PHẦN MỞ ĐẦU 1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1.1- Bối cảnh thực tiễn Phát triển NHS trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 5.0 là xu hướng tất yếu, vấn đề cốt lõi để các NHTM Việt Nam phát triển và duy trì lợi thế cạnh tranh. Trong những năm trở lại đây, Đảng và Nhà nước ta chủ trương thúc đẩy nền kinh tế số, Chính phủ điện tử, kinh doanh điện tử bằng việc đưa ra nhiều Nghị quyết của Chính phủ, các chương trình hành động, ban chỉ đạo như: Quyết định 749/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030, Quyết định 149/QĐ-TTg ngày 22/01/2020 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030…nhưng việc thực thi chưa mang lại những hiệu quả mong muốn. Cuối năm 2019 đại dịch COVID-19 xuất hiện và có thể xem là chất xúc tác để chúng ta có thể đẩy nhanh việc thực hiện các hoạt động xã hội trên không gian số, đồng thời giải quyết những ảnh hưởng sâu rộng tới nhiều mặt của đời sống kinh tế xã hội, đặt biệt là lĩnh vực ngân hàng mà đại dịch Covid – 19 gây ra.
NHS sẽ là một giải pháp hữu hiệu để hỗ trợ người dân vượt qua những khó khăn tài chính trước mắt, hạn chế đi lại, tiếp xúc với mọi người. Bằng các hình thức thanh toán trực tuyến không dùng tiền mặt, vay tiêu dùng, dịch vụ tài chính ứng dụng công nghệ hiện đại, thanh toán di động và thanh toán điện tử, sẽ đẩy nhanh sự phát triển của NHS nhờ sự thuận tiện và nhanh chóng. Nhiều ngân hàng thương mại đã chạy đua đầu tư cho NHS, thậm chí coi đó là sự sống còn, bởi đây là xu hướng phát triển tất yếu chứ không chỉ là trào lưu. Ngày 09 tháng 07 năm 2020, Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam đã chính thức ra mắt dịch vụ NHS hoàn toàn mới VCB Digibank trên cơ sở hợp nhất các nền tảng giao dịch trực tuyến và thay thế cho các dịch vụ Internet Banking và Mobile Banking trước đây của ngân hàng.
Chuyển đổi số là một trong những động lực quan trọng đối với tăng trưởng của Vietcombank và đang được thực thi mạnh mẽ, nhưng do chỉ mới áp dụng triển khai dịch vụ NHS từ tháng 07 năm 2020, NHS vẫn còn rất mới vẫn đang trong quá trình hoàn thiện. Việc ra mắt dịch vụ NHS VCB Digibank hoàn toàn mới là một dấu mốc quan trọng, thể hiện tầm nhìn và quyết tâm chuyển đổi số của 2 Vietcombank. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai hoạt động chuyển đổi số của ngân hàng Vietcombank phải đối diện với nhiều thách thức, trong đó đặc biệt là vấn đề bảo mật, kiểm soát rủi ro, bảo vệ thông tin khách hàng. Khuôn khổ pháp lý, tạo cơ sở cho hoạt động và phát triển NHS vẫn còn hạn chế, các trường hợp gian lận liên quan tới các hoạt động thanh toán số gần đây đang diễn biến ngày càng tinh vi và phức tạp, cuộc chạy đua công nghệ trong ngành ngân hàng với các dự án NHS cũng góp phần tạo nên nhiều rủi ro trong vấn đề bảo mật nói chung và mất an toàn thông tin người dùng nói riêng, nhận thức của người dùng khi chưa ý thức về các rủi ro trong giao dịch ngân hàng trực tuyến, xem nhẹ bảo mật thông tin cá nhân; sinh viên, người lao động… cho thuê thông tin, tạo điều kiện cho tội phạm tạo các tài khoản ma, gây khó khăn trong điều tra; các giao dịch, thủ đoạn gian lận ngày càng tinh vi khó phát hiện…, đại đa số người Việt Nam vẫn có thói quen sử dụng tiền mặt trong thanh toán.2 Bối cảnh nghiên cứu Xuất phát từ nhu cầu thị trường, định hướng phát triển của ngành Ngân hàng và hội nhập tài chính quốc tế.
Dưới áp lực cạnh tranh và "làn sóng" số hóa ngân hàng trên toàn thế giới, các NHTM buộc phải nỗ lực đổi mới, số hóa các mảng hoạt động để bắt kịp xu thế NHS trong bối cảnh mới. Liên quan đến vấn đề này, đã có nhiều công trình nghiên cứu như: Hoàng Công Gia Khánh (2019); Hoàng Công Gia Khánh, Trần Hùng Sơn, Huỳnh Thị Ngọc Lý, Hồ Hữu Tín, Nguyễn Thị Hồng Vân (2021); Horn, S. Các công trình nghiên cứu trước đây đã có nhiều đóng góp trong việc giải quyết các vấn đề lý luận và thực tiễn về dịch vụ NHS và chỉ dừng lại ở việc phân tích đánh giá các yếu tố ảnh hưởng của dịch vụ NHS. Tuy nhiên, chưa có nhiều nghiên cứu đề cập thực trạng triển khai dịch vụ NHS tại một ngân hàng cụ thể là như thể nào? Những hạn chế và nguyên nhân cũng như sự hài lòng của khách hàng đối với sản phẩm dịch vụ đó, cần cải thiện những nội dung gì? Định hướng phát triển của NHS trong tương lai sẽ thay đổi như thế nào để thích nghi với bối cảnh nền kinh tế hiện tại? Đặc biệt là, học viên chưa tìm thấy nghiên cứu nào về NHS tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam 3 trong giai đoạn đại dịch Covid 19.
