MỞ ĐẦU Việt Nam là một nước đang trên đà hội nhập và phát triển. Nền kinh tế Việt Nam ngày càng đa dạng và phong phú. Tuy nhiên, sản xuất nông nghiệp vẫn là ngành kinh tế chính đem lại việc làm và thu nhập cho đại đa số người dân. Cùng với sự phát triển đi lên của ngành trồng trọt, thì ngành chăn nuôi cũng được coi là một thế mạnh và dường như không thể thiếu.
Ta có thể kể đến hàng loạt những lợi ích mà ngành chăn nuôi mang lại, ví dụ như: cung cấp nguồn thực phẩm đa dạng và phong phú (thịt, trứng, sữa,.), cung cấp sức kéo, cung cấp phân bón cho ngành trồng trọt. Biết được tầm quan trọng, Nhà nước ta đã đầu tư cho ngành chăn nuôi trên rất nhiều khía cạnh, có thể kể đến như hỗ trợ đầu tư vốn cho người dân mở trang trại, cung cấp vắc xin miễn phí cho tất cả các tỉnh thành 2 lần/năm trong 2 đợt tiêm phòng chung của cả nước. Không những thế, Nhà nước ta còn rất chú trọng đầu tư đạo tào nguồn nhân lực có kiến thức chuyên môn về kỹ thuật chăm sóc và điều trị bệnh cho đàn vật nuôi. Với vai trò là một bác sỹ thú y trong tương lai, em tự biết được rằng muốn trở thành một bác sỹ thú y có tay nghề cao thì cần phải cọ xát thực tế thật nhiều, cần phải tiếp xúc với nhiều ca bệnh, trực tiếp điều trị thì mới có thể nâng cao tay nghề của mình.
Cùng với mục tiêu như trên, được sự cho phép của Nhà trường, của Khoa, của các cấp lãnh đạo huyện Yên Mô tỉnh Ninh Bình, em tiến hành thực hiện đề tài: “Điều tra tình hình nhiễm bệnh tụ huyết trùng trên lợn nuôi tại một số xã thuộc huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình và biện pháp phòng trị.” Nhận được sự hướng dẫn quan tâm chỉ bảo của thầy giáo TS. Trương Hữu Dũng, cùng sự cố gắng của bản thân, em đã hoàn thành khóa luận. Tuy nhiên, do lần đầu tiến hành nghiên cứu khoa học và thời gian thực tập có hạn nên bài khóa luận của em không tránh khỏi những thiếu sót. Em kính mong nhận được sự quan tâm giúp đỡ góp ý của quý thầy cô để bài khóa luận của em được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn! 2 Phần 1 CÔNG TÁC PHỤC VỤ SẢN XUẤT 1. Điều tra cơ bản 1. Điều tra tự nhiên 1.1 Vị trí địa lý Yên Mô nằm ở phía Tây Nam tỉnh Ninh Bình, trải rộng từ 20003’45” đến 20011’25” vĩ độ Bắc, từ 105055’ đến 106003’5” kinh độ Đông. Phía Bắc giáp huyện Hoa Lư và huyện Yên Khánh; Phía Nam giáp huyện Nga Sơn và huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá; Phía Tây giáp Thị xã Tam Điệp; Phía Đông giáp huyện Kim Sơn.
Huyện được bao bọc bởi dãy núi đá vôi thuộc phòng tuyến Tam Điệp hùng vĩ. Vị trí của Yên Mô rất thuận tiện cho việc giao lưu buôn bán, đi lại với các huyện lân cận và ngoại tỉnh. Địa hình đất đai Diện tích tự nhiên: 144,08 km2. Là huyện có địa hình đa dạng: có đồi núi đá vôi, đồng bằng và đồng chiêm trũng, sông hồ đan xen.
Phía Bắc và Tây Bắc là vùng đất cổ gồm các xã phía Tây sông Trinh Nữ. Địa hình cao về phía Tây Bắc và thấp dần về phía Đông Nam, vùng nằm sát dãy núi Tam Điệp và vùng sâu trũng nhất chạy dài từ Tây Bắc xuống cuối huyện có cốt đất thấp hơn mặt nước biển từ 0,1 – 0,4 m. Vùng phía Đông sông Trinh Nữ là vùng đồng bằng được bồi tụ bằng phù sa màu mỡ chạy sát huyện Kim Sơn và huyện Yên Khánh. Thời tiết, khí hậu * Khí hậu Ngoài đặc điểm chung nhiệt đới gió mùa của đồng bằng Bắc Bộ thì khí hậu Yên Mô có đặc trưng riêng.
