Chương 1: Lý thuyết diễn ngôn và truyện ngắn Nguyễn Khải sau năm 1975. Chương 2: Diễn ngôn trong truyện ngắn Nguyễn Khải sau năm 1975 dưới góc độ nội dung tư tưởng. Chương 3: Đặc điểm diễn ngôn trong truyện ngắn Nguyễn Khải sau năm 1975 qua ngôn ngữ và giọng điệu. 12 NỘI DUNG CHUƠNG 1: LÝ THUYẾT DIỄN NGÔN VÀ TRUYỆN NGẮN NGUYỄN KHẢI SAU NĂM 1975 1.
Về lý thuyết diễn ngôn 1. Khái niệm diễn ngôn và diễn ngôn văn học 1. Khái niệm diễn ngôn Thuật ngữ diễn ngôn (discourse) được đề xuất bởi các nhà lí luận phương Tây thế kỉ XX. Diệp Quang Ban trong công trình Giao tiếp diễn ngôn và cấu tạo văn bản, cho rằng “nhà ngôn ngữ học người Bỉ E.Buysen là người đầu tiên sử dụng discourse như một khái niệm chuyên môn trong tác phẩm Hoạt động nói năng và văn bản (1943)” [4].
Ban đầu, diễn ngôn là một thuật ngữ của chuyên ngành ngôn ngữ học. Về sau, thuật ngữ này được áp dụng trong nhiều ngành khoa học, trong đó có khoa văn học. Việc xác lập một cách hiểu thống nhất về diễn ngôn là điều không dễ dàng bởi đây là khái niệm khoa học có tính liên ngành và đa ngành. Nói cách khác, diễn ngôn là một khái niệm đa nghĩa.
Hiện nay, ở Việt Nam cũng như trên thế giới đang tồn tại nhiều cách diễn giải diễn ngôn theo những tiêu chí khác nhau. Tuy nhiên, dựa vào thực tiễn vận dụng khái niệm diễn ngôn trong các lĩnh vực, có thể khái quát thành ba xu hướng nghiên cứu diễn ngôn cơ bản đó là: ngôn ngữ học, phong cách học và xã hội học. Ở phương Tây, thoạt đầu khái niệm diễn ngôn thuộc lĩnh vực ngôn ngữ học, là sản phẩm được tạo ra từ “bước ngoặt ngôn ngữ”. Phần lớn các nhà nghiên cứu cho rằng ngôn ngữ học cấu trúc của F.
de Sausure có hạn chế lớn là đối lập ngôn ngữ với lời nói. Theo đó, ngôn ngữ học chỉ nghiên cứu phương diện ngôn ngữ (bao gồm hệ thống các nguyên tắc chi phối sự vận dụng ngôn ngữ như ngữ âm, từ vựng, cú pháp) còn lời nói thuộc sở hữu của cá nhân nên 13 không nằm trong đối tượng xem xét của ngôn ngữ học. Sự xuất hiện của thuật ngữ diễn ngôn xuất phát từ chính nhược điểm vừa nêu, đúng như nhận định của nhà nghiên cứu Trần Đình Sử: “Một thuật ngữ mới chỉ xuất hiện khi nào phát hiện chỗ khiếm khuyết trong hệ hình tiếp cận cũ” [61]. Chiupa thực sự là nhà khoa học có công rất lớn đối với việc hoàn thiện khái niệm diễn ngôn dưới góc nhìn của thi pháp học và tu từ học hiện đại.
Quan điểm về diễn ngôn được ông thể hiện cụ thể trong các bài viết: Diễn ngôn, Thẩm quyền diễn ngôn, Hình thái diễn ngôn in trong cuốn Thi pháp học: từ điển các thuật ngữ và khái niệm bức thiết do N. Tamarchenko chủ biên. Nghiên cứu diễn ngôn trở thành một trào lưu khoa học phát triển rất mạnh ở phương Tây và “trở thành một khái niệm trung tâm, được lưu hành rộng rãi trong khoa học xã hội và nhân văn” [43]. Khải niện diễn ngôn ở được ứng dụng, giới thiệu ở nước ta từ những năm cuối thế kỷ XX, khởi đầu từ những công trình nghiên cứu ngôn ngữ học.
