Chương I: Cơ sở lý luận và tổng quan nghiên cứu Chương II: Tổng quan cán cân thương mại Lào Chương III: Kết quả nghiên cứu thực nghiệm về tác động của các nhân tố đến cán cân thương mại Lào Chương IV: Kết luận và khuyến nghị chính sách ii CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU I. Thƣơng mại quốc tế và cán cân thƣơng mại (TMQT & CCTM) 1.Thương mại quốc tế 1.Khái niệm về thương mại “Thương mại quốc tế là quá trình trao đổi hàng hóa, dịch vụ giữa các nước thông qua buôn bán nhằm mục đích kinh tế và lợi nhuận. Trao đổi hàng hóa, dịch vụ là một hình thức của các mối quan hệ kinh tế xã hội và phản ánh sự phụ thuộc lẫn nhau giữa những người sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ riêng biệt của các quốc gia. Cán cân thƣơng mại 1.
Khái niệm và các chỉ số 1. Khái niệm “Cán cân thương mại (CCTM) phản ánh chênh lệch giữa các khoản thu từ xuất khẩu (XK) và các khoản chi cho nhập khẩu (NK) hàng hoá của một nước với nước ngoài trong một thời kì tăng trưởng xác định (thường là 1 năm).” “CCTM là một bộ phận của cán cân thanh toán quốc tế - The Balance of Payments (CCTT) và được phản ánh chi tiết trong cán cân vãng lai – Current Account (CCVL).” CCVL bao gồm: - Cán cân thương mại - Cán cân dịch vụ - Cán cân thu nhập - Cán cân chuyển giao vãng lai một chiều “Đặc trưng cơ bản của CCVL là phản ánh các khoản thu và chi mang tính thu nhập, nghĩa là các khoản thu chi này phản ánh việc chuyển giao quyền sở hữu về tài sản giữa người cư trú và người không cư trú. Các khoản thu phản ánh tăng tài sản thuộc quyền sở hữu, còn các khoản chi phản ánh giảm tài sản thuộc quyền sở hữu. Đo lường cán cân thương mại “CCTM phản ánh chênh lệch trong thu từ giá trị hàng hoá xuất khẩu và chi từ giá trị hàng hoá nhập khẩu.
Xuất khẩu làm phát sinh các khoản thu nên nó được iii ghi (+) trong CCTT; và nhập khẩu làm phát sinh các khoản chi nên nó được ghi (-) trong CCTT.” “Trên phương diện thống kê, giá trị XK thường được tính theo giá FOB, còn giá trị NK hàng hoá thường được tính theo giá CIP. Ở đây cần chú ý là, giá hàng hoá phải lấy là giá FOB ( Free On Board), nghĩa là giá trị hàng hoá chỉ tính đến cảng xuất, tức không bao gồm cước phí vận chuyển và phí bảo hiểm (vì chi phí vận chuyển và bảo hiểm được hạch toán ở cán cân dịch vụ). Trường hợp nền kinh tế nhập siêu, CCTM phản ánh chênh lệch giữa XK (giá FOB) và NK (giá CIP- cost,insurance, freight là giá nhận hàng tại biên giới nước nhập và đã bao gồm chi phí bảo hiểm, vận tải hàng hoá tới cảng của bên nhập). Bản chất và ý nghĩa của cán cân thương mại “CCTM ghi chép chênh lệch giữa giá trị XK và NK hàng hoá của một quốc gia; nó còn được gọi là cán cân hữu hình, bởi vì các thu từ XK hàng hoá và các khoản chi từ NK hàng hoá có thể quan sát được bằng mắt thường khi di chuyển qua biên giới quốc gia.
Khi thu nhập từ XK lớn hơn khoản chi cho NK hàng hoá thì cán CCTM thặng dư hay xuất siêu. Ngược lại, khi thu nhập từ XK thấp hơn chi cho NK hàng hoá thì CCTM thâm hụt hay nhập siêu. Còn CCTM cân bằng khi giá trị NK hàng hoá bằng giá trị XK hàng hoá. Vì vậy, thặng dư thương mại làm cho một quốc gia có thể tích luỹ tài sản và trở nên giàu có hơn, còn thâm hụt thương mại kéo dài đẩy nền kinh tế rơi vào những tình huống xấu trong phát triển kinh tế (ví dụ: gia tăng nợ nước ngoài, lạm phát, tăng trưởng thấp hoặc không có tăng trưởng thậm chí còn tăng trưởng âm…).
