Chương 1. Chương này nêu lý do chọn đề tài, câu hỏi nghiên cứu và mục tiêu của nghiên cứu này. Nó cung cấp một cái nhìn tổng quan về lĩnh vực nghiên cứu, lợi ích của nghiên cứu và kết cấu của bài nghiên cứu. Phần này tóm tắt các tài liệu liên quan trong lĩnh vực nghiên cứu.
Nêu những khái niệm và những nghiên cứu có liên quan về lĩnh vực nghiên cứu. Sau đó xem xét và đưa ra mô hình nghiên cứu đề xuất về hành vi định hướng khách hàng của nhân viên, chất lượng dịch vụ, sự hài lòng và lòng trung thành của khách hàng trong lĩnh vực ngân hàng. Nêu các phương pháp được lựa chọn để tiến hành nghiên cứu, khảo sát định tính với chuyên gia và khảo sát khách hàng với kích thước mẫu phù hợp bằng phương pháp định lượng. Việc phân tích dữ liệu định lượng được xác thực bằng dữ liệu định tính thông qua các cuộc phỏng vấn bán cấu trúc.
Chương này là chương nêu kết quả sau khi phân tích dữ liệu bằng phần mềm Spss và Amos, giải thích các số liệu đạt được từ việc phân tích dữ liệu. Phần này tóm tắt kết quả của các lĩnh vực nghiên cứu và xác định tính tương đồng/khác biệt với nghiên cứu trước đó. Đồng thời cũng liệt kê một số kiến nghị và hạn chế để mở rộng trong nghiên cứu tương lai. 8 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Các khái niệm liên quan 2.1 Định hướng khách hàng của nhân viên Theo Narver và Slater (1990), định hướng khách hàng là một trong những khái niệm quan trọng của định hướng thị trường.
Hiểu biết tốt và rõ nhu cầu của khách hàng không chỉ cho phép công ty tạo ra giá trị vượt trội cho chính tổ chức mà còn cho khách hàng của mình. Định hướng khách hàng đã góp phần tạo ra giá trị cho khách hàng và các công ty định hướng thị trường và khách hàng luôn đặt ưu tiên hàng đầu vào việc duy trì giá trị cho khách hàng (Liang và ctg, 2010). Định hướng khách hàng làm tăng mức độ hài lòng của khách hàng, áp đặt chi phí chuyển đổi và giảm ý định chuyển đổi của khách hàng (Saxe và Weitz, 1982). Đối với các nhà sản xuất, hiểu rõ nhu cầu của khách hàng là điều bắt buộc vì việc này cần thiết để họ xác định thị trường ngách và nhắm mục tiêu thị trường ngách đó với các sản phẩm phù hợp.
Thị trường ngách được hiểu là nơi doanh nghiệp hướng tới ưu điểm hay thế mạnh độc nhất của sản phẩm, dịch vụ mà họ kinh doanh, là một phân đoạn nhỏ của thị trường mà họ đặt mục tiêu vào một nhóm khách hàng riêng biệt. Tức là không tập trung vào phân khúc của toàn bộ thị trường mà tập trung vào một phân đoạn chuyên biệt. Nó là một phần rất nhỏ so với toàn bộ thị trường. Ví dụ mỹ phẩm là một thị trường lớn thì mỹ phẩm từ thảo dược thiên nhiên là một thị trường ngách trong thị trường mỹ phẩm.Với chiến lược thâm nhập thị trường đúng đắn và nguồn lực hướng đến việc nhìn thấu nhu cầu ra mắt và sau bán hàng của khách hàng, sản phẩm sẽ có cơ hội thành công cao hơn và do đó góp phần vào lợi nhuận của doanh nghiệp (Liang và ctg, 2010).
