Chương 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Các nghiên cứu lý thuyết 1. Cách tiếp cận của xã hội học lối sống Theo quan ñiểm của xã hội học lối sống, cơ cấu của quan niệm sống bao gồm: (1) Các kế hoạch sống (dự kiến), những ñịnh hướng giá trị, (2) Lý tưởng, niềm tin, (3) Sự nhận thức về bản thân mình cũng như khả năng thực hiện nhu cầu, lợi ích. Các tình huống sống, tình huống có vấn ñề là thời ñiểm mà con người bộc lộ rõ nhất lối sống, quan niệm sống của họ ở các khía cạnh nhu cầu, mục ñích, khả năng tự nhận thức về bản thân cũng như chiến lược sử dụng các phương tiện ñể ñạt ñược mục ñích ñã ñề ra.
Cơ chế hoạt ñộng của quan niệm sống: ban ñầu các cá nhân hình thành những ý niệm chung, chưa rõ ràng. Dần dần, dưới sự tác ñộng của các tình huống sống, tình huống có vấn ñề khiến cá nhân phải xác ñịnh rõ mục ñích, phương tiện, kế hoạch ñể ñạt ñược mục ñích ñó, thì các ý niệm này trở thành những khái niệm cụ thể hơn. Quá trình ñi từ ý niệm ñến khái niệm này bị chi phối bởi những giá trị, chuẩn mực, quy tắc xã hội mà cá nhân học hỏi ñược từ quá trình xã hội hóa. Cách nghiên cứu theo cơ chế này ñược gọi là cách tiếp cận “từ trong ra”, ñược Trần Thị Kim Xuyến (2001, tr.
9) biểu diễn theo sơ ñồ sau: Quan niệm sống Việc ñánh giá tình Hoạt ñộng ứng xử thế hoạt ñộng Như vậy quan ñiểm của xã hội học lối sống cho thấy ñịnh hướng giá trị là một phần của quan niệm sống, ñược nhận diện rõ rệt nhất trong những tình huống sống, ñặc biệt ở những tình huống có vấn ñề. Ngoài ra, xã hội học lối sống cũng gợi ý cách tiếp cận “từ trong ra” ñể khảo sát cơ chế hoạt ñộng của cơ chế hoạt ñộng từ ñịnh hướng giá trị ñến vạch ra chiến lược hành ñộng cho ñến việc hiện thực hóa các chiến lược ñó bằng các hành ñộng cụ thể. Cơ chế này ñi từ ý niệm ñến khái 9 niệm, từ cái chung ñến cái riêng thông qua sự ñánh giá các tình huống sống và chịu sự chi phối của các giá trị, chuẩn mực xã hội ñược cá nhân lĩnh hội thông qua quá trình xã hội hóa. Bên cạnh ñó, cách tiếp cận lối sống còn ñưa ra quan niệm về các yếu tố ảnh hưởng ñến hành vi của con người.
Trong khi cách tiếp cận “khách quan” trong xã hội học cho rằng chính ñiều kiện sống như ñiều kiện kinh tế - xã hội - văn hóa ñã ảnh hưởng quyết ñịnh ñến hành vi của con người và cách tiếp cận “chủ quan” trong xã hội học lại cho rằng những yếu tố chủ quan, “bên trong” (nhận thức, ñộng cơ, tình cảm của cá nhân) mới trực tiếp quyết ñịnh hành ñộng của họ, thì xã hội học lối sống ñưa ra một giải pháp mang tính dung hòa khi cho rằng ñiều kiện sống khách quan ñã ảnh hưởng ñến các hoạt ñộng xã hội của con người thông biến trung gian là quan niệm sống (mà một trong những thành tố của nó là ñịnh hướng giá trị). Tóm lại, cách tiếp cận xã hội học lối sống ñã trình bày các thành tố của lối sống (bao gồm (1) Kế hoạch sống, ñịnh hướng giá trị, (2) Lý tưởng, niềm tin, (3) Sự nhận thức về bản thân mình và khả năng thực hiện nhu cầu và lợi ích) theo một chỉnh thể thống nhất, vạch rõ ñược vị trí của ñịnh hướng giá trị trong toàn bộ cơ cấu của lối sống, cũng như nêu lên những yếu tố ảnh hưởng ñến ñịnh hướng giá trị của chủ thể. Tuy nhiên, cách tiếp cận xã hội học lối sống chưa phân tích sâu sự biến ñổi các giá trị, chuẩn mực xã hội chưa nói nhiều ñến sự khác biệt giữa các hệ thống giá trị khác nhau trải qua từng giai ñoạn phát triển xã hội. Các lý thuyết hiện ñại hóa ñã góp phần giải quyết những vấn ñề này.
Các lý thuyết hiện ñại hóa Lý thuyết hiện ñại hóa giải thích sự biến ñổi xã hội và hệ quả của sự biến ñổi ñó trong quá trình xã hội loài người chuyển từ xã hội truyền thống sang xã hội hiện ñại ở tất cả các lĩnh vực, trong ñó có giá trị xã hội. Quan niệm của M. Weber về tính hợp lý hóa của xã hội hiện ñại Lý thuyết hành ñộng xã hội của Weber phân chia hành ñộng xã hội của con người thành 4 loại: hành ñộng theo cảm xúc, hành ñộng theo truyền thống, hành ñộng hợp lý theo giá trị và hành ñộng hợp lý theo mục ñích. Weber cho rằng sự 10 chuyển biến từ xã hội truyền thống sang xã hội hiện ñại ñược ñặc trưng bởi quá trình duy lý hóa mà biểu hiện cụ thể là sự phổ biến của kiểu hành ñộng hợp lý theo mục ñích.