Trạng thái cân bằng của CCTM chỉ là hiện tượng tạm thời và trên thực tế, CCTM luôn biến động quanh mức cân bằng.” “Xem xét về mặt thời gian ảnh hưởng của tình trạng CCTM đến nền kinh tế, trong ngắn hạn, thặng dư hay thâm hụt cán CCTM chưa phản ánh được thực trạng của nền kinh tế. Chứng minh cho điều này, một số nước như; Thái Lan, Nhật Bản, Hàn Quốc, Hoa Kỳ cho thấy dù có CCTM thâm hụt thì nền kinh tế của nước đó vẫn có thể ổn định và đạt tăng trưởng cao. Tình trạng thâm hụt CCTM của nền kinh tế thường diễn ra phổ biến ở nền kinh tế đang phát triển. Tuy nhiên, nếu nền kinh tế này có sự hấp thụ vốn đầu tư tốt, đầu tư đúng, phát huy được hiệu quả của vốn thì thời gian đầu thâm hụt thương mại cao lại là tiền đề cho tăng trưởng kinh tế giai đoạn sau và ngược lại.
Bởi vì, nếu chúng ta xem xét ở góc độ đánh đổi giữa iv việc bỏ chi phí ra ở hiện tại để gia tăng năng lực sản xuất ở tương lai thông qua việc tăng NK hàng hoá từ bên ngoài trong điều kiện nền kinh tế trong nước chưa đáp ứng được. Nếu chỉ theo đuổi trạng thái thặng dư hay cân bằng của CCTM thì việc hạn chế NK thì trong tương lai tăng trưởng kinh tế lại giảm sút.” “Vì vậy, suy cho cùng, vấn đề thâm hụt thương mại không phải là trở ngại của nền kinh tế mà điều đáng quan tâm ở đây là sức chịu đựng của CCVL và nợ nước ngoài khi có thâm hụt thương mại có được đảm bảo hay không.” “Bởi lẽ, thâm hụt CCTM còn được bù đắp từ nguồn thặng dư của thành phần khác trong CCVL hay Cán cân vốn và tài chính cũng như từ nguồn dự trữ ngoại tệ của Chính phủ.” “Thâm hụt thương mại kéo dài trong nhiều năm đồng nghĩa với tăng trưởng XK không đủ bù đắp NK, là dấu hiệu cho thấy giá trị gia tăng sản phẩm hàng hoá sản xuất trong nước cho XK thấp hoặc khả năng cạnh tranh của hàng hoá XK trên trường quốc tế kém và ngược lại. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý về chính sách hạn chế NK để bảo hộ sản xuất trong nước cũng như khai thác những lợi thế tĩnh của nền kinh tế (khai thác tài nguyên và bán sản phẩm thô, nhân công rẻ…) đem lại thặng dư CCTM trong ngắn hạn của nhưng ảnh hưởng xấu trong dài hạn.” “Tình trạng của CCTM ảnh hưởng đến các biến số kinh tế vĩ mô và vì vậy là sự ổn định của nền kinh tế.” “Đây là căn cứ quan trọng nhất – dựa vào đó Chính phủ có những biện pháp điều chỉnh CCTM để ổn định kinh tế vĩ mô.” “Trường hợp các nước đang phát triển, nguồn thặng dư Cán cân dịch vụ, Cán cân thu nhập, và các khoản chuyển giao còn chưa đáng kể thì CCTM là bộ phận chủ yếu phản ánh tình trạng CCVL. Vì vậy, để đánh giá khả năng chịu đựng của CCVL có thể sử dụng chỉ tiêu: tỉ lệ XK/GDP, nợ/XK, tỉ lệ tăng trưởng NK/tăng trưởng XK, tỉ lệ nợ nước ngoài/GDP, lãi suất trả nợ/mức tăng GDP…mỗi hệ số phản ánh sự cải thiện hay làm CCVL xấu đi.