Blocker và ctg (2013) xác định định hướng khách hàng là “khả năng của nhà cung cấp trong việc liên tục thăm dò nhu cầu tiềm ẩn của khách hàng và phát hiện ra nhu cầu trong tương lai”. Định hướng khách hàng được xem như một tập hợp các hành vi, các giá trị mà người bán đang cố gắng giúp đỡ khách hàng, mô tả chính xác thông tin sản phẩm hoặc 9 xác định nhu cầu của khách hàng để giúp họ đưa ra các quyết định mua hàng đúng đắn, đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Điều đó sẽ đề cập đến việc khái niệm hóa là “định hướng khách hàng theo chức năng”, vì nó được giới hạn trong các hành vi mà khách hàng có thể mong đợi từ nhân viên bán hàng trong vai trò đại diện cho một doanh nghiệp (Homburg và ctg, 2011). Homburg và ctg (2011) đề xuất hai khía cạnh khác nhau, định hướng khách hàng theo chức năng là các hành vi liên quan đến nhiệm vụ mà nhân viên bán hàng đảm nhận để giúp khách hàng đưa ra quyết định mua hàng đúng đắn và định hướng mối quan hệ khách hàng là những hành vi của nhân viên bán hàng có thể giúp xây dựng mối quan hệ lâu dài với khách hàng.
Định hướng khách hàng là hiểu biết đầy đủ về người mua và khách hàng mục tiêu để có thể không ngừng tạo ra giá trị vượt trội cho họ. Theo định nghĩa khác, định hướng khách hàng là một tập hợp các niềm tin đặt lợi ích của khách hàng lên hàng đầu. Định hướng khách hàng là một xu hướng giúp khách hàng đánh giá đúng nhu cầu và quyết định mua phù hợp của họ, cung cấp dịch vụ đáp ứng nhu cầu của khách hàng và tránh các chiêu thức bán hàng gây áp lực cao (Lee và Hwan, 2005). Blocker và ctg (2013) đã đề xuất hai khía cạnh để định hướng khách hàng, một là Nhu cầu, hai là Tận hưởng.
Các chiều nhu cầu gắn với niềm tin của nhân viên về khả năng đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Các chiều hướng tận hưởng gắn liền với các giá trị mà nhân viên có thể đạt được khi tương tác và phục vụ khách hàng của họ. Quan điểm này cho phép đặt ra vấn đề là hướng tới khách hàng của nhân viên không chỉ đáp ứng nhu cầu của khách hàng mà còn để cá nhân có được niềm vui được phục vụ khách hàng (Lee và Hwan, 2005). Định nghĩa được đề xuất bởi Hennig-Thurau và Thorsten (2004), định hướng khách hàng của nhân viên là các đặc điểm của một nhân viên dịch vụ mà (1) có khả năng xác định, hiểu và thỏa mãn nhu cầu của khách hàng và (2) hành động vì mục đích làm hài lòng khách hàng, xây dựng mối quan hệ lâu dài.
Theo tác giả này, khi phân tích thuật ngữ này, chúng ta 10 tìm thấy bốn thành phần thiết yếu: khả năng kỹ thuật, khả năng xã hội, động lực và quyền ra quyết định (Hennig-Thurau và Thorsten, 2004). Định hướng khách hàng đã được nhiều tác giả nghiên cứu. Tuy nhiên tác giả nhận thấy thang đo của Singh và Koshy (2012) là rõ nghĩa và đầy đủ về bản chất của việc định hướng khách hàng. Đó là mức độ mà tổ chức cam kết nỗ lực để đáp ứng nhu cầu và mong đợi của khách hàng về chất lượng dịch vụ được cung cấp, tập trung vào khách hàng bao gồm việc thu thập thông tin từ khách hàng để hiểu đầy đủ nhu cầu của họ và cuối cùng thỏa mãn họ (Singh và Koshy, 2012).
