theo tác giả Đinh Văn Quế, tội trộm cắp tài sản là “hành vi lén lút lấy tài sản của chủ sở hữu hoặc người có trách nhiệm quản lý tài sản mà không dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực hoặc bất cứ thủ đoạn nào nhằm uy hiếp tinh thần của người quản lý tài sản”9. Các định nghĩa trên đều có điểm tương đồng với nhau khi định nghĩa trộm cắp tài sản là hành vi chiếm đoạt tài sản đang có người khác quản lý một cách lén lút. Từ các quan điểm trên về các thuật ngữ riêng lẻ cũng như tội trộm cắp tài sản, tác giả xin đưa ra quan điểm về định nghĩa tội trộm cắp tài sản là hành vi nguy hiểm cho xã hội, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện với lỗi cố ý, xâm phạm đến quan hệ sở hữu tài sản, thông qua hành vi lén lút lấy tài sản đang do người khác quản lý nhằm chiếm đoạt tài sản.

Định tội danh đối với tội trộm cắp tài sản Định tội danh là một hoạt động quan trọng, có vai trò quyết định trong quá trình áp dụng pháp luật hình sự của các cơ quan tố tụng hình sự. Pháp luật hình sự hiện vẫn chưa có văn bản giải thích cụ thể về định tội danh nói chung cũng như định tội danh đối với tội trộm cắp tài sản nói riếng. Vì thế, để hiểu rõ hơn về hoạt đồng này, tác giả đã tham khảo quan điểm của một số học giả, nhà nghiên cứu trong và ngoài nước, cụ thể: Theo Gaukhman L.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