Ông cho rằng trong xã hội hiện ñại, kiểu hành ñộng hợp lý theo mục ñích chiếm ưu thế và là ñối tượng mà xã hội học phải tập trung nghiên cứu. Mặt khác, quá trình duy lý hóa ñời sống xã hội cũng dẫn ñến hiện tượng xói mòn các giá trị xã hội truyền thống, ñồng thời gia tăng các giá trị xã hội ñề cao tính hợp lý, tính hiệu quả dẫn ñến “xã hội hiện ñại thường nhìn vào thành quả ñể ñánh giá” (Nguyễn Xuân Nghĩa, 1998, tr. Quá trình duy lý hóa với sự xuất hiện của các tổ chức quan liêu còn dẫn ñến hậu quả phi nhân tính hóa xã hội. Xã hội hiện ñại nâng cao mức sống, phát triển khoa học kỹ thuật nhưng “vẫn bất lực trong việc ñem lại những câu trả lời cho những vấn ñề cơ bản nhất về ý nghĩa và mục ñích của cuộc sống con người” (Nguyễn Xuân Nghĩa, 1998, tr.
Như vậy, quan ñiểm của Weber cho thấy quá trình duy lý hóa ñã tạo ra hai hệ quả xã hội ñối lập. Một mặt là sự dồi dào vật chất, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật, sự lên ngôi của chủ nghĩa cá nhân; mặt khác là sự suy thoái của các giá trị truyền thống, sự phi nhân tính hóa, mất phương hướng trong việc xác ñịnh mục ñích, ý nghĩa cuộc sống. Quan niệm của Riesman về vấn ñề hình thành cái tôi (indentité) của con người Riesman có cùng quan ñiểm với Weber về vấn ñề con người trong xã hội hiện ñại trở nên khó khăn trong việc xác ñịnh mục ñích, ý nghĩa cuộc sống. Nhưng nếu như Weber lý giải hiện tượng trên là do quá trình duy lý hóa ñời sống xã hội, thì Riesman lại cho rằng chính những ñặc ñiểm của xã hội hiện ñại như: quy mô xã hội ñược mở rộng, ña dạng văn hóa, biến ñổi xã hội nhanh chóng ñã khiến cá nhân gặp khủng hoảng trong việc xác ñịnh bản chất của chính mình.
Ông gọi hiện tượng này là sự khủng hoảng căn tính của con người hiện ñại. Riesman cho rằng cái tôi của con người ñược hình thành trên nền tảng những mối tương tác xã hội ổn ñịnh. Chính trong những mối tương tác xã hội này mà con người hấp thụ các giá trị, chuẩn mực xã hội, hình thành nên nhân cách cá nhân. Ông 11 cho rằng trong xã hội truyền thống với quy mô nhỏ, văn hóa ñồng nhất, chuyển biến chậm ñã tạo ra một môi trường xã hội ổn ñịnh cho việc hình thành cái tôi ở mỗi cá nhân.
Cái tôi ñặc trưng của con người ở xã hội nông nghiệp là hướng về truyền thống (tradition-directedness) với những ñặc trưng là ổn ñịnh, ñồng nhất. Ngược lại, trong xã hội hiện ñại với quy mô lớn, văn hóa ña dạng, chuyển biến nhanh, ñã tạo ñiều kiện thuận lợi cho sự lựa chọn, tính thích ứng cá nhân, nhưng ñồng thời cũng làm cho các vai trò xã hội của cá nhân trở nên phức tạp, liên tục thay ñổi, gây nên hiện tượng không ổn ñịnh trong cái tôi của con người. Riesman gọi ñây là cái tôi hướng về kẻ khác (other-directedness) - một ñặc trưng của con người của xã hội công nghiệp. ðiều này làm cho sự phát triển nhân cách cá nhân thiếu ổn ñịnh, gây nên sự khủng hoảng trong xã hội hiện ñại.
Quan niệm về vấn ñề hình thành cái tôi của Riesman cho thấy việc tìm ra “cái tôi” của mình, tìm ra ý nghĩa cuộc sống là một trong những băn khoăn lớn của con người hiện ñại. Nguyên nhân của hiện trạng này nằm ở sự ña dạng, phức tạp và ñôi khi mâu thuẫn trong các vai trò xã hội mà con người thực hiện. Quan niệm của Bauer về sự trái ngược giữa yếu tố truyền thống và hiện ñại Bauer (1918) so sánh xã hội truyền thống và hiện ñại theo ba chiều kích: quan niệm sống, giá trị sống, vị trí của cá nhân trong xã hội. Xã hội truyền thống có 3 ñặc trưng cơ bản: (1) Sự chi phối của giá trị chủ nghĩa truyền thống: con người bị quá khứ ñịnh hướng và do ñó thiếu khả năng thích nghi với hoàn cảnh mới; (2) Hệ thống mối quan hệ là luận ñiểm quyết ñịnh tất cả những hoạt ñộng thực tiễn xã hội, của cải ñầu tiên bị ñiều khiển thông qua những mối quan hệ kinh tế, chính trị, pháp luật.
Vị trí của cá nhân trong mối quan hệ dòng họ luôn bị gán ghép, qui ra từ chỗ ñứng, vị trí của gia ñình mà họ ñược sinh ra. Vị trí của cá nhân chi thay ñổi khi cá nhân tự ý ñảo lộn trật tự tôn ti của gia ñình. Do ñó, ñịa vị ở ñây không phải là việc kiếm tiền nhiều hay thành ñạt mà là do sự ban cho của mối quan hệ dòng họ thân tộc; (3) Những thành viên trong xã hội truyền 12 thống nhìn nhận thế giới với sự phó mặc cho ñịnh mệnh, dị ñoan, nặng về tình cảm: “cái gì ñến sẽ ñến, sự việc vẫn luôn luôn diễn ra theo cách ấy.