mở đầu của nền công nghiệp 4.0, “đó là sự thay đổi cơ bản trong cách 9 thức chúng ta tạo ra, tiêu thụ và liên đới lẫn nhau, được dẫn dắt bởi sự hội tụ của thế giới vật chất, thế giới số và con người chúng ta”. Các cuộc cách mạng công nghiệp trên thế giới Nguồn: Thuonghieucongluan.0 bắt đầu manh nha hình thành với đặc trưng là ứng dụng công nghệ cao, điện toán hoá ngành sản xuất mà không cần sự tham gia của con người. Không chỉ ứng dụng công nghệ hiện đại mà còn là sự kết hợp trên ba lĩnh vực trụ cột vật lý, kỹ thuật số và sinh học khiến cho cuộc CMCN 4.0 về bản chất khác hoàn toàn với các cuộc cách mạng trước. Những yếu tố cốt lõi của CMCN 4.0 là Trí tuệ nhân tạo và phương pháp phân tích dữ liệu (Artificial Interlligence and Machine Learning); Vạn vật kết nối (Internet of Things); Dữ liệu khổng lồ và điện toán đám mây (Big Data and Cloud computing); Robot; 3D; Công nghệ nano với mục đích biến thế giới thực thành thế giới số.0 đã và đang làm thay đổi một cách sâu sắc mọi mặt của đời sống xã hội và thâm nhập vào từng lĩnh vực của nền kinh tế.
Việc sử dụng tối đa công nghệ vào hoạt động sản xuất kinh doanh sẽ giúp hoạt động của 10 doanh nghiệp trở nên đồng bộ hơn, doanh nghiệp nắm bắt thông tin, số liệu chính xác hơn, hạn chế được nhiều rủi ro, giảm thiểu chi phí, gia tăng lợi nhuận và đơn giản hoá công việc quản lý, đặc biệt là trong những lĩnh vực vận tải, y tế, ngân hàng, bảo hiểm.0 trong lĩnh vực ngân hàng là cuộc cách mạng trên nền tảng tiến bộ khoa học làm thay đổi cấu trúc, phương thức hoạt động và cung cấp nhiều tiện ích dịch vụ hiện đại, hình thành những sản phẩm tài chính mới. Nhờ đó, nó đã đem lại cơ hội lớn cho hệ thống ngân hàng, đồng thời cạnh tranh trở nên quyết liệt hơn, gây ra những rủi ro rất lớn nếu thiếu vắng một môi trường kinh doanh lành mạnh hoặc mắc sai lầm trong chính sách và cơ chế vận hành. Khái niệm Ngân hàng số Dưới tác động từ sự thâm nhập sâu rộng của cuộc CMCN 4.0 cùng sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ và làn sóng số hóa rộng khắp, Ngân hàng số được nhận định sẽ trở thành mô hình hoạt động chủ đạo của các NHTM trên thế giới trong tương lai. Mặc dù khái niệm Ngân hàng số đã xuất hiện từ năm 2012 và nhận được sự quan tâm đông đảo nhưng vẫn còn tương đối mới mẻ, chưa được định nghĩa chính thống trong các giáo trình giảng dạy mà chủ yếu được đề cập trong các sản phẩm khoa học của các nhà nghiên cứu hoặc được xác định dựa trên kết quả triển khai thực tế trên thế giới.
Gaurav Sarma (2017) nhận định, Ngân hàng số là một hình thức số hóa những dịch vụ và hoạt động ngân hàng truyền thống. Nói một cách cụ thể, toàn bộ những gì khách hàng có thể thực hiện ở các chi nhánh ngân hàng thông thường sẽ được số hóa và tích hợp vào một ứng dụng số duy nhất, và thông qua ứng dụng này khách hàng không cần phải trực tiếp đến ngân hàng mà vẫn có thể thực hiện được tất cả các giao dịch, đồng thời các hoạt động khác của ngân hàng như quản lý rủi ro, nguồn vốn, marketing thị trường, quản lý bán hàng. cũng được số hóa. 11 Các nhà nghiên cứu của American Banker2 nhận định Ngân hàng số là loại hình ngân hàng kỹ thuật số đòi hỏi cao về công nghệ bao gồm sự đổi mới trong dịch vụ tài chính cho khách hàng và khách hàng thương mại xung quanh các chiến lược di động, kỹ thuật số, AI, thanh toán, RegTech, dữ liệu, blockchain, API, kênh phân phối và công nghệ.
