CHƯƠNG 1 TỎNG QUAN VÈ PHÁT TRIỂN DỊCH v ụ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tống quan về ngân hàng thưong mại 1. Khái niệm ngân hàng thương mại. Trong các loại hình ngân hàng thì ngân hàng thương mại là loại hình xuất hiện đầu tiên và phổ biến nhất hiện nay.
Tuy nhiên, ở mối quốc gia lại có một cách định nghĩa khác nhau về loại hình này. Tại Mỹ: Ngân hàng thương mại là một công ty kinh doanh chuyên cung cấp các dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành dịch vụ tài chính. Ở Pháp: Ngân hàng thương mại là những xí nghiệp hay cơ sở nào thường xuyên nhận tiền của công chúng dưới hình thức kí thác hay hình thức khác các khoản tiền mà họ dùng cho chính họ vào nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng hay dịch vụ tài chính. Ở Ấn Đô: Ngân hàng thương mại là cơ sở nhận các khoản kí thác để cho vay hay tài trợ và đầu tư.
Tại Việt Nam, theo luật các tổ chức tín dụng ban hành ngày 29 tháng 06 năm 2010 thì: Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận.Trong đó, hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây: nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản. Từ những định nghĩa trên có thể rút ra điểm chung nhất về khái niệm ngân hàng thương mại đó là: ngân hàng thương mại là tổ chức nhận tiền gửi đóng vai trò là trung gian tài chính huy động tiên nhàn rỗi thông qua các dịch vụ nhận tiền gửi rồi cung cấp cho những chủ thể cần vốn. Vai trò của ngân hàng thương mại. Vai trò tập trung vốn cho nền kinh tế Tập trung vốn cho nền kinh tế được xem là chức năng quan trọng nhất của ngân hàng thương mại.
Khi thực hiện chức năng này, ngân hàng thương mại đóng vai trò trung gian giữa người thừa vốn và người có nhu cầu về vổn.Ngân hàng sẽ nhận tiền gửi từ người thừa vốn và cho người thiếu vốn vay. Việc làm này đem lại lợi ích cho tất cả các bên tham gia. Đối với người thừa vốn, họ không muốn để tiền ở nhà vì có thể xảy ra rủi ro mất cắp lại không sinh lời, nhưng nếu cho người khác vay thì lại không tin tưởng. Vì vậy một lựa chọn tối ưu là gửi tiền tại ngân hàng, họ có thể hoàn toàn an tâm về sổ tiền của mình và còn được hưởng thêm một khoản lãi nhất định.
Đối với người thiếu vốn, họ sẽ được thỏa mãn về nhu cầu vốn kinh doanh của mình một cách chắc chắn, hợp pháp mà không mất chi phí nhiều về thời gian, sức lực cho việc tìm kiếm những nguồn cung ứng vốn riêng lẻ. Ngân hàng thì được hưởng phần chênh lệch giữa lãi suất thu được khi cho người thiếu vổn vay với lãi suất phải trả khi nhận tiền gửi của người thừa vốn. Vai trò trung gian này trở nên phong phú hơn với việc phát hành thêm cổ phiếu, trái phiếu,. ngân hàng thương mại có thể làm trung gian giữa công ty và các nhà đầu tư; chuyển giao mệnh lệnh trên thị trường chứng khoán; đảm nhận việc mua trái phiếu công ty.
Đối với nền kinh tế, chức năng này góp phần to lớn trong việc điều chuyển vốn từ nơi thừa sang nơi thiếu, đảm bảo tính hiệu quả của đồng tiền trong quá trình sản xuất kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng kinh tể và phát triển xã hội. Trung gian thanh toán Các ngân hàng thương mại làm trung gian thanh toán giữa người mua và người bán hàng hóa, dịch vụ. Theo yêu cầu của khách hàng, ngân hàng trích tiền từ tài khoản tiền gửi của họ để thanh toán hoặc nhập vào tài khoản tiền gửi của 6 khách hàng tiền thu bán hàng và các khoản thu khác theo lệnh của họ. Các ngân hàng thưong mại cung cấp cho khách hàng nhiều phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt tiện lợi như séc, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, thẻ rút tiền, thẻ thanh toan, thẻ tín dụng— nhờ đó mà các chủ thê kinh tê không phải lưu giữ tiền mặt không phải chuyển tiền tận tay, tránh được các rủi ro, tiết kiệm thời gian, sức lực và tiền bạc.
Chức năng này vô hình chung đã thúc đẩy lưu thông hàng hóa đẩy nhanh toc đọ thanh toán, tôc độ lưu chuyên vôn và từ đó góp phần phát triển kinh tế. Chức năng tạo tiền Căn cứ vào tính vật chât của tiên tệ thì có thể chia hình thái tiền tệ thành hai loại: Tiền mặt và bút tệ. Tiền mặt là tiền vật chất được quy định cụ thể về hình dáng, kích thước trọng lượng, màu sắc.Loại tiền này thì chỉ có ngân hàng trung ương ( Ở Việt Nam là ngân hàng Nhà Nước) là cơ quan độc quyền phát hành tiền bao gồm tiền giấy và tiền kim loại. Bút tệ hay còn gọi là tiền ghi sổ là tiền phi vật chất tồn tại dưới hình thức những con số ghi trên tài khoản tại ngân hàng.
