Khóa luận điều tra hiện trạng canh tác mãng cầu ta - ĐH Nông Lâm 2023

Khóa luận nghiên cứu hiện trạng canh tác mãng cầu ta tại Tây Ninh, phân tích kỹ thuật trồng, chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh và năng suất cây ăn quả.

Chuyên ngành

Nông Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2023

83
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Cách điều tra hiện trạng canh tác mãng cầu ta tại Tây Ninh

Việc điều tra canh tác mãng cầu ta tại Tây Ninh là bước quan trọng để hiểu rõ thực trạng sản xuất, từ đó đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế và bền vững cho nông dân. Theo nghiên cứu của Bùi Nguyễn Song (2023), điều tra được thực hiện từ tháng 8 đến tháng 12 năm 2022 tại hai xã Thạnh Tân và Tân Bình thuộc thành phố Tây Ninh, nơi tập trung diện tích mãng cầu ta Tây Ninh lớn nhất tỉnh. Phương pháp chính là phỏng vấn trực tiếp 70 hộ nông dân kết hợp quan sát thực địa. Kết quả cho thấy đa số hộ có kinh nghiệm từ 10–17 năm, trồng trên đất xám với quy mô nhỏ và trung bình (<8.000 m²). Nông nghiệp mãng cầu ta ở đây chủ yếu dựa vào kinh nghiệm truyền thống, chưa áp dụng đồng bộ các quy trình kỹ thuật hiện đại. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết trong việc cập nhật kiến thức và hỗ trợ kỹ thuật nhằm tối ưu năng suất và chất lượng đặc sản mãng cầu Bà Đen – thương hiệu đã được bảo hộ chỉ dẫn địa lý.

1.1. Phương pháp thu thập dữ liệu hiện trạng vườn mãng cầu ta

Dữ liệu được thu thập qua phiếu điều tra chuẩn hóa và quan sát trực tiếp tại 70 hộ trồng mãng cầu ta. Tiêu chí chọn mẫu: diện tích ≥3.000 m² và kinh nghiệm ≥5 năm. Số liệu sơ cấp bao gồm thông tin về giống, kỹ thuật chăm sóc, sâu bệnh, thu hoạch. Số liệu thứ cấp lấy từ Chi cục Trồng trọt & BVTV Tây Ninh và Cục Thống kê tỉnh. Phương pháp xử lý số liệu sử dụng Excel để phân tích tần suất và xu hướng.

1.2. Đặc điểm vùng trồng mãng cầu ta tại thành phố Tây Ninh

Vùng trồng mãng cầu ta tập trung ở xã Thạnh Tân (796 ha) và Tân Bình (670 ha), chiếm hơn 70% diện tích toàn thành phố. Địa hình bằng phẳng, độ cao 20–40 m, đất chủ yếu là đất xám phù hợp với sinh trưởng cây. Khí hậu nhiệt đới gió mùa với hai mùa rõ rệt tạo điều kiện thuận lợi cho ra hoa rải vụ. Nguồn nước tưới chủ yếu từ giếng khoan, đảm bảo chủ động trong mùa khô.

II. Những thách thức chính trong canh tác mãng cầu ta tại Tây Ninh

Mặc dù mãng cầu ta Tây Ninh nổi tiếng với chất lượng cao nhờ điều kiện thổ nhưỡng vùng núi Bà Đen, người dân vẫn đối mặt với nhiều thách thức trong canh tác mãng cầu ta. Một trong những vấn đề nổi bật là kỹ thuật canh tác còn mang tính cảm tính, thiếu đồng bộ và chưa theo tiêu chuẩn VietGAP. Việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật tuy tuân thủ danh mục cho phép nhưng còn lạm dụng do thiếu hướng dẫn chuyên môn. Ngoài ra, biến đổi khí hậu và mãng cầu ta cũng là mối lo ngày càng tăng khi mùa mưa kéo dài gây úng ngập, ảnh hưởng đến bộ rễ. Sâu bệnh như rệp sáp, bọ trĩ, bọ vòi voi, thán thư, và thối rễ xuất hiện thường xuyên, làm giảm năng suất và phẩm chất trái. Hệ thống tiêu thụ chủ yếu qua thương lái khiến giá cả bấp bênh, đặc biệt trong giai đoạn dịch bệnh hoặc mất cân đối cung – cầu.

