Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG 1. Nhận thức chung về hợp đồng và giao kết hợp đồng 1. Khái niệm, đặc điểm của hợp đồng Khái niệm hợp đồng ra đời gắn liền với nền sản xuất hàng hoá, là hình thức của quan hệ trao đổi sản phẩm hàng hoá giữa các chủ thể trong xã hội. Trong đời sống kinh tế - xã hội, các chủ thể thường xuyên có nhu cầu tham gia các quan hệ sản xuất, mua bán, trao đổi hàng hoá, cung ứng dịch vụ… nhằm thoả mãn nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng hoặc kinh doanh tìm kiếm lợi nhuận.
Hình thức pháp lý của các quan hệ đó chính là hợp đồng. Do vậy, hợp đồng có vai trò hết sức quan trọng trong đời sống kinh tế, xã hội, là công cụ pháp lý quan trọng và hữu hiệu để các chủ thể tiến hành các hoạt động của mình. Bản chất của hợp đồng là sự thoả thuận, thống nhất ý chí của các bên trên cơ sở tự nguyện. Ngay từ thời kỳ La Mã cổ đại, hợp đồng đã được coi là một nội dung quan trọng của pháp luật về nghĩa vụ.
Hợp đồng được coi là hình thức thể hiện của các giao dịch song phương mà việc xác lập chúng có thể trực tiếp làm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ [26,tr 8]. Bản chất của hợp đồng được xác định trong Luật La Mã cổ đại vẫn không thay đổi cho đến ngày nay. Tuy vậy, trong pháp luật của các quốc gia có những cách diễn đạt khác nhau về hợp đồng. Theo quy định của Bộ luật Thương mại thống nhất Hoa Kỳ, hợp đồng được coi là tập hợp các nghĩa vụ pháp lý là kết quả của sự thoả thuận của các bên theo quy định của Bộ luật Thương mại thống nhất Hoa Kỳ và các nguyên tắc pháp luật khác.
Điều 110 BLDS Pháp quy định: “Hợp đồng là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó một hoặc nhiều người cam kết với một hoặc nhiều người khác về việc chuyển giao một vật, làm hoặc không làm một công việc nào đó” [16,tr 667]. Điều 2 Luật Hợp đồng năm 1999 của Trung 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Quốc quy định: “Hợp đồng là sự thoả thuận về việc xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự giữa các chủ thể bình đẳng, tự nhiên nhân, pháp nhân, các tổ chức khác” [48]. Điều 420 BLDS của Liên bang Nga quy định hợp đồng là thỏa thuận, ký kết bởi hai hoặc nhiều người làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự [45]. Mặc dù có nhiều cách diễn đạt khác nhau về khái niệm hợp đồng nhưng nhìn chung trong pháp luật của tất cả các nước trên thế giới, hợp đồng đều được coi là sự thỏa thuận tự nguyện của các bên và từ sự thỏa thuận đó sẽ làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ ràng buộc các bên với nhau.
Ở Việt Nam, khái niệm về hợp đồng cũng được diễn đạt khác nhau trong các văn bản pháp luật khác nhau, phù hợp với từng thời kỳ phát triển kinh tế, xã hội. Trong giai đoạn trước ngày 01/01/2006, pháp luật về hợp đồng phân biệt rất rõ rang ba loại hợp đồng: hợp đồng dân sự, hợp đồng kinh tế và hợp đồng lao động. Điều 1 Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế năm 1989 quy định: “Hợp đồng kinh tế là sự thỏa thuận bằng văn bản, tài liệu giao dịch giữa các bên ký kết về việc thực hiện công việc sản xuất, trao đổi hàng hóa, dịch vụ, nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học – kỹ thuật và các thỏa thuận khác có mục đích kinh doanh với sự quy định rõ ràng quyền và nghĩa vụ của mỗi bên để xây dựng và thực hiện kế hoạch của mình”. Điều 394 BLDS năm 1995 đưa ra khái niệm hợp đồng dân sự như sau: “Hợp đồng dân sự là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”.
Khái niệm này được giữ nguyên trong BLDS năm 2005 (Điều 388 BLDS năm 2005). Bộ luật Lao động năm 1994 cũng đưa ra khái niệm riêng về hợp đồng lao động, theo đó hợp đồng lao động là sự thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trả công, điều kiện lao động, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động (Điều 26). 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Như vậy, dù được diễn đạt theo những cách khác nhau, với các mức độ chi tiết khác nhau nhưng tựu trung lại, hợp đồng theo quan niệm của pháp luật Việt Nam thể hiện các đặc trưng pháp lý cơ bản sau đây: Một là, hợp đồng là sự thoả thuận tự nguyện giữa các bên có vị trí pháp lý độc lập, bình đẳng với nhau. Tham gia quan hệ hợp đồng phải có ít nhất hai bên và các bên phải có tư cách chủ thể pháp lý độc lập, đó có thể là các cá nhân, tổ chức, hộ gia đình, tổ hợp tác.
Thực tế kinh doanh hay có hiện tượng các công ty ký hợp đồng với các đơn vị phụ thuộc của mình (được tổ chức dưới các hình thức: chi nhánh, văn phòng đại diện, phân xưởng, xí nghiệp, nhà máy, cửa hàng, trạm, trại, đội sản xuất…). Các đơn vị trực thuộc này không có tư cách chủ thể pháp lý độc lập, bởi vậy không có năng lực pháp luật để ký hợp đồng với chính công ty của mình. Điều đó có nghĩa là không có quan hệ hợp đồng nào tồn tại giữa công ty và các đơn vị trực thuộc của mình. Khi tham gia hợp đồng, các chủ thể phải thỏa thuận tự nguyện với nhau.