Do địa hình đồi núi phía Tây ngăn cách với 3 tỉnh Thanh Hoá tạo nên một tiểu vùng khí hậu khác với các vùng khác ở đồng bằng Bắc Bộ và Ninh Bình. Lượng mưa trung bình hàng năm từ 1. Từ tháng 11 đến tháng 4 thường bị khô hanh, sương muối. Nhiệt độ trung bình từ tháng 4 đến tháng 10 là 28 - 30oC nhưng từ tháng 12 đến tháng 1 nhiệt độ giảm xuống còn 13oC kèm theo sương mù, sương muối.
* Thủy văn Trước kia, Yên Mô chỉ có 2 hệ thống sông lớn là sông Trinh Nữ bắt nguồn từ sông Vân đi qua Hoa Lư đổ về qua hầu hết các xã trong huyện đổ ra sông Điền Hộ (Nga Sơn) và sông Vạc qua cầu Yên đi xuống Phương Nại qua Yên Từ ra sông Càn đổ xuống Kim Sơn. Đến nay, có thêm sông Cầu Đằng, sông Bút và nhiều sông ngòi mới đã tạo ra một mạng lưới sông ngòi dày đặc vừa có giá trị về giao thông vận tải, vừa đảm bảo yêu cầu tưới tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp. Để ngăn nước từ dãy núi Tam Điệp đổ về gây nên ngập úng ở hầu hết các xã phía Tây sông Trinh Nữ, từ năm 1993, Yên Mô đã nỗ lực đào đắp, xây dựng kênh ven núi dài hơn 15 km, tạo nên 2 hồ nước rộng với hơn 500 ha. Hiện nay, cốt đê bảo đảm cốt 3,5 - 4 m nước và đã trở thành khu du lịch sinh thái.
Riêng vùng hồ Yên Thắng, Yên Thành đã đổ bê tông hoá chân và mái đập. Các hồ Yên Đồng, Yên Thái đang được xây dựng. Giao thông vận tải Huyện Yên Mô nằm trên trục đường giao thông chiến lược cả đường thuỷ và đường bộ của quốc gia: Quốc lộ 1 ở phía Bắc, đường 480 nối từ quốc lộ 1 xuống Nga Sơn, Kim Sơn. Đến nay, mạng lưới giao thông đường bộ còn được mở rộng, khép kín từ Bắc xuống Nam, từ Đông sang Tây đều được dải nhựa hoặc bê tông hoá.
Tuyến sông Trinh Nữ đi sông Vạc, sông Đáy qua Thanh Hoá là con sông thuỷ nội địa quan trọng nhất đi giữa huyện và là tuyến giao thông vận tải chiến lược của quốc gia. Điện nước Đến nay, Yên Mô đã có hệ thống điện phục vụ sản xuất nông nghiệp khá hoàn chỉnh với hơn 30 trạm bơm điện. Trong số này có 8 trạm bơm lớn, đáng kể là trạm bơm Ba Bầu, Yên Thái, Yên Hoà. 100% số xã có điện phục vụ dân sinh.
Điều kiện kinh tế - xã hội của huyện 1. Tình hình dân cư Hiện nay, huyện Yên Mô có 17 xã và 1 thị trấn với dân số 119.087 người; mật độ dân số 824 người/km2 (con số tính đến cuối tháng 06/2003). Dân số toàn bộ là người dân tộc Kinh sinh sống gắn bó với nhau.1: Danh sách các xã của huyện Yên Mô (06/2013) TT Đơn vị (xã) Diện tích (km2) Dân số (người) 1 Thị trấn Yên Thịnh 1,85 3986 2 Khánh Dương 5,50 6130 3 Khánh Thịnh 5,83 5367 4 Yên Phong 7,56 8848 5 Yên Phú 3,98 3700 6 Yên Mỹ 4,74 5447 7 Yên Hưng 3,44 3656 8 Yên Nhân 11,08 11454 9 Yên Từ 4,48 7516 10 Yên Mạc 7,68 7647 11 Yên Lâm 7,84 7795 12 Yên Thắng 11,56 8788 13 Khánh Thượng 8,77 7240 14 Mai Sơn 4,53 3728 15 Yên Hoà 7,62 7059 16 Yên Thành 8,74 6049 17 Yên Đồng 28,90 8765 18 Yên Thái 9,63 5765 Tổng 144,08 119.087 5 Vùng đất và con người Yên Mô có lịch sử lâu đời với bề dày truyền thống, văn hóa và cách mạng. Tình hình phát triển kinh tế của địa phương Kinh tế huyện Yên Mô liên tục tăng trưởng, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực.
