CHƯƠNG 1: Tóm lại, trong chương L, luận văn đã tổng hợp khát những lý thuyết cơ bản về lãi suất cho vay. Trong đó, luận văn đã dé cập đến các định nghĩa về lãi suất, xác định các nhân tổ ảnh hưởng đến lãi suất cho vay; luận văn để cập đến tác động, vai trò của lãi suất đối với nền kính tế, để cập đến cách thức quản trị lãi suất và đặc biệt nhắn mạnh đến những phương pháp xác định lãi suất cho vay của NHTM, Tigoài ra luận văn cũng nêu lên được các chính sách lãi suất tại các nước Chau á và từ đó rúi ra những kinh nghiệm cho Việt ram trong việc ap dung các chỉnh sách lãi suất, 24 CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC ĐỊNH GIA TIEN VAY TẠI CÁC NGÂN HANG THUONG MAI VIET NAM VA TAI CHI NHANH NGAN HANG BAU TU&PHAT TRIEN GIA LAI 2. VAN DE XAC DINH LAI SUAT CHO VAY TAI CAC NGAN HANG THUONG MAI VIET NAM: 2. Giat doan tir nim 1988 dén thang 6/1992: NHNN quy định cụ thể các mức lãi suất tiên gởi và lãi suất cho vay để các NHTM thực hiện.
Trong giai đoạn này, việc điều hành chính sách tiền tệ của NHNN là nhăm mục tiêu đây lài lạm phát nên lãi suất tiền gởi tiết kiệm danh nghĩa được qui định tương đối cao nhằm thu hỗi bớt tiên trong lưu thông, Lãi suất trong thời kỳ này là lãi suất thực âm, với đặc điểm: lãi suất tiễn gửi < lạm phát và lãi suất cho vay < lãi suất huy động. Nền kinh tế bất đâu chuyển đổi sang cơ chế kinh tế thị trường, tuy nhiễn lãi suất cho vay vẫn côn phân biệt rõ rằng giữa các thành phân kính tế, 23 Bảng 2.1: Lãi suất ngân hàng theo quyết định 202 tháng 10/1991 của NHNN CHI TIEU GIA TRI (%/ THANG) Lãi suất tiên gửi Không kỳ hạn - 1,00 Ky han 3 thang 2,10 Lãi suất tiết kiệm | Không kỳ hạn 2,10 | Kỳ hạn 5 tháng 3,50 Lãi suất cho vay Kinh tÊ quốc doanh 2, 10-2,40 Kinh tế tư nhân 2.70-3,70 Hệ kinh doanh 4,00-5.2, Giai đoạn từ tháng 6/1992 đến tháng 7/2000: Khi lạm phát đã được kiểm chế, đây Idi va kiểm soát tương đối chặt chế, ngần hàng bắt đầu có điều kiện thực hiện CSLŠ thực đương, tức là lạm phất < lãi suất huy động < lãi suất cho vay. Từ tháng 10/1992, NHNN bắt đầu từng bước thực hiện lãi suất thực đương, tuy nhiên NHNN vẫn quy định các mức lãi suất tiễn gửi và cho vay cụ thể. Lãi suất giữa các thành phần kinh tế vẫn có sự phân biệt: lãi suất cho vay đối với DN quốc doanh thấp hơn DN ngoài quốc doanh, lãi suất cho vay ngắn hạn cao hơn lãi suất cho vay trung dài hạn.
Từ tháng 9/1993, NHNN cho phép thêm các TCTD được cho vay theo lãi suất thỏa thuận vượt mức lãi suất cho vay cụ thể. Theo quyết định 184/QĐ- NHI ngày 28/09/1993 thì lãi suất cho vay đổi với DNRN là 1,892/“háng, lãi 26 suất cho vay thành phan kinh té ngoai quée doanh 14 2,1%e/thang. Tuy nhién, nêu vốn huy động tiết kiệm và tiễn gửi theo các mức lãi suất quy định mã không đũ đề cho vay thì các TCTD được phép phái hành kỳ phiêu với lãi suất cao hơn lãi suất tiết kiệm cùng kỳ hạn tôi đa 0,2%qhbáng và cho vay với lãi suất cao hơn mức 2,194/tháng trên cơ sở thỏa thuận với khách hàng. Các NHTMI đã phái huy tích cực yếu tổ này lâm cho mức chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất huy động khá cao, phê biên từ 0,7-1,0%/thang, cho nén hau hết các NHTMI đều đạt lợi nhuận cao, trong khi các DN lại gặp khó khăn về tài chính vì gánh nặng trả lãi lớn.
