CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG SỐ Ở NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Dịch vụ ngân hàng số của ngân hàng thương mại 1. Ngân hàng số 1. Khái niệm Có một số quan niệm khác nhau về ngân hàng số, chẳng hạn: Theo Moeckel (2013) thì “Ngân hàng số (digital banking) hướng đến việc nâng cao tiêu chuẩn của các dịch vụ ngân hàng trực tuyến và ngân hàng di động bằng cách tích hợp các công nghệ số như các công cụ phân tích, tương tác qua mạng xã hội, các giải pháp thanh toán đổi mới, công nghệ di động và tập trung vào trải nghiệm của người sử dụng.” Trong khi đó Chris (2014) thì “Ngân hàng số là mô hình hoạt động của ngân hàng mà trong đó, các hoạt động chủ yếu dựa vào các nền tảng và dữ liệu điện tử và công nghệ số, là giá trị cốt lõi của hoạt động ngân hàng.” Theo Sharma (2017), “Ngân hàng số là một hình thức ngân hàng số hóa tất cả những hoạt động và dịch vụ ngân hàng truyền thống.” Một cách chung nhất có thể hiểu: Ngân hàng số là ngân hàng có thể thực hiện được tất cả các nghiệp vụ ngân hàng bằng hình thức trực tuyến thông qua các thiết bị điện tử có kết nối internet.
Digital banking là loại hình ngân hàng kỹ thuật số đòi hỏi cao về công nghệ và sự đổi mới trong dịch vụ tài chính cho khách hàng gồm các chiến lược di động, kỹ thuật số, công nghệ AI, thanh toán, blockchain, kênh phân phối,.Ngân hàng số là khái niệm rộng hơn so với khái niệm ngân hàng điện tử, có phạm vi rộng hơn và toàn diện hơn ngân hàng điện tử. Ngân hàng điện tử là một phần của ngân hàng số. Đặc điểm của ngân hàng số Thứ nhất, An toàn khi lưu trữ thông tin khách hàng: Bên cạnh sự phát triển của khoa học kỹ thuật và công nghệ thông tin thì các thủ đoạn lừa đảo 8 cũng được kẻ gian nâng cấp tinh vi. Chúng dùng nhiều thủ đoạn khác nhau để truy cập trái phép hệ thống và lấy cắp thông tin, dữ liệu về khách hàng.
Vì vậy các lập trình ngân hàng số rất cần lưu tâm đến vấn đề này và không ngừng nâng cao hệ thống bảo mật cao nhằm bảo vệ thông tin người dùng. Ngân hàng cũng phải đối mặt với mất an toàn thông tin toàn bộ hệ thống do mô hình số hóa toàn bộ hệ thống. An toàn ngân hàng số cần là mối quan tâm hàng đầu để ngân hàng có thẻ hoạt động hiệu quả. Thứ hai, Không cần những chi nhánh ngân hàng, mọi giao dịch đều diễn ra trực tuyến: Giao dịch trực tuyến giúp ngân hàng đến gần gần hơn với nhiều phân khúc khách hàng.
Ngân hàng số là giải pháp hiệu quả để ngân hàng phục vụ và tiếp cận khách hàng tốt hơn. Thứ ba, Cung cấp đầy đủ các sản phẩm dịch vụ nhưng với chi phí thấp hơn: Ngân hàng số xuất hiện làm thay đổi rất nhiều hoạt động trong ngân hàng như việc bán hàng và tiếp cận khách hàng, thiết kế sản phẩm. Ngân hàng số giúp cho ngân hàng tiết kiệm chi phí về máy móc thiết bị, nhân viên,. từ đó ngân hàng có thể cung cấp các dịch vụ hữu ích với mức giá rẻ hơn.