2.1. Tác động của sâu bệnh mãng cầu ta đến năng suất

Khảo sát ghi nhận 6 loại sâu hại và 4 bệnh chính. Rệp sápbọ trĩ xuất hiện trên >75% vườn, gây hại lá non và trái, kèm theo bệnh muội đen do nấm phát triển trên mật rệp. Bọ vòi voi tấn công hoa, gây hiện tượng “sọc ếch” làm giảm giá trị thương phẩm. Thối rễ do Fusarium solani phổ biến ở vườn thoát nước kém trong mùa mưa. Dù nông dân phun thuốc định kỳ (9–12 lần/vụ), hiệu quả vẫn hạn chế do kháng thuốc và phun không đúng thời điểm.

2.2. Hạn chế trong thị trường tiêu thụ mãng cầu ta

71,43% hộ bán cho thương lái, 17,14% bán trái non, chỉ 11,43% tự kinh doanh. Chuỗi giá trị còn manh mún, thiếu liên kết giữa hiệp hội nông dân trồng mãng cầu và doanh nghiệp. Giá dao động mạnh theo mùa vụ và tình hình dịch bệnh (ví dụ: COVID-19 làm giá giảm 40–60%). Thiếu chiến lược xây dựng thương hiệu bài bản khiến đặc sản mãng cầu Tây Ninh chưa khai thác hết tiềm năng xuất khẩu.

III. Bí quyết kỹ thuật trồng mãng cầu ta hiệu quả tại Tây Ninh

Để nâng cao hiệu quả canh tác mãng cầu ta, nông dân Tây Ninh cần áp dụng đồng bộ các kỹ thuật trồng mãng cầu ta đã được kiểm chứng. Giống chủ lực là mãng cầu dai bông quắn (chiếm 81,16% diện tích), cho trái to, ít hạt, vỏ mỏng. Mật độ phổ biến: 3×3,5 m (952 cây/ha) trên đất xám. Xử lý ra hoa 2 vụ/năm bằng lặt lá kết hợp phân bón lá Arrow 10-60-10. Phân hữu cơ (phân bò, phân gà viên) được dùng 100%, kết hợp phân vô cơ cân đối N-P-K-CaO. Tưới nước bằng hệ thống péc, làm cỏ 4 lần/vụ. Đặc biệt, bao trái sau 90–100 ngày lặt lá giúp giảm sâu bệnh và tăng chất lượng. Các biện pháp này giúp duy trì năng suất mãng cầu ta ổn định 6,5–10 tấn/ha/vụ trong giai đoạn 4–7 năm tuổi.

3.1. Lựa chọn giống mãng cầu ta phù hợp điều kiện Tây Ninh

Giống mãng cầu ta được ưa chuộng nhất là dai bông quắn, nhờ khả năng chống chịu tốt và phẩm chất vượt trội. 62,86% hộ tự nhân giống bằng phương pháp ghép, đảm bảo tính đồng đều. Giống bông thường và Thái Lan chiếm tỷ lệ nhỏ. Việc chọn giống khỏe, sạch bệnh từ nguồn uy tín là yếu tố then chốt để đạt năng suất mãng cầu ta cao và ổn định.

3.2. Quy trình chăm sóc mãng cầu ta theo từng giai đoạn

Chăm sóc mãng cầu ta chia thành ba giai đoạn: (1) Trước xử lý ra hoa: bón phân hữu cơ + vôi + NPK; (2) Nuôi trái: bón phân vô cơ định kỳ 10–15 ngày/lần, kết hợp phun Canxi Bo và phân lá; (3) Trước thu hoạch 15 ngày: ngưng bón. Tỉa cành tạo tán thông thoáng, tỉa trái 3 lần/vụ để giữ 1–2 trái/cành. Hệ thống tưới phun péc hoạt động 1–2 giờ/lần, dùng nước giếng khoan.