Theo chuyên gia của United Overseas Bank Singapore, Ngân hàng số là kinh doanh ngân hàng trong thời đại số, tức là kinh doanh dịch vụ trong điều kiện khách hàng sử dụng nhiều thiết bị công nghệ hơn, kết nối Internet nhiều hơn, có nhu cầu kết nối với ngân hàng qua công nghệ số, các phân khúc khách hàng khác nhau có thể lựa chọn các kênh kết nối khác nhau. Tại Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước đưa ra khái niệm “Ngân hàng số là mô hình ngân hàng hoạt động dựa trên nền tảng quy trình công nghệ để cung cấp toàn bộ các dịch vụ cho khách hàng thông qua các thiết bị số kết nối trên môi trường internet, mạng viễn thông di động hoặc chi nhánh tự phục vụ”3. Như vậy, có thể hiểu ngắn gọn “Ngân hàng số là một mô hình kinh doanh mới, một cách tiếp cận mới với những giá trị mới, số hóa những thứ đã có, tất cả những gì người dùng có thể làm ở chi nhánh ngân hàng bình thường, đã được số hóa và tích hợp vào một hệ sinh thái Ngân hàng số trên nền tảng công nghệ số”. Do hình thức vận hành đều dựa trên nền tảng công nghệ và thông qua Internet, Ngân hàng số và Ngân hàng điện tử đôi khi còn bị nhầm lẫn với nhau.
Trong khi NHĐT là hệ thống dịch vụ (bao gồm Internet Banking, SMS Banking, Mobile Banking,…) được tạo ra để bổ sung cho các sản phẩm mang tính truyền thống thì Ngân hàng số là một hình thức ngân hàng hoàn toàn 2 American Banker là một trang báo thương mại hàng ngày về ngành công nghiệp dịch vụ tài chính, được thành lập năm 1836 và có trụ sở tại Mỹ. 3 Quyết định số 488/QĐ-NHNN ngày 27/03/2017 của Thống đốc NHNN v/v ban hành Kế hoạch ứng dụng Công nghệ thông tin của các Tổ chức tín dụng giai đoạn 2017 – 2020 , trang 25. 12 khác, có ảnh hưởng đến toàn bộ cấu trúc hệ thống của một ngân hàng, từ cơ cấu tổ chức đến quy trình làm việc, sản phẩm dịch vụ, vấn đề pháp lý, chứng từ và phương thức giao dịch với khách hàng. Nếu như NHĐT tập trung vào những tính năng chính như thanh toán, chuyển tiền và truy vấn tài khoản thì Ngân hàng số số hóa toàn bộ hoạt động của một ngân hàng đích thực, từ khâu quảng bá tiếp thị đến quá trình đăng ký, sử dụng, hỗ trợ, giải quyết khiếu nại, thắc mắc, mọi hoạt động được người dùng thực hiện online bằng thiết bị di động.
Có thể tổng hợp những điểm khác nhau giữa hai hình thức Ngân hàng số và NHĐT thông qua bảng sau: Bảng 1. Phân biệt Ngân hàng số và Ngân hàng điện tử Chỉ tiêu Ngân hàng số Ngân hàng điện tử Ngân hàng điện tử là hình thức Ngân hàng số là hình thức số ngân hàng trực tuyến (bao gồm Định nghĩa hóa tất cả những hoạt động và Internet Banking, SMS Banking, dịch vụ ngân hàng truyền thống Mobile Banking…) Phương Hoạt động trọn gói trên website Điện thoại, laptop, máy tính bàn tiện hoạt hoặc thiết bị di động có kết nối Internet động - Nạp/rút tiền, chuyển tiền trong - Chuyển tiền trong và ngoài hệ và ngoài hệ thống thống - Thanh toán hóa đơn - Thanh toán hóa đơn - Quản lý tài khoản - Truy vấn tài khoản - Gửi tiết kiệm có kỳ hạn, không - Gửi tiết kiệm có kỳ hạn, không Chức năng kỳ hạn có lãi suất kỳ hạn có lãi suất - Vay ngân hàng - Các dịch vụ tiện ích khác (quản lý tài chính cá nhân và doanh nghiệp, các sản phẩm tài chính bảo hiểm, đầu tư,.) Nguồn: Tổng hợp của tác giả 13 1. Mô hình Ngân hàng số Sự phát triển Ngân hàng số của mỗi ngân hàng là khác nhau, phụ thuộc chủ yếu vào định hướng kinh doanh của ngân hàng đó. Việc xác định mô hình Ngân hàng số tương thích với nguồn lực hiện có và sự sẵn sàng số hóa các hoạt động cốt lõi là nhân tố mang tính quyết định sự thành công của Ngân hàng số.