Thứ tư, Yêu cầu nguồn nhân lực chất lượng cao. Việc xây dựng ngân hàng số thành công không chỉ có điều kiện cần là hệ thống cơ sở vật chất, công nghệ thông tin phát triển, tài chính để đầu tư mà con người cũng là yếu tố quan trọng cần được quan tâm. Nguồn nhân lực sẽ giúp ngân hàng số có thể thực hiện thành công và hiệu quả, đảm bảo chất lượng, đem lại sự hài lòng cho người sử dụng. Các giai đoạn phát triển ngân hàng số Theo Học viện Công nghệ Massachusett (MIT, 2017) thì việc phát triển ngân hàng số sẽ qua 3 giai đoạn: (i) Giai đoạn tăng cường ứng dụng máy móc công nghệ vào lĩnh vực ngân hàng; (ii) Giai đoạn giao thoa ngân hàng số; (iii) Giai đoạn ngân hàng số thuần túy.
Dựa vào nguyên tắc và mục tiêu hoạt động của ngân hàng số, IBM (2015) phân thành bốn hình thái: chi nhánh ngân hàng số, kênh phân phối 9 ngân hàng số, công ty con ngân hàng số, ngân hàng số thuần túy. Trong lĩnh vực ngân hàng, phát triển dịch vụ ngân hàng số mới chỉ là quá trình số hóa, chứ chưa phải là quá trình chuyển đổi số hoàn chỉnh, nên chưa thể coi là ngân hàng số đúng nghĩa. Công nghệ đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra sản phẩm ngân hàng số. - Kênh kết nối với khách hàng: đây là quá trình số hóa các kênh phân phối truyền thống và có thể phát triển thêm các hình thức khác nhưng chưa tạo được các nên tảng mới, Trong thời điểm này, sự ưu tiên vẫn được đặt vào việc sử dụng các kênh truyền thống đồng thời với việc tiến hành số hóa.
Tuy nhiên, khách hàng ngày càng ưa chuộng và sử dụng nhiều hơn các kênh phân phối và giao tiếp điện tử. Để đảm bảo sự nhất quán và liên thông về dịch vụ, giai đoạn này yêu cầu việc kết hợp giữa kênh truyền thống và kênh điện tử. Ngân hàng ở cấp độ này thường được gọi là ngân hàng số. Các kênh phổ biến để kết nối với khách hàng bao gồm Internet Banking, Mobile Banking, Contact Center.
- Tự động hóa các quy trình: Bước tiếp theo cần thực hiện là tự động hóa các quy trình phục vụ khách hàng trong lĩnh vực ngân hàng. Đây là quá trình số hóa các quy trình hiện có đang được thực hiện thủ công, đồng thời tạo ra các quy trình mới với thuật toán phức tạp hơn, nhằm kết hợp thông tin từ nhiều bộ phận và khai thác dữ liệu một cách toàn diện và chi tiết hơn. Giai đoạn này có thể triển khai các thành phần có tính độc lập tương đối, sử dụng các phần mềm giải pháp như: CRM (quản lý khách hàng), ECM (quản lý nội dung doanh nghiệp), BPM (hệ thống quản lý quy trình kinh doanh),. Sau đó, các thành phần này được tích hợp thành một hệ thống tổng thể.
Chúng được cấu trúc thành các chức năng cơ bản tạo nên giá trị cốt lõi (Core Banking) và trở thành công cụ chủ yếu trong xử lý các giao dịch với khách hàng trên nền tảng số. - Hỗ trợ ra quyết định: là kết quả trực tiếp của quá trình tự động hóa các quy trình. Đây là giai đoạn khai thác kho dữ liệu thông tin cấu trúc hoặc phi 10 cấu trúc từ bên trong hoặc bên ngoài ngân hàng, kết hợp với trí tuệ doanh nghiệp để đưa ra những lời khuyên hay cảnh báo đến người ra quyết định. Qua đó, ngân hàng có thể đơn giản hóa hoặc loại bỏ các rào cản quyết định để cung cấp sản phẩm phù hợp và nhanh chóng cho khách hàng theo các tiêu chuẩn khác nhau.