IV. Giải pháp phòng trừ sâu bệnh mãng cầu ta bền vững

Phòng trừ sâu bệnh mãng cầu ta cần kết hợp nhiều biện pháp để giảm phụ thuộc vào hóa chất. Nghiên cứu ghi nhận 8 hoạt chất và 12 loại thuốc BVTV đang được sử dụng, chủ yếu thuộc nhóm Abamectin, Emamectin benzoate, Spirotetramat – đều nằm trong danh mục cho phép. Tuy nhiên, để phát triển bền vững, cần chuyển sang quản lý dịch hại tổng hợp (IPM). Biện pháp hiệu quả bao gồm: bao trái bằng túi nilon + xốp, vệ sinh vườn thường xuyên, trồng mật độ hợp lý, bảo vệ thiên địch (ong ký sinh, bọ rùa), và luân phiên thuốc. Đặc biệt, lặt bỏ cánh hoa ở giống bông thường giúp giảm bọ vòi voi. Việc phun thuốc nên dừng hoàn toàn sau khi bao trái để đảm bảo an toàn dư lượng.

4.1. Quản lý rệp sáp và bệnh muội đen trên mãng cầu ta

Rệp sáp là đối tượng gây hại nghiêm trọng, tạo điều kiện cho bệnh muội đen phát triển. Giải pháp: phun nước áp lực cao rửa trôi rệp, bao trái sớm, dọn cỏ quanh gốc, diệt kiến (tác nhân lan truyền rệp). Có thể dùng Abamectin hoặc Spinosad kết hợp chất bám dính. Bảo vệ thiên địch như ong Anagyrus giúp kiểm soát rệp lâu dài.

4.2. Kiểm soát thán thư và thối rễ trong mùa mưa

Bệnh thán thưthối rễ phát sinh mạnh trong mùa mưa. Biện pháp: thiết kế liếp cao, thoát nước tốt; tỉa cành thông thoáng; bón vôi định kỳ; sử dụng Trichoderma và thuốc gốc Mancozeb hoặc Phosphorous acid. Không tưới quá ẩm, tránh đọng nước quanh gốc. Với vườn nhiễm nặng, cần đào bỏ cây bệnh và xử lý đất trước khi trồng lại.

V. Ứng dụng thực tiễn từ kết quả điều tra mãng cầu ta Tây Ninh

Kết quả điều tra canh tác mãng cầu ta cho thấy nhiều bài học thực tiễn. Thứ nhất, năng suất mãng cầu ta đạt cao nhất ở vườn 4–7 năm tuổi (6,5–10 tấn/ha/vụ), sau đó suy giảm – do đó cần tái canh định kỳ. Thứ hai, việc xử lý ra hoa 2 vụ/năm giúp né mùa nghịch và ổn định thu nhập. Thứ ba, phân bón lá Canxi BoArrow 10-60-10 được 82,86% và 47,14% hộ sử dụng, chứng minh hiệu quả trong kích thích ra hoa và chống rụng trái. Cuối cùng, bao trái là biện pháp gần như bắt buộc (100% hộ áp dụng), giúp trái đẹp, ít sâu bệnh, dễ phân loại. Những ứng dụng này cần được phổ biến rộng rãi qua các chính sách hỗ trợ canh tác mãng cầu của địa phương.

5.1. Hiệu quả kinh tế từ mô hình canh tác mãng cầu ta 2 vụ năm

Mô hình 2 vụ/năm (xử lý hoa tháng 3 và tháng 8) giúp nông dân thu hoạch rải vụ, tránh rớt giá. Mỗi vụ kéo dài 120–135 ngày. Vườn 4–7 năm tuổi cho thu nhập ổn định 150–250 triệu đồng/ha/năm. Tuy nhiên, chi phí đầu tư cao (phân bón, thuốc, nhân công tỉa trái) đòi hỏi vốn lưu động tốt và kỹ năng quản lý chặt chẽ.