Căn cứ vào mức độ chuyển đổi từ ngân hàng truyền thống, có thể phân chia Ngân hàng số theo bốn mô hình cơ bản. Các mô hình Ngân hàng số trên thế giới Nguồn: IBM November 2015 The Financial Brand Mô hình thứ nhất: Thương hiệu Ngân hàng số Các ngân hàng truyền thống lâu đời với đầy đủ các dịch vụ ngân hàng thông thường luôn cố gắng thu hút các khách hàng trẻ, những người thuộc thế hệ NextGen mong muốn một thương hiệu ngân hàng kĩ thuật số đáp ứng những nhu cầu độc đáo của họ. Để tránh việc ảnh hưởng đến các khách hàng hiện hữu được phát triển qua bề dày truyền thống lâu đời, các ngân hàng này 14 lựa chọn thiết lập một thương hiệu mới với các sản phẩm được thiết kế dành riêng cho phân khúc khách hàng trẻ. Các thương hiệu này vẫn luôn gắn kết với ngân hàng mẹ thông qua việc tận dụng các nguồn lực như cơ sở hạ tầng, kênh phân phối… Ví dụ điển hình về mô hình này là FRANK của OCBC (Singapore) và LKXA của CaixaBank (Tây Ban Nha).
Mô hình thứ hai: Kênh Ngân hàng số Các ngân hàng định hướng phát triển theo mô hình này xây dựng Ngân hàng số như một kênh cung cấp dịch vụ bên cạnh các kênh truyền thống như chi nhánh/PGD, ngân hàng đại lý và tập trung vào việc cải thiện trải nghiệm của khách hàng. Về cơ bản, mô hình này vẫn sử dụng cơ sở hạ tầng và giấy phép hoạt động của ngân hàng truyền thống, từ đó mở rộng các dịch vụ với giao diện người dùng nâng cao và tiên tiến hơn nhiều so với các sản phẩm đang có. Ví dụ như Simple và Moven tại Mỹ. Mô hình thứ ba: Ngân hàng số là công ty con Mô hình này kết hợp phát triển trải nghiệm người dùng kỹ thuật số khác biệt với mô hình kinh doanh từ đầu đến cuối toàn diện.
Các ngân hàng lớn nhận thấy rằng các hệ thống hỗ trợ hiện tại quá cứng nhắc, cồng kềnh và không thể dễ dàng chuyển đổi để cung cấp nguồn lực cho Ngân hàng số. Do đó họ quyết định thành lập một tổ chức hoàn toàn riêng biệt với ngân hàng mẹ dưới hình thức công ty con trực thuộc, với hệ thống kinh doanh khép kín hiện đại và linh hoạt nhằm cung cấp cho người dùng những trải nghiệm tốt hơn. Tiêu biểu cho mô hình này là Hello Bank của BNP Paribas (Pháp). Mô hình thứ tư: Ngân hàng số thuần túy Các ngân hàng có định hướng theo mô hình này sẽ tập trung toàn bộ nguồn lực xây dựng các SPDV dựa trên nền tảng công nghệ kỹ thuật số.
Ngân hàng số thuần túy không nhất thiết phải hoạt động hoàn toàn theo hướng ngân 15 hàng không chi nhánh. Tuy nhiên, khách hàng dự kiến sẽ tương tác và sử dụng dịch vụ chủ yếu thông qua các kênh Ngân hàng số. Ví dụ về mô hình này là Fidor Bank (Đức) và Tangerine (Canada).