- Tạo sản phẩm mới, đa dạng và cá biệt hóa: Sau khi hoàn tất quá trình chuyển đổi số thành công, ngân hàng số có khả năng tạo ra các sản phẩm mới, đa dạng và được cá nhân hóa theo từng nhu cầu của khách hàng. Giai đoạn này sẽ được tối ưu hóa nhờ sử dụng hiệu quả thông tin về khách hàng, thị trường và thông tin của đối thủ cạnh tranh. Các sản phẩm chuẩn hóa ngày càng giảm bớt và được thay thế bằng những sản phẩm linh hoạt hơn, phù hợp với "điểm số" và "hạng" của từng khách hàng. Quá trình phát triển theo bốn cấp độ trong lĩnh vực ngân hàng không nhất thiết phải diễn ra theo tuần tự từ cấp độ thấp đến cao.
Thay vào đó, nó có thể xảy ra đồng thời nếu chiến lược chuyển đổi số được thiết kế đồng bộ và mạch lạc từ đầu. Dưới góc độ công nghệ, quá trình chuyển đổi số không thể thiếu bốn nền tảng chính sau: Big data (dữ liệu lớn), Cloud computing (máy chủ đám mây), Artificial Intelligence (AI-trí tuệ nhân tạo), Internet of Things (IoT-mạng lưới các vật kết nối internet). Sự kết hợp chặt chẽ và hiệu quả của các nền tảng này sẽ giúp ngân hàng tăng cường sự linh hoạt, hiệu suất và khả năng cung cấp các sản phẩm và dịch vụ phù hợp với nhu cầu ngày càng đa dạng của khách hàng. Dịch vụ ngân hàng số 1.
Quan niệm về dịch vụ ngân hàng số Theo Tổ chức thương mại thế giới (WTO) thì: “Một dịch vụ tài chính là bất kỳ dịch vụ nào có tính chất tài chính được một nhà cung cấp dịch vụ tài chính cung cấp. Dịch vụ tài chính bao gồm dịch vụ bảo hiểm và dịch vụ liên quan tới bảo hiểm, mọi dịch vụ tài chính khác (ngoại trừ bảo hiểm). Dịch vụ ngân hàng điên tử (e-banking) được hiểu là các nghiệp vụ, các sản phẩm dịch 11 vụ ngân hàng được phân phối trên các kênh điện tử như Internet, điện thoại, mạng không dây,.Hiểu theo nghĩa trực quan, đó là dịch vụ ngân hàng được khách hàng thực hiện nhưng không phải đến quầy giao dịch. Hiểu theo nghĩa rộng hơn, đây là sự kết hợp giữa một số hoạt động dịch vụ ngân hàng truyền thống với công nghệ thông tin và điện tử viễn thông.” Tại thông tư 35/2016/ TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về quy định an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ ngân hàng trên Internet đưa ra quan niệm về dịch vụ ngân hàng số của NHTM như sau: “ Dịch vụ ngân hàng trên Internet (Internet Banking) là các dịch vụ ngân hàng và dịch vụ trung gian thanh toán được các đơn vị cung cấp thông qua mạng Internet.” Kết hợp các định nghĩa ở trên, ta có thể hiểu dịch vụ ngân hàng số là các dịch vụ ngân hàng cung cấp dược trên nền tảng công nghệ kỹ thuật số giúp ngân hàng tương tác với khách hàng thông qua các kênh khác nhau bằng các giải pháp đổi mới trong quá trình hoạt động, xử lý dữ liệu.
Các loại dịch vụ ngân hàng số - Đăng ký tài khoản. Khách hàng chỉ cần tải ứng dụng về điện thoại hoặc truy cập trang web trên máy tính là đã có thể đăng ký tài khoản cá nhân. Chỉ cần điền các thông tin cơ bản trên ứng dụng yêu cầu và sau vài phút khách hàng đã có ngay cho mình một tài khoản trực tuyến mà không cần đến tận quầy giao dịch trong giờ hành chính. Với ngân hàng số, khách hàng có thể dễ dàng thanh toán các hóa đơn như tiền điện, tiền nước, truyền hình kỹ thuật số, nạp thẻ điện thoại,.
rất nhanh chóng. Khách hàng sử dụng ngân hàng số có thể thực hiện thanh toán một lần hoặc định kỳ. Đồng thời có thể đặt lịch hẹn thanh toán hóa đơn tự động hàng tháng trên ứng dụng di động.