Tuy nhiên, cho đến nay, khái niệm diễn ngôn vẫn chưa có sự thống nhất rõ ràng về cách hiểu. Trong Diễn ngôn tự sự (Narrativediscourse), trên cơ sở phân biệt discourse và story, G.Gennette cho rằng diễn ngôn tự sự là cách thức trình bày một câu chuyện. Tác giả phân chia diễn ngôn tự sự thành các phạm trù ngữ pháp như: thời, thức, và giọng. Trong đó, thời và thức nằm ở cấp độ mối quan hệ giữa câu chuyện và diễn ngôn tự sự, giọng chỉ ra mối quan hệ giữa hoạt động kể và diễn ngôn tự sự, giữa hoạt động kể và câu chuyện.
Gennette dùng phạm trù ngữ pháp này để phân tích cấu trúc tự sự trong Đi tìm thời gian đã mất của M. Cũng trong giai đoạn này, khái niệm diễn ngôn bắt đầu được sử dụng rộng rãi và đặc biệt trở thành một khái niệm trung tâm trong trường phái Phân tích diễn ngôn (hay còn gọi là nghiên cứu diễn ngôn), một hướng nghiên cứu có phạm vi và ảnh hưởng rất rộng rãi, bao trùm rất nhiều lĩnh vực như ngôn ngữ học, xã hội học, tâm lí xã hội học, nghiên cứu văn học. 14 Trần Đình Sử, một trong những nhà lý luận văn học tiếp cận với lý thuyết diễn ngôn trong nghiên cứu văn học từ rất sớm cho rằng “thời gian gần đây trong nghiên cứu văn học, xã hội học, khái niệm diễn ngôn đã được sử dụng nhiều, song nhìn kĩ các tài liệu tiếng Việt khi sử dụng khái niệm này hiện còn có phần lúng túng” [61]. Và tác giả bài viết đưa ra sáu nội dung cơ bản của khái niệm diễn ngôn.
Thứ nhất, diễn ngôn là thực tiễn hoạt động giao tiếp của con người. Mọi hoạt động giao tiếp của con người đều được xem là những diễn ngôn. Hoạt động diễn ngôn thể hiện một trạng thái ngôn ngữ, tri thức, quyền lực trong xã hội của diễn ngôn đó mà các cá nhân đều phụ thuộc vào. Thứ hai, diễn ngôn là phương thức biểu đạt về mọi phương diện đời sống bằng ngôn ngữ.
Diễn ngôn biểu hiện thành hình thức ngôn ngữ, như các cuộc thảo luận, tranh tụng, phát biểu, diễn thuyết, diễn đạt thành khái niệm, cụm từ, hệ thống các từ ngữ, các thuật ngữ, phạm trù, các từ then chốt, cách biểu hiện về con người, thế giới các sự việc bằng ngôn ngữ đều là diễn ngôn. Thứ ba, diễn ngôn hướng tới nhiệm vụ tái hiện mọi phương diện của đời sống thông qua ngôn ngữ. Chức năng diễn ngôn là kiến tạo sự thật, chân lí thông qua ngôn ngữ, bằng ngôn ngữ tái hiện lại cuộc sống, có diễn ngôn văn học, chính trị, triết học, pháp luật, tôn giáo, đạo đức, mĩ học. Thứ tư, diễn ngôn kiến tạo bức tranh thế giới, sự thật, chân lí theo nguyên tắc, cơ chế của riêng nó.
Sự tái hiện bức tranh thế giới bằng ngôn ngữ của diễn ngôn tuân theo những nguyên lý, nguyên tắc nhất định. Thứ năm, Diễn ngôn là hiện tượng giao tiếp cho nên nó là tiếng nói của một chủ thể quyền lực trong xã hội ấy, là ngôn ngữ của kẻ chiếm địa vị thống trị về tư tưởng. Các chủ thể diễn ngôn do địa vị khác nhau mà có trật tự diễn ngôn khác nhau, để thuyết phục họ có chiến lược diễn ngôn khác nhau, từ tuyên bố, ra lệnh, cho đến đối thoại, trao đổi hay trình bày, diễn giải quan điểm của mình. Như thế 15 nghiên cứu diễn ngôn là đi tìm xem các chủ thể xã hội đứng đằng sau diễn ngôn, xem đó là tiếng nói của ai, vào thời điểm nào.