Vì vậy việc nghiên cứu, phân tích và đánh giá thực trạng về dịch vụ NHS tại Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam hiện nay để từ đó tìm ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện và phát triển dịch vụ này trong thời gian tới là rất cần thiết. Từ những lý do trên, luận văn chọn đề tài “Dịch vụ NHS tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu tổng quát Phân tích những hạn chế trong hoạt động dịch vụ NHS tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương VN. Từ đó đề xuất một số giải pháp và hàm ý chính sách cải tiến và hoàn thiện dịch vụ NHS tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam trong giai đoạn tới.2 Mục tiêu cụ thể Phân tích được những hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế về hoạt động dịch vụ NHS tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam.
Tổng hợp đánh giá của khách hàng đối với dịch vụ NHS tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam. Đề xuất các giải pháp và hàm ý chính sách phù hợp nhằm cải tiến và hoàn thiện dịch vụ ngân hàng số tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam. CÂU HỎI NGHIÊN CỨU Những hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế, đánh giá từ thực trạng hoạt động dịch vụ NHS tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương VN trong thời gian qua là gì? Khách hàng cảm nhận như thế nào về dịch vụ NHS tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam? Giải pháp và hàm ý chính sách để cải thiện dịch vụ ngân hàng số tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam là gì? 4. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 4.1 Đối tượng Dịch vụ ngân hàng số tại một ngân hàng thương mại cụ thể.2 Phạm vị nghiên cứu 4 Phạm vi về không gian: Ngân hàng thương mại được nghiên cứu trong đề tài là Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam.
Phạm vi về thời gian: Đề tài tập trung nghiên cứu dịch vụ NHS từ khi Ngân hàng TMCP Ngoại thương VN triển khai từ năm 2020 đến năm 2021. Số liệu khảo sát được lấy từ khách hàng cá nhân trong khoảng thời gian từ tháng 11 đến tháng 12 năm 2021. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Để đạt được mục tiêu nghiên cứu đặt ra, luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính với các công cụ thực hiện như sau: Phương pháp tổng hợp: Được sử dụng để tổng hợp các nghiên cứu thực nghiệm liên quan đến dịch vụ NHS của các ngân hàng thương mại, từ đó tìm ra khoảng trống của các nghiên cứu trước và hướng đi cho đề tài luận văn Tổng hợp các lý luận cơ bản về dịch vụ ngân hàng số của các NHTM làm cơ sở lý thuyết để thực hiện mục tiêu thứ nhất và thứ hai của đề tài luận văn. Thống kê mô tả Được sử dụng để thống kê các số liệu thứ cấp làm cơ sở để phân tích thực trạng dịch vụ NHS tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam.
Từ đó giải quyết mục tiêu nghiên cứu thứ nhất. Phương pháp khảo sát Được sử dụng để khảo sát sự đánh giá của khách hàng về dịch vụ NHS tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam. Thông qua đó để thực hiện mục tiêu nghiên cứu thứ hai của đề tài luận văn. Thời gian khảo sát: trong khoảng 2 tháng, từ tháng 11 đến tháng 12 năm 2021.
Đối tượng khảo sát: khách hàng cá nhân đã và đang sử dụng dịch vụ NHS của Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam. 5 Phương thức khảo sát: Sử dụng Google Form trong Google Drive để tạo biểu mẫu khảo sát. Sau đó sẽ gửi và chia sẽ link đến bạn bè, người thân, khách hàng,… đã và đang sử dụng dịch vụ NHS tại ngân hàng VCB, thông qua mạng xã hội, Facebook, Zalo, Gmail,…Trường hợp số lượng khảo sát không đủ, thì sẽ phát phiếu khảo sát tại các điểm giao dịch của ngân hàng VCB. Theo phương pháp thuận tiện nhất trong bối cảnh đại dịch đang diễn biến ngày một phức tạp.
Thông qua việc phản hồi thông tin trong bảng câu hỏi khảo sát, khách hàng sẽ đánh giá và cho ý kiến về dịch vụ NHS tại ngân hàng VCB. Kết quả đánh giá của khách hàng sẽ là cơ sở để đề xuất các giải pháp cần cải tiến và hoàn thiện dịch vụ NHS tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam. Mẫu khảo sát: Theo Hair & ctg (2006) cho rằng kích thước mẫu tối thiểu để sử dụng EFA (Exploratory Factor Analysis) là 50, tốt hơn là 100 và tỷ lệ số quan sát/biến đo lường là 5:1, 1 là biến đo lường cần tối thiểu của 5 quan sát. Số quan sát hiểu một cách đơn giản là số phiếu khảo sát hợp lệ cần thiết; biến đo lường đơn giản là một câu hỏi đo lường trong bảng khảo sát.
Bảng khảo sát của tác giả có 22 câu hỏi đo lường, áp dụng tỷ lệ 5:1, cỡ mẫu tối thiểu để EFA sẽ là 22 * 5 = 110. Kích thước mẫu này lớn hơn kích thước tối thiểu (50 hoặc 100), vì vậy cần cỡ mẫu tối thiểu để thực hiện phân tích nhân tố khám phá EFA là 100 quan sát. Tuy nhiên để đảm bảo tính khách quan cho kích thước mẫu lựa chọn, tác giả lựa chọn kích thước mẫu khảo sát là n = 300 để đạt hiệu quả khảo sát cao.