Nguyên nhân thặng dư và thâm hụt cán cân thương mại “Cân cân thương mại là một bộ phận cấu thành tổng cầu của nền kinh tế :” AD = C + I + G + NX Trong đó: v AD: tổng cầu phản ánh GDP C: tiêu dùng của các cá nhân trong nền kinh tế I: đầu tư của nền kinh tế G: tổng chi tiêu của Chính phủ NX: xuất khẩu ròng (XK-NK) “Do đó, thâm hụt hay thặng dư CCTM ảnh hưởng trực tiếp đến tăng trưởng kinh tế của một quốc gia.” “CCTM phản ánh tổng tiết kiệm ròng của một quốc gia:” NX = (S-I)+(T-G) “Với S,I,T,G lần lượt là tiết kiệm, đầu tư, thu nhập từ thuế, chi tiêu Chính phủ.” “Xét khía cạnh thương mại quốc tế: thâm hụt là do nền kinh tế nhập siêu.” “Xét trên khía cạnh cân đối vĩ mô của nền kinh tế -mất cân đối tiết kiệm và đầu tư: thâm hụt do đầu tư của nền kinh tế tăng cao và mức tiết kiệm thấp. Các nhân tố ảnh hưởng đến cán cân thương mại Nhập khẩu Xuất khẩu Tỷ giá hối đoái Chính sách thương mại Chính sách đầu tư Chính sách tỷ giá Các chính sách khác “Ngoài ra xem xét tình trạng cán cân thương mại thặng dư hay thâm hụt còn do các nguyên nhân khác như: Lạm phát, Thuế quan và hạn ngạch của nước ngoài…” Chƣơng 2: TỔNG QUAN THƢƠNG MẠI QUỐC TÊ CỦA LÀO vi 2.1 Tổng quan nền kinh tế Lào “Lào là nền kinh tế có quy mô tương đối nhỏ, năm 2015 GDP của Lào là 12,63 tỉ USD đứng thứ 130 thế giới (theo số liệu của IMF). Trong khoảng hai thập kỉ trở lại đây, Lào cùng với Việt Nam nằm trong số những nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao nhất trên thế giới, với tốc độ tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 1991-2015 đạt trên 6,5%.2 Thực trạng cán cân thƣơng mại của Lào “Chính sách mở cửa, hội nhập với khu vực và thế giới của Đảng và Nhà nước Lào trong nhưng năm qua đã đem lại nhiều thành quả quan trọng. Hiện nay Lào đã có quan hệ thương mại với hơn 100 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó xuất khẩu hàng hóa tới khoảng 70 quốc gia.
Cũng giống như các quốc gia trong khu vực, tăng trưởng ngoại thương nhanh chóng của Lào đang là một trong những kênh chủ yếu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Về quy mô và tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu, mấy năm gần đây tốc độ tăng là dương nhưng độ lớn không đáng kể. Thị trường xuất khẩu của Lào phát triển không ổn định và lượng hàng hóa xuất khẩu chưa nhiều, chưa tương xứng với tiềm năng và thế mạnh của quốc gia. Cụ thể, kim ngạch xuất khẩu năm 2006 là 878 triệu USD, đến năm 2010 kim ngạch đạt 1281,8 triệu USD.
Từ năm 2013 kim ngạch xuất khẩu ổn định ở mức cao nhiều gấp đôi năm 2012. Năm 2015 kim ngạch đạt 3426 triệu USD.” “Về cơ cấu mặt hàng xuất khẩu của Lào, chiếm đa số vẫn là các tài nguyên thiên nhiên ở dạng thô, trong đó chủ yếu là gỗ, đồng đỏ và vàng. Tuy nhiên, trong giai đoạn từ 2006 đến 2009, cơ cấu đã có những chuyển biến tích cực theo hướng tăng tỉ trọng mặt hàng công nghiệp chế biến và giảm tỉ trọng xuất khẩu thô. Cụ thể tỷ trọng nhóm hàng khoáng sản tuy vẫn tăng về giá trị nhưng tỉ trọng đã giảm từ 59,06% năm 2007 xuống chỉ còn 46,59% năm 2010.
Các nhóm hàng xuất khẩu chủ yếu tiếp theo gồm có: năng lượng (chiếm 24,42%), dệt may (12,60%) và nông sản 6,51%).