Ý chí của các bên thể hiện qua các nội dung cụ thể của hợp đồng phải là ý chí thật sự của mỗi bên và ý chí đó phải thống nhất với nhau; nếu không có sự thống nhất ý chí thì không thể hình thành quan hệ hợp đồng. Pháp luật của các nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam đều thể hiện quan điểm coi sự tự do ý chí trong thoả thuận hợp đồng là một căn cứ cơ bản để xác lập và bảo đảm hiệu lực của hợp đồng, đồng thời xác định sự thoả thuận đó phải trong khuôn khổ quy định của pháp luật, cụ thể thoả thuận trong hợp đồng không được vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội… Các hợp đồng được giao kết dưới tác động của sự lừa dối, đe doạ đều bị coi là vô hiệu. Pháp luật của Đức quy định tự do hợp đồng bao gồm cả quyền tự do ký kết hợp đồng và tự do thể hiện nội dung của hợp đồng. Cá nhân được quyền tự do ký kết hoặc không ký kết hợp đồng, cũng như tự do quyết định nội dung của hợp đồng mà mình ký kết.
Tuy nhiên, để hạn chế sự lạm dụng quyền tự do 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hợp đồng, BLDS Đức cũng như nhiều luật khác của Đức đều quy định những hạn chế nhất định với nguyên tắc này [30,tr 21]. Hai là, sự thoả thuận của các bên trong một quan hệ hợp đồng phải hướng tới những đối tượng cụ thể. Đối tượng của hợp đồng có thể là hàng hóa, tài sản hoặc việc thực hiện công việc. Nếu đối tượng hợp đồng là tài sản thì phải được xác định cụ thể và là loại tài sản được phép lưu thông, thuộc quyền định đoạt hợp pháp của bên giao dịch.
Nếu đối tượng hợp đồng là một công việc thì công việc đó phải có thể thực hiện được và việc thực hiện công việc đó không trái quy định của pháp luật và đạo đức xã hội. Do đó, các thỏa thuận mua bán những vật dụng “ảo” trên mạng trong các trò chơi trực tuyến (game online), thỏa thuận bán nội tạng cơ thể người, thỏa thuận sinh con thuê… như phản ánh của báo chí không được coi là hợp đồng, không được pháp luật bảo vệ. Ba là, sự thoả thuận nhằm làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ pháp lý. Quyền là những điều các bên được hưởng, còn nghĩa vụ là việc các bên phải thực hiện.
Pháp luật dân sự của nhiều quốc gia (Liên bang Nga, Cộng hòa Pháp) chỉ đề cập đến nghĩa vụ, bởi họ quan niệm trong một quan hệ hợp đồng thì quyền của bên này là nghĩa vụ của bên kia và ngược lại. Theo Điều 280 BLDS năm 2005 của Việt Nam thì nghĩa vụ dân sự là việc mà theo đó, một hoặc nhiều chủ thể (bên có nghĩa vụ) phải chuyển giao vật, chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ có giá, thực hiện công việc khác hoặc không được thực hiện công việc nhất định vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác (bên có quyền). Đây là các nghĩa vụ được pháp luật bảo vệ; bên có nghĩa vụ phải thực hiện nghiêm túc các nghĩa vụ của mình, nếu không thực hiện đúng nghĩa vụ thì phải chịu trách nhiệm dân sự dưới các hình thức khác nhau như: phạt vi phạm nghĩa vụ, bồi thường thiệt hại, trả lãi suất, bị đình chỉ hoặc hủy bỏ hợp đồng… 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tuy vậy, cũng cần lưu ý rằng không phải thoả thuận nào giữa các bên cũng tất yếu dẫn đến việc hình thành hợp đồng. Chỉ những thoả thuận nào được thực hiện trong khuôn khổ của pháp luật thì làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ pháp lý.
Phân loại hợp đồng Trên thực tế, các loại hợp đồng khá đa dạng và phong phú. Vì vậy, việc phân loại hợp đồng theo từng nhóm dựa vào những dấu hiệu pháp lý đặc trưng có giá trị lý luận và ý nghĩa thực tiễn sâu sắc. Có thể phân loại hợp đồng theo các tiêu chí cơ bản sau: - Căn cứ vào thời điểm phát sinh nghĩa vụ của các bên mà hợp đồng được chia thành hai loại là hợp đồng ưng thuận và hợp đồng thực tế. Hợp đồng ưng thuận là hợp đồng mà thời điểm phát sinh hiệu lực là thời điểm GKHĐ, ví dụ hợp đồng mua bán, hợp đồng đại lý… Hợp đồng thực tế là loại hợp đồng mà hiệu lực của nó chỉ phát sinh tại thời điểm các bên chuyển giao cho nhau đối tượng hợp đồng, ví dụ hợp đồng tín dụng, hợp đồng gửi giữ tài sản… - Căn cứ vào quyền và nghĩa vụ của các bên, hợp đồng được chia thành hợp đồng song vụ và hợp đồng đơn vụ.
Hợp đồng song vụ là hợp đồng mà mỗi bên đều có nghĩa vụ đối với bên kia. Mỗi bên tham gia hợp đồng đều được hưởng quyền và phải thực hiện nghĩa vụ; quyền của bên này là nghĩa vụ của bên kia và ngược lại.