5.2. Phân loại và tiêu chuẩn trái mãng cầu ta Tây Ninh

Trái được chia 4 loại: Loại 1 (≥250g, đẹp, không sâu), Loại 2 (180g), Loại 3 (140g), Loại 4 (<120g hoặc méo). Đặc sản mãng cầu Bà Đen chủ yếu thuộc loại 1–2, được ưa chuộng trong dịp Tết. Việc phân loại rõ ràng giúp định giá chính xác và xây dựng thương hiệu. Tuy nhiên, cần có tiêu chuẩn chung do hiệp hội nông dân trồng mãng cầu ban hành để đảm bảo tính minh bạch.

VI. Tương lai và đề xuất phát triển mãng cầu ta Tây Ninh bền vững

Tương lai của nông nghiệp mãng cầu ta tại Tây Ninh phụ thuộc vào việc chuyển đổi từ sản xuất nhỏ lẻ sang liên kết chuỗi giá trị. Cần đẩy mạnh sản xuất theo chuẩn VietGAP, hỗ trợ chính sách hỗ trợ canh tác mãng cầu như vốn vay ưu đãi, tập huấn kỹ thuật, và xây dựng thương hiệu quốc gia. Trước mắt, nên thành lập hiệp hội nông dân trồng mãng cầu để thống nhất quy trình, đàm phán giá với doanh nghiệp, và tiếp cận thị trường xuất khẩu. Về lâu dài, cần nghiên cứu giống mới chống chịu biến đổi khí hậu và mãng cầu ta, đồng thời ứng dụng IoT trong tưới tiêu và giám sát sâu bệnh. Phát triển du lịch nông nghiệp quanh vùng trồng mãng cầu ta cũng là hướng đi tiềm năng để gia tăng giá trị sản phẩm.

6.1. Vai trò của chính sách hỗ trợ canh tác mãng cầu trong phát triển

Chính sách hỗ trợ canh tác mãng cầu cần tập trung vào: (1) Hỗ trợ chuyển đổi VietGAP (hỗ trợ 50–70% chi phí chứng nhận); (2) Xây dựng trung tâm phân loại và đóng gói tập trung; (3) Tổ chức hội chợ xúc tiến thương mại; (4) Hỗ trợ nghiên cứu đất và dinh dưỡng để khuyến cáo bón phân chính xác. Các chính sách này sẽ giúp nâng cao năng lực cạnh tranh cho nông dân.

6.2. Định hướng thích ứng biến đổi khí hậu và mãng cầu ta

Biến đổi khí hậu và mãng cầu ta là thách thức dài hạn. Giải pháp: chọn giống chịu hạn, thiết kế hệ thống thoát nước chống úng, phủ mulch giữ ẩm, và sử dụng chế phẩm sinh học tăng sức đề kháng. Đồng thời, cần theo dõi diễn biến thời tiết để điều chỉnh thời vụ xử lý hoa, tránh rủi ro mất mùa do nắng nóng cực đoan hoặc mưa trái mùa.

14/03/2026
Khóa luận tốt nghiệp nông học điều tra hiện trạng canh tác trên cây mãng cầu ta annona squamosa l tại thành phố tây ninh tỉnh tây ninh

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tổng quan về cây mãng cầu ta 1.1 Nguồn gốc và phân bố Cây mang cầu ta tên khoa học là Annano squamosa L. (tên tiếng Anh: sweetsop, sugar apple, anon) thuộc họ Na có nguồn gốc từ vùng xích đạo châu Mỹ. Mang cau ta là một loài cây nhiệt đới đất thấp hoặc cận nhiệt đới, mọc giữa vĩ độ 22,5 ° Bắc và Nam (Pinto, 2005). Từ thế kỷ 16, các cây họ Mãng cầu ta đã được du nhập vào nhiều nước nhiệt đới và đo tính thích nghi rộng được trồng phô biến ở các vùng nhiệt đới va A nhiệt đới.