Nghiên cứu của (Singh và Koshy, 2012) đã đo lường định hướng của khách hàng thông qua các khía cạnh sau: phổ biến thông tin cho khách hàng, xác định nhu cầu của khách hàng, đáp ứng nhu cầu của khách hàng, mang lại giá trị cho khách hàng, giữ cho khách hàng hài lòng, phát triển và duy trì các mối quan hệ lâu dài cùng có lợi. Thang đo trong nghiên cứu của Singh và Koshy (2012) trước đó đã được nhiều nhà nghiên cứu phát triển (Saxe và Weitz, 1982; Susskind, Kacmar và Borchgrevink, 2003; Dean, 2004; Jayawardhena và Farrell, 2011) và sau đó là Nazanin (2014).2 Chất lượng dịch vụ Có nhiều khái niệm khác nhau được sử dụng để hiểu và định nghĩa từ “Chất lượng”. Hơn nữa, định nghĩa chất lượng có thể được thay đổi tùy theo quan điểm và tiêu chí của mọi khách hàng mà họ cảm nhận. “Chất lượng” tồn tại trong nhiều bộ phận hoạt động của công ty và lĩnh vực kinh doanh mà công ty đang làm việc.
Bên cạnh những điều này, cơ sở “chất lượng” sẽ khác nhau giữa các công ty sản phẩm và dịch vụ. Ví dụ, đề cập đến chất lượng của sản phẩm, đối với các nhà sản xuất, chất lượng sẽ phụ thuộc vào số lượng và chất lượng của các sản phẩm hữu hình được sản xuất từ các công ty, trong khi đối với các công ty dịch vụ, sản phẩm của họ là dịch vụ cũng vô hình và không thể đếm được. Vì vậy, “điều quan trọng là phải hiểu các khía cạnh khác nhau mà từ đó chất lượng được nhìn nhận để đánh giá đầy đủ vai trò của nó trong nhiều bộ phận của tổ chức kinh doanh” (Evans và cộng sự, 2002). 11 Chất lượng dịch vụ là trọng tâm chính của nhiều nghiên cứu trong lĩnh vực tiếp thị dịch vụ (Karatepe, 2011); tuy nhiên, không có định nghĩa nào được thống nhất rộng rãi về chất lượng dịch vụ (Legcevic, 2008), mặc dù hầu hết chúng đều gần nghĩa với nhau.
Trước khi trình bày các định nghĩa khác nhau về chất lượng dịch vụ, thuật ngữ “chất lượng” cần được thảo luận. Chất lượng thường được định nghĩa là ấn tượng chung của khách hàng về sự kém hơn hoặc vượt trội tương đối của tổ chức và các dịch vụ của tổ chức, trong khi chất lượng dịch vụ được coi là “chất lượng cảm nhận” của dịch vụ (Lee và Hwan, 2005) và là một “cấu trúc phức tạp” (Karatepe, 2011). Nó khác biệt với “chất lượng khách quan hoặc thực tế” vì nó dựa trên đánh giá của người tiêu dùng (Lee và Hwan, 2005). Parasuraman và ctg (1985) đưa ra định nghĩa về chất lượng dịch vụ là “thước đo mức độ dịch vụ được cung cấp phù hợp với mong đợi của khách hàng.
Cung cấp dịch vụ chất lượng có nghĩa là phù hợp với mong đợi của khách hàng trên cơ sở nhất quán”. Đầu tiên, họ xác định mười khía cạnh khác nhau, nhưng thông qua nghiên cứu khám phá vào năm 1988, Parasuranam và cộng sự đã hợp nhất chúng thành năm khía cạnh chính mà khách hàng sử dụng để đánh giá chất lượng dịch vụ. Các khía cạnh này là độ tin cậy, khả năng đáp ứng, đảm bảo, sự đồng cảm và mối quan hệ hữu hình (Awoke, 2010). Tuy nhiên, theo Fogli (2006) lại cho rằng chất lượng dịch vụ là “một đánh giá hoặc thái độ toàn phần liên quan đến một dịch vụ cụ thể” và nói thêm rằng chất lượng dịch vụ là “một đánh giá bằng nhận thức”.
Mặt khác, trong nghiên cứu của Al-Tamimi và ctg (2009) xác định chất lượng dịch vụ là “sự đáp ứng mong đợi của khách hàng”. Điều này rất giống với những gì Legcevic (2008) đã đề xuất, tuyên bố rằng để có hiệu quả trong việc cung cấp chất lượng tốt, các công ty phải cung cấp các dịch vụ đáp ứng tối đa những gì khách hàng yêu cầu chứ không phải là những gì nhà cung cấp dịch vụ đưa ra.