Việc sử dụng tiền ghi sổ được thực hiện bằng các bút toán ghi nợ, có trên các tài khoản tiền gửi tại ngân hàng. Chức năng tạo tiền của ngân hàng được thực hiện thông qua bút tệ trên cơ sơ thực thi hai chưc năng khác là chức năng tín dụng và chức năng thanh toán Ngân hàng sử dụng sổ vốn huy động được để cho vay, số tiền cho vay ra lại được khách hàng sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ trong khi số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng vẫn được coi là một bộ phận của tiên giao dịch. Với chức năng này, hệ thống ngân hàng thương mại đã làm tăng tổng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu thanh toán chi trả của xã hội. Tông quan vê dịch vụ ngân hàng 1.
Khái niệm về dịch vụ và dịch vụ ngân hàng thương mại Cho tới nay, khái niệm về dịch vụ còn là vấn đề gây nhiều tranh cãi chưa thống nhất. Theo Philip Kotler thì dịch vụ là mọi hành động và kết quả mà một bên có thê cung câp cho bên kia, chủ yêu là vô hình và không dẫn đến quyền sở hữu cái gì đó. Sản phẩm của nó có thể có hay không gắn liền với sản phẩm vật chất. Bản thân ngân hàng là một dạng doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ tiền tệ, thu phí của khách hàng, được xét thuộc nhóm ngành dịch vụ.
Hoạt động ngân hàng không trực tiêp tạo ra sản phâm cụ thê nhưng với việc đáp ứng các nhu cầu của dịch vụ về tiền tệ, về vốn, về thanh toán. cho khách hàng ngân hàng đã gián tiếp tạo ra các sản phẩm dịch vụ trong nền kinh tế. o nuoc ta, đên nay chưa có sự minh định rỗ ràng vê khái niệm dịch vụ ngân hàng. Có quan niệm cho rằng dịch vụ ngân hàng không thuộc phạm vi kinh doanh tiền tệ và các hoạt động nghiệp vụ theo chức năng của một trung gian tài chính ( cho vay, huy động tiền gửi), chỉ những hoạt động không thuộc nội dung trên mới gọi là dịch vụ ngân hàng.
Quan điểm khác thì cho rằng tất cả các hoạt động nghiệp vụ của một ngân hang thưcmg mại đêu được coi là hoạt động dịch vụ. Quan điểm này phù hợp với thông lệ quốc tế, phù họp với cách phân loại các phân ngành dịch vụ trong dự thảo hiệp định WTO mà Việt Nam cam kết, đàm phán trong quá trình hội nhập. Theo đó, dịch vụ ngân hàng bao gồm những hoạt động sau: a. Nhận tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm và các loại tiền gửi khác.
Phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu, trái phiếu để huy động vốn trong nước và nước ngoài. Mở tài khoản thanh toán cho khách hàng. Cung ứng các phương tiện thanh toán. Cung ứng các dịch vụ thanh toán.
Đặc diêm của dịch vụ ngân hàng thương mại 1. Dịch vụ ngân hàng có tính vô hình Dịch vụ ngân hàng không tồn tại dưới dạng vật thể do đó không thể nhìn thấy, không thể thử trước khi tiêu thụ mà chỉ có thể cảm nhận được lợi ích thực sự của nó khi sử dụng. Chính điều này làm cho khách hàng không thể biết được dịch vụ có tốt hay không cho đến khi thực sự sử dụng nó. Vì vậy, khách hàng thường rất cẩn thận khi lựa chọn dịch vụ, họ sẽ tìm hiểu đầy đủ các thông tin về những gì họ sẽ có trong toàn bộ các giai đoạn của quá trình mua và sử dụng sản phẩm.
Một điều khác, vì dịch vụ ngân hàng có đặc điểm không hiện hữu nên thường rất dễ bắt chước, chỉ cần sử dụng một lần là đối thủ có thể làm theo một cách dễ dàng, dẫn đến tình trạnh cạnh tranh ngày càng diễn ra gay gắt trong hệ thống các ngân hàng thương mại. Dịch vụ ngân hàng có tính không ổn định về chất lượng Do dịch vụ ngân hàng được thực hiện bởi những người cung cấp khác nhau, ở những thời gian và địa điểm khác nhau và có cả sự can thiệp của khách hàng trong quá trình tạo ra dịch vụ đã tạo ra tính không ổn định về chất lượng của dịch vụ. Mỗi một khách hàng khác nhau lại có tiêu chuẩn riêng về một dịch vụ hoàn hảo khác nhau, có thể một dịch vụ là tốt với khách hàng này nhưng lại không nhận được sự khen ngợi từ khách hàng khác. Vì vậy, để có một dịch vụ tốt thì ngoài những yếu tố cố định thì cần phải có những yếu tố chuyên biệt dành cho từng nhóm khách hàng nhất định.
Dịch vụ ngân hàng có đặc tính không tách rời giữa quá trình tiêu dùng với quá trình sản xuất và cung ứng dịch vụ. Việc tiêu dùng dịch vụ ngân hàng găn liên với quá trình sản xuất và cung ứng dịch vụ có sự thạm gia trực tiếp của khách hàng ở bất cứ thời điểm nào khi khách hàng cần tới. Dịch vụ ngân hàng là nhũng sản phẩm không lun trữ được Trong hầu hết các ngành sản xuất thì sản phẩm được bao gói và chuyên chở qua các khâu trung gian, các đại lý, đến những người bán buôn, các cửa hàng bán lẻ rồi đến tay người tiêu dùng cuối cùng, Trong quá trình đó sản phẩm được lưu trữ, bảo quản theo quy trình nhất định. Nhưng đối với sản phẩm dịch vụ ngân hàng thì vì nó không có hình dạng vật chất nên cũng không thể sản xuất hang loạt roi lưu trừ được.
Vì vậy, sản phâm dịch vụ ngân hàng cần phải được cung ứng một các nhanh chóng, kịp thời đến khách hàng.