Tuy nhiên do trái phức hợp, thường to, nhiều nước, khó vận chuyền, nên hiện nay mãng cầu vẫn thuộc loại trái cây chưa khai thác hết tiềm năng (Vũ Công Hậu, 2006). Ở Việt Nam, cây mãng cầu ta được trồng từ Bắc vào Nam, đặc biệt được trồng nhiều nhất ở khu vực Đông Nam Bộ gồm các tỉnh Tây Ninh, Đồng Nai và Ba Rịa Vũng Tàu.2 Phân loại Mang cau ta có 2 nhóm chính: - Mãng cầu dai: Vỏ mỏng dé tách khỏi thịt trái, ít hạt, múi nhiều, thịt trái chắc, ngọt, ngon. Hạt nhỏ và dễ tách khỏi thịt trái. Hiện nay các nhà vườn là trồng mãng cầu dai vì mang cau dai phù hợp nhu cầu thị trường, trái sau khi hái bảo quản được lâu hơn mãng câu bở.

- Mãng cầu bở: Vỏ còn xanh, thịt trái bở không chắc, khó bóc hơn mãng cầu dai, trái thường bị nứt, ăn có vi ngọt (Trần Thế Tục, 2000).3 Đặc điểm thực vật học Đặc tính thực vật: Mang cau ta thuộc nhóm cây ăn trái rụng lá một phần vào mùa đông, thân gỗ cao 3 - 5 m, có nhiều cành. Cành mãng cầu nhỏ, mềm. Lá mỏng hình thuẫn dài hoặc hình trứng, mặt lá màu xanh lục, lá non có lông thưa, lá già nhẫn, lá có mùi thơm khi vò. Hoa mang cau ta màu xanh vàng lot, mọc đơn hoặc mọc thành chùm 2 - 4 hoa trên nách lá hoặc ở đỉnh sinh trưởng.

Từ lúc có nụ đến khi hoa nở 31 - 35 ngày (Trần Thế Tục, 2000). Trái thuộc loại trái kép, kích cỡ 5 - 10 cm đủ loại hình dạng, tròn, thuẫn, bầu dục hay hình nón, hình tim (cuống hơi lõm). Trung bình cây mãng cầu sản xuất khoảng 50 trái/1 vụ. Vỏ trái xù xì (mắt của trái), thịt trái mềm màu trắng sữa.

Hat mang cầu den láng, có tính phòng trừ sâu bọ (Tôn Thất Trình, 2000). Theo Bùi Xuân Khôi (2012) mãng cầu ta có mùa thuận và mùa nghịch, mùa thuận là mùa mãng cầu ra hoa, đậu trái và thu hoạch nằm trọn trong mùa mưa. Do cây mãng cầu rat dé ra hoa, chỉ cần tuốt bỏ lá già tưới nước và bón phân là cây mang cau đã có thé ra hoa. Lợi dụng phương pháp này mà người dân có thê xử lý rải vụ mãng cầu kéo dãn thời vụ thu hoạch, tránh được hiện tượng trùng mùa với một số 1 số loại trái cây khác.4 Điều kiện sinh thái Ở xứ nóng, mang cầu ta ít được trồng ở độ cao trên 500 m.

Cây trưởng thành có thé chịu lạnh 2 - 3°C nhưng dưới 0°C cây non hoặc chết. Mang cầu lại rung lá khi gặp gió lạnh. Cây mãng cầu cũng bị rụng lá trong những đợt hạn hán kéo đài, cây không chết, mà trái không lớn. Cây ưa mọc ở giữa trời nang hoặc ít che nang (Tôn That Trình, 2000).1 Nhiệt độ Nhiệt độ thích hợp cho sự sinh trưởng của mãng cầu từ 25°C đến 30°C.

Trong quá trình chuyên từ sinh đưỡng sang sinh sản, cây mang cau cần nhiệt độ thấp từ 25°C trở xuống, dưới 20°C cây ngừng phát triển và tích lũy carbohydrate dé ra hoa. Nếu nhiệt độ nền cao, cây có thể xanh tốt nhưng ra hoa và đậu trái ít hơn. Bên cạnh đó, các rối loạn sinh lý như nứt da thường xảy ra nhiều hơn trong điều kiện nhiệt độ ban đêm mát mẻ, đặc biệt khi nhiệt độ môi trường xuống dưới khoảng 13°C (Jules Janick, 2008).2 Ánh sáng Ánh sáng ảnh hưởng đến trái, trên cây, trái ngoài sáng có hình trái đẹp, hàm lượng đường cao hơn trái nằm ở tán hoặc nơi nhiều lá bị thiếu ánh sáng.3 Nước Mãng cầu ta là loại cây không chỉ cần nhiệt độ cao mà còn cần độ âm cao. Độ am không khí quá thấp hoặc quá cao đều có thé ảnh hưởng đến quá trình thoát hơi nước của cây, ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của trái, đặc biệt là chất lượng của trái, làm cho vỏ dày hơn, không thơm và mau hỏng.