Thứ sáu, diễn ngôn là hiện tượng xã hội, có tính chỉnh thể, tính liên tục, tính thống nhất, tính hệ thống. Nó gắn với ý thức hệ xã hội, người ta có thể dùng ý thức hệ để gọi tên diễn ngôn. Diễn ngôn là hiện tượng siêu văn bản, liên văn bản, nó thể hiện trong các văn bản nhưng không đồng nhất với văn bản, không giới hạn trong các văn bản. Nó gắn với chủ thể diễn ngôn, song không có tác giả cụ thể bởi nó là tiếng nói của một thời đại, của chủ thể quyền lực trong một thời đại nào đó.
Tóm lại, “diễn ngôn là hiện tượng xã hội, có tính chỉnh thể, tính liên tục, tính thống nhất, tính hệ thống” [61, tr. Diễn ngôn là một khái niệm hết sức phong phú. Lã Nguyên, nhà nghiên cứu lý thuyết văn học công bố bài dịch “22 định nghĩa về diễn ngôn”. Trong bài viết này, Lã Nguyên giới thiệu “22 đoạn trích” bàn luận về thuật ngữ diễn ngôn của các nhà phê bình văn học nổi tiếng thế giới, được rút ra từ tác phẩm Các lí thuyết diễn ngôn hiện đại: Phân tích đa ngành [51].
Qua 22 định nghĩa này, chúng ta có thể thấy, khái niệm diễn ngôn rất rộng, được ứng dụng trong nghiên cứu ở nhiều phạm vi khác nhau, như nhận định của Sara Mills trong Discourse: “Diễn ngôn là thuật ngữ có phạm vi nghĩa khả hữu rộng nhất so với bất cứ thuật ngữ nào khác thuộc lí luận văn học và văn hóa” [dẫn theo 36, tr. Trong luận văn này, chúng tôi dựa trên 6 nội dung về thuật ngữ diễn ngôn trong cách hiểu của Trần Đình Sử làm cơ sở nghiên cứu vấn đề. Diễn ngôn văn học Văn học là nghệ thuật ngôn từ, nhưng cho đến nay trong hầu hết các tài liệu lí luận văn học ở Việt Nam đều chỉ hiểu ngôn từ như một phương tiện biểu đạt, một công cụ bề ngoài. Các nhà nghiên cứu chưa đi sâu tìm hiểu bản chất xã hội, thẩm mĩ của nó, và do đó cũng chưa đi đến hiểu rõ bản chất của ngôn từ văn học với tư cách là một diễn ngôn (Trần Đình Sử).
Thời gian gần 16 đây khái niệm diễn ngôn xuất hiện nhiều trong các công trình nghiên cứu và trở thành thuật ngữ của nhiều ngành khoa học xã hội. Đã có rất nhiều định nghĩa về diễn ngôn, theo các góc độ khác nhau. Nhiều hệ hình diễn ngôn ra đời: diễn ngôn văn hóa, diễn ngôn lịch sử, diễn ngôn xã hội học, diễn ngôn văn học…Vậy, như thế nào là diễn ngôn văn học? Bản chất văn học là diễn ngôn về đời sống. Là một loại diễn ngôn, văn học mang tính chất chung của diễn ngôn nói chung, nhưng có nét đặc thù.
Cái chung đó là diễn ngôn văn học mang tính ý thức hệ; là phương thức tồn tại của con người, kiến tạo nên bản thân hiện thực; có quy tắc, cơ chế, chức năng riêng; nghiên cứu diễn ngôn văn học là nghiên cứu con người, xã hội, văn hóa. Nói cách khác, mỗi tác phẩm văn học là một hay nhiều diễn ngôn về chính đời sống con người. Theo Trần Đình Sử, trong thực tiễn giao tiếp của đời sống, có nhiều loại diễn ngôn khác nhau. Nếu chính trị, pháp luật, chính sách, nghị quyết… được xem là những diễn ngôn trung tâm thì “văn học chủ yếu là diễn ngôn ngoại biên” [62, tr.
Diễn ngôn văn học gắn bó mật thiết với đời sống con người, là tiếng nói của con người ở mỗi thời đại, luôn đồng hành với con người qua từng thời kỳ lịch sử. Mỗi thời đại quy định nên những diễn ngôn văn học khác nhau và qua diễn ngôn văn học ấy, chúng ta có thể hiểu hơn về nhiều phương diện của đời sống con người ở từng thời đại mà diễn ngôn ấy thể hiện.