Từ thực trạng nảy, Quốc hội khỏa 1X, kỳ hop tháng 8/1995 đã thông qua nghị quyết bỏ thuế doanh thu trong hoạt động tin dụng ngân hàng, đồng thời yêu cầu các NHTM phải tiết giảm chỉ phí để giảm lãi suất cho vay, không chế chênh lệch giữa lãi suất cho vay bình quân và lãi suất huy động bình quân tôi đa là D,359%/háng, NHNN chuyén sang ap dung CSLS trần. Lãi suất cho vay được quy định nhiều mức trần khác nhau xuất phải từ yêu cầu thực tiễn: có nhiều TCTD hoạt động trên các địa bản khác nhau, cung cầu vẫn khác nhau, quy mô khác nhau và do đó chi phí hoạt động khác nhau. Thời gian đầu có 4 mức trên như sau: ~ Trần lãi suất cho vay ngần bạn (áp dụng cho khu vực thành thị). ~ — Trần lãi suất cho vay trung đài bạn (cao hơn lãi suất cho vay ngắn hạn).
~ Trin lãi suất áp dụng cho các TCTD cho vay trên địa bàn nông thôn (cao hơn cho vay ngân hạn vả trung dai hạn) ~ — Trấn lãi suất cho vay của Quỹ tin dụng nhân đân cơ sở đôi với thành viên (cao hơn 3 trần lãi suất trên). Cơ chế lãi suất trần là một bước tự do hóa lãi suất, lãm cho lãi suất gãn liền với tía hiệu thị trường hơn. Tuy nhiên, việc quí định không chế mức chênh lệch 0,35%o“tháng giữa mức lãi suất cho vay bình quân va mirc lãi suấi +? huy động bình quân lâ chưa hợp lý vì né lâm giảm sút khả năng cạnh tranh cũng như động lực phát triển của các NHTM. Ouyét dinh 39/1998/OB-NHNNI ngay 21/01/1998 của NHNN đã xóa bỏ sự cách biết về lãi suất cho vay giữa thành thị và nông thôn, rút từ 4 trần lãi suất xung còn 3 trân lãi suâi, bó không chè raức chếnh lậch G,35%Ahang.
C6 thể nói việc bỏ mức không chế chênh lệch 03592 thẳng là một bước cải tiên đáng kẻ.2: Các lần điều chính lãi suất của NHNN trong năm 1999 Các loại trần lãi suất Thời điểm (26/tháng) 01.9 9 Cho vay ngắn hạn vùng nội thi LI0 - 1,15 105) 093 0,85 Cho vay trung dai han E15 1,15 1,05 0,95 0,85 Cho vay ngắn hạn vùng nông 1,25) 1,15} lIã 105] 180 thôn Cho vay Quy TNND va HTX 1,40 1,50 1,50 1,50 1,40 Nguồn: NHNN Mhư vậy trong lần điểu chỉnh đầu năm 1999 NHNN lại đưa ra tới 4 trần lãi suất, cao nhất là 1,59%“2háng g và thấp p nhất là 1,1%/thang,g nhimgẸ lan diéu chính sau đó theo hướng bạ thấp dẫn trần lãi suất. Lần cuỗi cùng vào tháng 10/1999, NHNN đưa ra 3 trần lãi suất và được áp dụng cho đến giữa năm 2000, 28 2. Giai doan tir thang 7/2000 dén thang 5/2002. Thai ky tr nam 2000 trở đi là thời kỷ đổi mới thực sự về lãi suất, CSLS đã phù hợp với thực tế thị trường.