Cây mãng cầu cần nhiều nước, nhất là thời kỳ ra hoa, đậu trái nhưng cũng rất so úng. Độ 4m tối ưu của đất là 70 - 80%. Lượng mưa cần thiết là khoảng 1.4 Đất đai Đất cát sỏi, đất thịt nặng có vỏ sò vỏ hến, đất đá vôi đều trồng được mãng cầu ta. Nhưng tốt nhất là đất có tầng dày, đất rừng mới khai phá, đất đồi ven sông suối, đất chân núi đá với thoát nước, nhiều mùn, giàu dinh dưỡng rất thích hợp.

Tuy nhiên, cây bị bật gốc và ngập úng có thể dẫn đến thối rễ. Ngập úng cây con và gốc ghép làm giảm đáng ké tốc độ tăng trưởng và quang hợp. Năng suất cao thường thấy trên đất cát đến đất thịt pha cát và thoát nước tốt (Jules Janick, 2008).2 Kỹ thuật canh tác và chăm sóc 1.1 Giống và nhân giống Theo Nguyễn Tuan Vũ va ctv (2018) thì có 8 nhóm giống mang cầu đã được ghi nhận là: Mang cau dai, mang cầu da xanh, mang cầu gai thanh long, mang cầu giấy, mãng cầu đá, mãng cầu lửa, mãng cầu tím, mãng cầu thái. Nhân giống Có hai cách nhân giống cây mãng cầu ta: - Nhân giống hữu tính Gieo hạt, trước khi gieo đập nhẹ hoặc cho cát khô vao túi tác động lên hạt làm cho hạt nứt vỏ để hạt mãng cầu nhanh nây mầm.

Nhân giống bằng hạt sẽ có nhiều biến dị ảnh hưởng đến tỉ lệ đậu trái, vỏ và phần ăn được, pham chat trai (Phan Thi Lai va Chu Thi Thom, 2005). - Nhân giống vô tính Theo Vũ Công Hậu (2006), gốc ghép thường sử dùng từ cây mãng cầu ta hoặc cây bình bat. Có thé ghép áp, có thể ghép cành hay ghép mắt. Gốc ghép phải | - 2 tuổi.

Cành ghép là cành đã hóa gỗ đường kính 1 cm trở lên lấy ở đoạn cành lá đã rụng hết. Cắt dai 12 cm có thé ghép nêm vào cảnh gốc ghép, cũng có thé cắt ngọn gốc ghép rồi cắt vạt gốc ghép và cành ghép sao cho áp vào nhau vừa vặn. Vết cắt dai khoảng 5 - 6 em.2 Mật độ và khoảng cách trồng Ở đất cát ven biển đất xấu, hộ nông dân thường trồng quá dày và thường không bón phân do đó trái bé, hạt nhiều. Tùy thuộc vào loại đất, khoảng cách trồng sẽ khác nhau, khoảng cách 4 m ở đất xấu và 5 m ở đất tốt (Vũ Công Hậu, 2006).

Ngoài ra, muốn khai thác nhanh đạt năng suất cao thì mật độ trồng 3 x 3 m (Trần Thế Tục, 2000). Khoảng cách trồng thích hợp nhất là cây cách cây 3 - 4 m, hàng cách hàng 4 - 5 m tương đương 500 - 830 cây/ ha. Bên cạnh đó, có thé thiết kế vườn với khoảng cách: cây cách cây 4,5 - 5,5 m, hang cách hang 5,5 - 6 m tương đương 408 - 303 cây/ ha dé thuận tiện cho việc cơ giới hóa (Chi cục Trồng trọt và BVTV Tây Ninh, 2019).3 Thời vụ trồng Mãng cầu ta được trồng trải dài từ Bắc vào Nam do khác biệt về kiểu khí hậu nên thời vụ trông có sự khác biệt giữa hai miên. Vụ xuân: Tháng 2 - 3 trước khi nảy lộc là thời vụ trồng tốt nhất đối với các tỉnh miền Bắc.