Nổi bật là: sản xuất nông nghiệp phát triển toàn diện theo hướng sản xuất hàng hóa, sản xuất lương thực đạt được đỉnh cao mới về năng xuất, sản lượng. Các cấp, các ngành từ huyện đến cơ sở đặc biệt quan tâm chỉ đạo chuyển dịch cơ cấu mùa vụ, cơ cấu giống cây trồng, vật nuôi, ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất do đó năng suất lúa không ngừng tăng lên. Toàn huyện đã cơ bản hoàn thành công tác dồn điền đổi thửa gắn với chỉnh trang đồng ruộng, tạo điều kiện tiếp thu tiến bộ khoa học vào sản xuất, phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa. Huyện đã ban hành nhiều chính sách khuyến khích, hỗ trợ mở rộng diện tích các cây trồng mới có giá trị kinh tế cao vào sản xuất như: lạc đông, bí xanh, ngô giống F1, ngô ngọt, dưa bao tử.
góp phần tăng giá trị thu hoạch trên một đơn vị diện tích canh tác lên 96,3 triệu đồng/ha. Ngành chăn nuôi được quan tâm phát triển theo hướng công nghiệp, trang trại và gia trại. Số lượng, chất lượng đàn gia súc, gia cầm không ngừng tăng lên. Năm 2013, toàn huyện đã có 23 trang trại và 206 gia trại chăn nuôi gia súc, gia cầm.
Công tác chuyển đổi ruộng trũng cấy lúa kém hiệu quả sang nuôi trồng thủy sản kết hợp cấy lúa và chăn nuôi được tích cực triển khai, thực hiện, đã chuyển đổi được 327 ha ruộng trũng sang canh tác cá, lúa kết hợp chăn nuôi trên bờ, giá trị thu nhập cao hơn cấy lúa từ 2,5 – 3 lần. Kế hoạch đến năm 2015 toàn huyện sẽ chuyển đổi trên 500 ha ruộng trũng sang canh tác cá – lúa, kết hợp chăn nuôi. Sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ phát triển mạnh mẽ cả về quy mô và giá trị. Đến năm 2013, toàn huyện đã có 124 doanh nghiệp đăng 6 ký hoạt động với giá trị sản xuất đạt 176,3 tỷ đồng, tạo việc làm thường xuyên cho 18.000 người và 7.800 lao động thời vụ.
Các ngành nghề truyền thống được duy trì, các ngành nghề mới như thảm cói, đan bèo, tết bện lúa non xuất khẩu, may mặc, sản xuất nấm xuất khẩu. được quan tâm phát triển. Đến nay toàn huyện đã có 11 làng nghề được Ủy ban nhân dân tỉnh công nhận là làng nghề cấp tỉnh, tạo việc làm thường xuyên cho 5. Hiện nay huyện đang cùng nhà đầu tư chuẩn bị các thủ tục xúc tiến đầu tư xây dựng Nhà máy sản xuất giầy da xuất khẩu Adora của Đài Loan tại xã Yên Lâm, tạo việc làm cho trên 10.
Giá trị dịch vụ của huyện trong 20 năm qua có sự tăng trưởng mạnh mẽ, đến năm 2013 đã đạt 1. Hoạt động du lịch từng bước được xúc tiến. Năm 2008, khu trung tâm liên hợp du lịch thể thao sân golf 54 lỗ hồ Yên Thắng đã được triển khai xây dựng và đưa vào khai thác, tạo việc làm cho lao động ở địa phương. Khu du lịch sinh thái hồ Đồng Thái đã được Ủy ban nhân dân tỉnh chấp thuận đầu tư, hứa hẹn là điểm du lịch hấp dẫn trong tương lai.