Cụ thê ngày 02/08/2000 NHNN ban hành 4 how Ầ» Saeko wt quyết định thay đôi cơ chế điều hành lãi suất: - Đấi với lãi suất cho vay đồng Việt Nam: NHNN bỏ quy định lài suất trần cho vay, chuyến sang xác định và công bố lãi suấi cơ bản cộng % biên độ đựa trên việc tham khảo lãi suất cho vay ngắn hạn thông thường của các NHTM ap dung cho khách hang tốt nhất (có uy tín trong việc sử dụng vốn vay, trả nợ vay đây đủ, đúng hạn, rủi ro tin dụng thấp), Lãi suất cho vay và huy động vên của các TCTD gắn với lãi suất cơ bản. Lãi suất cho Yay cao nhất bằng lãi suất cơ bản + biên độ. NHNN công bố lãi suất cơ bán và biên độ hàng tháng, trong trường hợp cần thiết NHNN sẽ điều chính kịp thời, - Đôi với lãi suất ngoại tế: bỏ quy định lãi suất trần cho vay, áp dụng theo lãi suất trên TTTT liên ngân hàng Singapore (Sibor). Lãi suất cho vay ngắn hạn của các TCTD cao nhất bằng lãi suất Sibor 3 tháng + biến độ 1,00/năm; lãi suất cho vay trung đài hạn cao nhất bằng lãi suất Sibor 6 tháng cộng biên độ 2,509/năm.
Riêng đối với cho vay bằng ngoại tệ khác USD, các NHTM ty xem xét quyết định lãi suất tiền gửi, lãi suất cho vay dựa trên lãi suất trên thị trường quốc tế và cung cầu vẫn tín dụng của từng loại ngoại tệ nay. Lãi suất cho vay đã được điều chỉnh theo đúng bản chất của nó là lãi suất cho vay ngắn hạn thấp hơn lãi suất cho vay trung đài hạn do chỉ phí sử dụng vốn vay trung đài hạn cao hơn cũng như mức độ rủi ro của khoản vay trung dai han thông thường cao hơn khoân vay ngắn hạn. Các NHTM cung cấp thông tin cho NHNN tham khảo gdm: NH Ngoai thương Việt Nam, NH Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam, NH Công thương Việt Nam, NH Đâu tư và Phát triển Viet Nam, NH TMCP Quân 29 Doi, NH TMCP A Chau, Chi nhanh NH ANZ, Chi nhanh NH HSBC, NH TMCP các doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Có thể nói, quyết định chuyển sang CSLS cơ bản là sự đổi mới rất gan với tự dơ hóa lãi suất.
Kế từ 01/06/2001, NHNN đã tiếp tục cho áp dụng cơ chế lãi suất thỏa thuận đổi với lãi suất cho vay băng USD, hay nói cách khác lãi suất cho vay bằng ngoại tệ đã được tự do hóa hoàn toàn, Bảng 2.3: Điều chỉnh lãi suất cơ bản VNĐ của NHNN từ 2000 đến 2002 SỐ VĂN BẢN NGÀY HIỂU LÃI SUÁT CƠ BẢN LỰC (%/THANG) 241/2000/QĐ-NHNN 02.2002 0,600 N suồn: NHNN co " 3. Giai đoạn từ tháng 5/2002 đến nay. + + f ` nd & Ngày 30/05/2002, NHNN ra quyết định số 546/2002/QÐ-NHNN theo đó: "TCTD xác định lãi suất cho vay bằng đẳng Việt Nam trên cơ sở cụng cầu vận thị trường và mức độ tín nhiệm khách bảng vay là pháp nhân và cả nhân Việt Nam, pháp nhân và cá nhân nước ngoài hoạt động tại Việt Nam”. Như vậy lãi suất cho vay cả ngoại tệ lẫn đồng Việt Mam đã được tự do hóa.
Có thể nói đây là một quyết định đúng đẫn và hợp thời, nhất là trong bỗi cảnh hội nhận kinh tế quốc tế ngành ngân hàng đang đến gắn, bảo đảm lãi suất cho vay do cung cầu vốn trên thị trường quyết định, các NHTM thực sự được 3ữ “cới trới" và hoàn toàn chủ động đưa ra mức lãi suất cho vay phù hợp với đặc thủ hoạt động của chính ngân hàng mình, NHNN tác động vào lãi suất cho vay tại NHTM bằng cách chuyển dần sang các công cụ gián tiếp của chính sách tiền tệ, Lãi suất được điều chỉnh linh hoạt theo cùng cầu vốn trên thị trường, làm cho các nguồn vốn được tự do luân chuyển từ nơi thừa sang nơi thiếu, từ nơi có lãi suất thấp sang nơi có lãi suất cao, Các TCTD buộc phải nâng cao chất lượng quản trị và phục vụ khách hàng, từ đó hình thành lãi suất bình quân hợp lý theo tín hiệu 1Ì tường. Với cơ chế này, NHNN vẫn xác định và công bề lãi suất cơ bản song nó chỉ có giá trị tham khảo khi ân định lãi suất cho vay của các TCTD.