Có thé trồng trong mùa hè vào tháng 5 - 6 khi cành lá đã chuyên lục, 6n định. Trừ vùng Trung Bộ có gió tây khô nóng. Mùa thu (tháng 8 - 9) cũng có thể trồng được trừ các vùng có mưa tập trung với lượng mưa lớn. Mùa đông vao thang 11 - 12 sau khi cây mang cầu ta rụng lá đem trồng cũng rat dé sống (Chi cục BVTV Quảng Ninh, 2012) Miền Nam có đặc điểm một mùa mưa và một mùa khô kéo dai do đó trồng mang cầu phải được trồng trước mùa mưa giúp cây sinh trưởng và phát triển tốt.

Tại Tây Ninh, thời vụ trồng mang cầu ta tập trung trong khoảng từ tháng 5 đến thang 8. Ở vùng khó khăn về nước tưới thời vụ trồng mãng cầu thường sớm hơn, khoảng cuối tháng 4, đầu tháng 5 khi có những cơn mưa đầu mùa. Như vay, cây con có thời gian sinh trưởng dai trong mùa mưa, cây phát triển nhanh và rễ ăn sâu, khả năng chịu hạn trong mùa khô tốt x ^ hơn (Bùi Xuân Khôi, 2012).4 Chuẩn bị hồ trồng và cách trồng Hồ đào có kích thước 40 x 40 x 40 em, bón lót 7 - 15 kg phân chuồng hoai mục + 0,3 - 1 kg vôi + 0,5 kg Supe lân + NPK 0,1kg/hé. Cay mang cầu được trồng ở giữa hố, bầu đặt ngang với mặt đất (không trồng sâu gây nghẹt rễ, sinh trưởng kém), tưới nước, ấn cho chặt gốc tránh đồ ngã khi mưa gió, duy trì độ 4m 70 - 80% (Chi cục Tréng trot va BVTV Tay Ninh, 2019).5 Bon phan Theo Phan Thị Lai và Chu Thi Thom (2005), việc bón phân cho cây mang cau ta phụ thuộc vào độ tuổi của cây.

Lượng phân bón cho 1 cây trong | năm (Bang 1.1 Lượng phân bón cho cây mang cau theo độ tuổi cây Tuôi cây Lượng phân (kg/cây) Loại phân Từ I- 4năm Từ 5 - § năm Trên 8 năm Phân chuồng 15-20 20-25 30 - 40 Đạm 0,7 1:7 La Lan 0,4 0,7 0,8 Kali 0,3 0,6 0,8 (Nguén: Phan Thi Lai và Chu Thi Thom, 2005) Thời kỳ bón phân được chia thành nhiều dot dựa theo chu trình sinh trưởng của cây trong vụ chính: - Bón đón hoa: bón vào tháng 2 - 3 dương lịch - Bón nuôi cành nuôi trái: bón vào tháng 6 - 7 dương lịch - Bón kết hợp với vun gốc: bón vào tháng 10 - 11 dương lịch.6 Tỉa cành và tạo tán 1.1 Tạo tán Cây mãng cầu ta là cây có cành đa cấp, do đó nó cần được tạo một khung tán thích hợp để thuận tiện cho việc chăm sóc cây, phun thuốc và thu hái trái, các cây có tuôi cây nhỏ cho tan mọc nhanh và ra trai sớm. Theo Chi cục Trồng trọt và BVTV Tây Ninh (2019) để tạo tán, cần chọn 3 - 4 cành khỏe, thang mọc từ thân chính và phát triển theo 3 - 4 hướng tướng đối đồng đều nhau làm cánh cấp 1. Từ cảnh cấp 1 sẽ phát triển các cành cấp 2 và chỉ giữ lại 2 - 3 cành.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